Tạp Chí GS Dỏm Việt Nam

Journal of Incompetent Professors in Vietnam – JIPV

GS dỏm cấp 1 Đặng Thị Thu – ĐHBK Hà Nội – “GS.TS” – Phó Viện Trưởng – UVHĐHH ngành Sinh học

Posted by giaosudom trên Tháng Tám 5, 2010

* Danh dỏm: GS.TS

* Công bố ISI: 1

* Danh thật: GS dỏm cấp 1

* Submitted by Editor inhainha

* Recommended by 3rd Managing Editor

********************************************************************************************************
Bài gởi của Editors: Đính kèm phía dưới.

JIPV@: Ứng viên đã được JIPV mời tham gia public review.

********************************************************************************************************

Hội Đồng Biên Tập Tạp Chí Giáo Sư Dỏm Việt Nam đã thông qua

General Editor-in-Chief, Editors-in-Chief, Managing Editors, Editors

********************************************************************************************************

 

Thông tin về Tạp Chí Giáo Sư Dỏm Việt Nam- Journal of Incompetent Professors in Vietnam – JIPV:

https://giaosudom.wordpress.com/category/volume-1/

https://giaosudom.wordpress.com/category/volume-2/

********************************************************************************************************

Bài gửi của Editor và the Board’s reviewing process:
********************************************************************************************************

inhainha says:

– Tên đầy đủ: Đặng Thị Thu, Uỷ viên.

– Chuyên môn:

– Chức danh:GS.TS.

– Công bố ISI (số lượng, tên bài, thời gian thống kê):
ISI = 1
Title: Cloning, expression in Pichia pastoris, and characterization of a thermostable GH5 mannan endo-1,4-beta-mannosidase from Aspergillus niger BK01
Author(s): Do BC, Dang TT, Berrin JG, et al.
Source: MICROBIAL CELL FACTORIES Volume: 8 Article Number: 59 Published: NOV 13 2009
Times Cited: 1

– Thông tin liên quan đến Tiêu chuẩn 1.1 và 1.2.:

– Chức vụ (quá khứ và hiện tại):nguyên phó viện trưởng Viện CNSH-CNTP Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

– Các mối quan hệ với những GS, PGS dỏm, kém, yếu đã được công bố:

– Ủy viên Hội đồng học hàm (?): ủy viên hội đồng học hàm ngành Sinh học

– Các danh hiệu, giải thưởng, vinh danh:

– Các thông tin liên quan (website, links của các bài báo ca tụng hoặc các tự ngôn, hình ảnh, đề tài dỏm, học trò dỏm,…):
ibft.hut.edu.vn/dv02-danh-muc-can-bo/-/asset_publisher/5t…

– Email liên hệ (cá nhân, tổ chức liên quan, càng nhiều càng khách quan):dangthudkbk@yahoo.com dobiencuong-ibft@mail.hut.edu.vn biofotech@mail.hut.edu.vn
@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@

ME3@: ISI = 1, not top, not MA, accept. A good job done.

Cloning, expression in Pichia pastoris, and characterization of a thermostable GH5 mannan endo-1,4-beta-mannosidase from Aspergillus niger BK01

View full text from the publisher ulrichsweb.com (TM) from R.R. Bowker
more options
Author(s): Do BC (Do Bien-Cuong)2, Dang TT (Dang Thi-Thu)2, Berrin JG (Berrin, Jean-Guy)3, Haltrich D (Haltrich, Dietmar)4, To KA (To Kim-Anh)2, Sigoillot JC (Sigoillot, Jean-Claude)3,5, Yamabhai M (Yamabhai, Montarop)1
Source: MICROBIAL CELL FACTORIES Volume: 8 Article Number: 59 Published: NOV 13 2009
Times Cited: 1 References: 41 Citation MapCitation Map
Abstract: Background: Mannans are key components of lignocellulose present in the hemicellulosic fraction of plant primary cell walls. Mannan endo-1,4-beta-mannosidases (1,4-beta-D-mannanases) catalyze the random hydrolysis of beta-1,4-mannosidic linkages in the main chain of beta-mannans. Biodegradation of beta-mannans by the action of thermostable mannan endo-1,4-beta-mannosidase offers significant technical advantages in biotechnological industrial applications, i.e. delignification of kraft pulps or the pretreatment of lignocellulosic biomass rich in mannan for the production of second generation biofuels, as well as for applications in oil and gas well stimulation, extraction of vegetable oils and coffee beans, and the production of value-added products such as prebiotic manno-oligosaccharides (MOS).

Results: A gene encoding mannan endo-1,4-beta-mannosidase or 1,4-beta-D-mannan mannanohydrolase (E.C. 3.2.1.78), commonly termed beta-mannanase, from Aspergillus niger BK01, which belongs to glycosyl hydrolase family 5 (GH5), was cloned and successfully expressed heterologously (up to 243 mu g of active recombinant protein per mL) in Pichia pastoris. The enzyme was secreted by P. pastoris and could be collected from the culture supernatant. The purified enzyme appeared glycosylated as a single band on SDS-PAGE with a molecular mass of approximately 53 kDa. The recombinant beta-mannanase is highly thermostable with a half-life time of approximately 56 h at 70 degrees C and pH 4.0. The optimal temperature (10-min assay) and pH value for activity are 80 degrees C and pH 4.5, respectively. The enzyme is not only active towards structurally different mannans but also exhibits low activity towards birchwood xylan. Apparent K-m values of the enzyme for konjac glucomannan (low viscosity), locust bean gum galactomannan, carob galactomannan (low viscosity), and 1,4-beta-D-mannan (from carob) are 0.6 mg mL(-1), 2.0 mg mL(-1), 2.2 mg mL(-1) and 1.5 mg mL(-1), respectively, while the k(cat) values for these substrates are 215 s(-1), 330 s(-1), 292 s(-1) and 148 s(-1), respectively. Judged from the specificity constants k(cat)/K-m, glucomannan is the preferred substrate of the A. niger beta-mannanase. Analysis by thin layer chromatography showed that the main product from enzymatic hydrolysis of locust bean gum is mannobiose, with only low amounts of mannotriose and higher manno-oligosaccharides formed.

Conclusion: This study is the first report on the cloning and expression of a thermostable mannan endo-1,4-beta-mannosidase from A. niger in Pichia pastoris. The efficient expression and ease of purification will significantly decrease the production costs of this enzyme. Taking advantage of its acidic pH optimum and high thermostability, this recombinant beta-mannanase will be valuable in various biotechnological applications.
Document Type: Article
Language: English
KeyWords Plus: REESEI BETA-MANNANASE; HYDROLASE FAMILY 5; BACILLUS-STEAROTHERMOPHILUS; SACCHAROMYCES-CEREVISIAE; 3-DIMENSIONAL STRUCTURE; ALPHA-GALACTOSIDASE; RECOMBINANT ENZYME; ESCHERICHIA-COLI; GENE CLONING; PURIFICATION
Reprint Address: Yamabhai, M (reprint author), Suranaree Univ Technol, Sch Biotechnol, Inst Agr Technol, 111 Univ Ave, Nakhon Ratchasima 30000, Thailand
Addresses:
1. Suranaree Univ Technol, Sch Biotechnol, Inst Agr Technol, Nakhon Ratchasima 30000, Thailand
2. Hanoi Univ Technol, Inst Biol & Food Technol, Hanoi, Vietnam
3. ESIL, Biotechnol Champignons Filamenteux UMR1163, INRA, F-13288 Marseille 09, France
4. Univ Nat Resources & Appl Life Sci, BOKU, Vienna, Austria
5. Univ Aix Marseille 1, Biotechnol Champignons Filamenteux UMR1163, ESIL, F-13288 Marseille 09, France
E-mail Addresses: dobiencuong-ibft@mail.hut.edu.vn, dangthudhbk@yahoo.com, jean-guy.berrin@univmed.fr, dietmar.haltrich@boku.ac.at, tokimanh@mail.hut.edu.vn, jean-claude.sigoillot@esil.univmed.fr, montarop@sut.ac.th
Funding Acknowledgement:
Funding Agency Grant Number
National Research Council of Thailand (NRCT)
Faculty and Student Exchange Program between Thailand and Neighbour Countries 2007 (Hanoi University of Technology)
T2008-219
Regional Center of Excellence Project (PER) (Agency for French Speaking Universities)
ASEAN University Network Program (AUNP)
[Show funding text]

This work was supported by the National Research Council of Thailand (NRCT), Faculty and Student Exchange Program between Thailand and Neighbour Countries 2007, T2008-219 project (Hanoi University of Technology), Regional Center of Excellence Project (PER) (Agency for French Speaking Universities) and the ASEAN University Network Program (AUNP). The authors would like to thank Prof. Truong Nam Hai and Dr. Do Thi Huyen (Vietnam Academy of Science and Technology) for valuable advices on the expression studies; MSc. V. T. K. Thoa for technical assistance; and MY lab members for their friendship and technical advices.
Publisher: BIOMED CENTRAL LTD, 236 GRAYS INN RD, FLOOR 6, LONDON WC1X 8HL, ENGLAND
Subject Category: Biotechnology & Applied Microbiology
IDS Number: 526HV
ISSN: 1475-2859
DOI: 10.1186/1475-2859-8-59

Advertisements

9 phản hồi to “GS dỏm cấp 1 Đặng Thị Thu – ĐHBK Hà Nội – “GS.TS” – Phó Viện Trưởng – UVHĐHH ngành Sinh học”

  1. Quan said

    Có một bài ISI nhưng không là MA hay CA thì chưa nói lên điều gì. GS thế đó sao?

  2. Phuong Anh said

    Gui inhanha,

    Có nhầm lẫn trong thông tin bạn đăng tải đấy! Vì thế làm cho tôi thấy thông tin của bạn đã publish còn chưa được search kỹ càng, toàn diện, và chính xác.
    Mỗi quốc gia có một bộ tiêu chuẩn để đánh giá, ghi danh những nhà khoa học của mình cho phù hợp. Đánh giá theo tiêu chuẩn ngoài là quan trọng song không phải là để phủ nhận những cố gắng của các nhà khoa học, giảng viên trong nước. Hơi chủ quan, song tôi cho rằng phần nhiều các bạn dành thời gian để kiểm tra dữ liệu, CV của các GS,PGS còn chưa thực sự va vấp với thực tiễn nghiên cứu và đào tạo trong nước. Đơn cử để minh chứng. Muốn publish một bài báo tốt trên tạp chí có uy tín, bên cạnh trình độ chất xám, cần có kinh phí đầu tư nghiên cứu, và cần có kinh phí để công bố bài báo (với tạp chí Microbial Cell Fact. cũng phải cỡ 1600 USD, một bài báo trên tạp chí được Hội đồng GS Việt Nam công nhận cũng phải mất 500 ngàn VND). Với mức bồi dưỡng cho một GS tại trường ĐH khoảng 40000 VND/giờ dạy cho SV ĐH, 70000VND/giờ dạy sau đại học, tổng thu nhập không quá 8 triệu VND (với điều kiện phải hoàn thành ít nhất 400 giờ dạy một năm), không được nhà trường, đề tài hỗ trợ kinh phí công bố bài báo thật khó có GS nghèo nào có khả năng publish. Vì vậy, đánh giá qua chỉ số ISI các bạn sử dụng cũng chỉ là một trong những tiêu chí cần nhưng chưa đủ.
    Danh hiệu GS đúng nghĩa được dành cho những người tham gia đào tạo Đại học và Sau đại học. Chỉ đánh giá qua ISI sẽ khá thiệt thòi cho những GSdành nhiều công sức đào tạo học trò. Công sức giảng dạy và đào tạo, chắp cánh cho thế hệ sau phát triển, của lớp tiến bối cần được ghi nhận. Vì vậy, bên cạnh dựa vào chỉ số ISI, blog cũng nên tham chiếu thực tiễn trong nước và công bố cả những tiêu chuẩn của Hội đồng Giáo sư Nhà nước, nơi công nhận và vinh danh các nhà khoa học tiền bối trên!

    • giaosudom said

      Gửi bác Phuong Anh!

      JIPV cảm ơn bác đã gửi ý kiến đến Editor inhainha. Tuy nhiên, JIPV đã nhận đăng bài của Editor inhainha nên cũng có trách nhiệm giải trình Độc giả.

      Về những vấn đề bác nêu, JIPV đã nói nhiều lần. Bác vui lòng đọc thêm trong JIPV. Nhận xét chung: bác còn thiếu thông tin. Tuy nhiên JIPV sẽ trích phản biện của bác và trả lời chung trong Viện thông tin. Xin bác vui lòng theo dõi.

      Những chi tiết quan trọng mà JIPV lưu ý bác:

      * JIPV không dùng tiên chuẩn quốc tế để xét dỏm, JIPV chỉ xét trình độ “có thể làm khoa học nghiêm túc” của GS, PGS. Lấy 1/10 chuẩn quốc tế để áp dụng cho VN thì không biết bao nhiều GS, PGS của ta đủ chuẩn, nói gì tiêu chuẩn quốc tế. JIPV mong bác tìm hiểu vấn đề cẩn thận hơn.

      * Ngoài những tạp chí thu tiền khi đăng bài thì có hàng ngàn tạp chí free, ví dụ như tạp chí của Elsevier và Springer.

      * Khó khăn lương bổng thì bác vui lòng xem thông tin ở Viện vinh danh Nhà khoa học. https://giaosudom.wordpress.com/vi%E1%BB%87n-vinh-danh-nha-khoa-h%E1%BB%8Dc/

      * Đào tạo học trò nên không nghiên cứu: bác hiểu vấn đề không đúng. Chất lượng học trò quan trọng hơn số lượng có bằng cấp. Để có chất lượng thì người đạo tạo phải có khả năng làm khoa học nghiêm túc.

      Đôi dòng với bác. JIPV chưa phân tích hết những ý bác nêu.

      Chúc bác vui,

      JIPV

      Ps: Bác chịu khó đọc thêm thông tin nhiều nơi trong JIPV. Hy vọng bác sẽ có cái nhìn rõ ràng hơn.

  3. Kim To said

    Giáo sư suy nghĩ như thế nào về thực trạng khoa học của đất nước hiện nay, trên cơ sở những gì mà giáo sư thu lượm được?

    Về vật lý ( và trong một chừng mực nào về toán ), hai ngành mà tôi tương đối được nhiều thông tin, xin có vài nhận xét như sau :

    1. Trình độ đội ngũ thầy giảng dạy ở hai trường Đại học Quốc gia không được đồng đều, nhiều tri thức không được cập nhật. Có lẽ trong quá khứ có nhiều bất cập trong sự đào tạo đội ngũ trên, một số anh chị em giảng viên không có điều kiện theo rõi sự bíến chuyển trong ngành, không đủ vốn ngoại ngữ để học hỏi thêm qua sách báo ngoại quốc tiên tiến. Sách giáo khoa và tạp chí quốc tế đã hạn chế, lại ít được tham khảo. Lương thiếu thốn, cơ chế quản lý dựa trên thâm niên không khuyến khích người trẻ năng động, anh chị em phải dạy nhiều giờ hơn các đồng nghiệp ngoại quốc. Thí dụ ở Pháp, giáo sư (professeur) dạy có khoảng 130 giờ/năm học, giảng sư (maitre de conférences) khoảng 190 giờ/năm học, nhiệm vụ quan trọng nhất của họ là dành thời gian để nghiên cứu khoa học. Chất lượng của nghiên cứu được đánh giá khách quan qua công trình được trích dẫn nhiều lần, được nhận đăng trên các tạp chí uy tín quốc tế có impact factor cao, có hệ thống bình duyệt nghiêm túc, khắt khe hai ba lần phản biện. Chính vì thế mà giảng viên đại học ở Pháp được gọi là nhà giảng dạy-nghiên cứu (enseignant-chercheur). Tuy vậy tôi ngạc nhiên và khâm phục một số anh chị em trong nước đã có những cố gắng rất lớn để đạt được trình độ cao tiêu chuẩn quốc tế, chẳng thua kém ai.

    2. Vấn đề chính theo tôi hiểu là sự nghiệp nghiên cứu khoa học chưa được đặt đúng mức ở các trường đại học nước ta. Có nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo, học hỏi không ngừng trong lãnh vực chuyên môn biến chuyển nhanh chóng, thì mới có trình độ cao để giảng dạy tốt và đào tạo bài bản những tinh hoa sau này cho xứ sở.

    3. Sự liên kết giữa Viện Nghiên cứu Khoa học và Công nghệ Quốc gia (VAST) với các đại học hãy còn thưa thớt cục bộ, trong khi ở các nước tiên tiến đó là chuyện thường xuyên mật thiết. Ngay cả ở VAST, trình độ chuyên môn của các nghiên cứu viên cũng không đồng đều, cơ chế thâm niên dễ làm nản lòng những tài năng trẻ. Thống kê và những bài viết tâm huyết của GS Phạm Duy Hiển (Bằng chứng và lý giải, nxb Trẻ & Tia sáng, 2007) cho ta thấy thực trạng của các công trình khoa học được nhận đăng trên các tạp chí quốc tế quá ư ít ỏi.

    4. Tiềm năng nhân lực của nền khoa học nước ta rất lớn, nhưng chưa được khai thác đúng mức, có lẽ vì cơ chế và quản lý xơ cứng. Nhiều người xuất sắc, tâm huyết, nghiêm túc không được đối xử xứng đáng và tận dụng. Cũng những con người như thế nếu ở trong môi trường thuận lợi của các nước khoa học công nghệ tân tiến, họ rất có thể phát huy được hết tài năng và nắm giữ được những vị trí tốt ở những cơ quan nghiên cứu và giảng dạy đại học tầm cỡ cao quốc tế.

    Trong chuyến thăm Mỹ của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân có phát biểu: đến 2020 Việt Nam sẽ xây dựng được một trường đại học lọt vào top 200 trường đại học thế giới. Theo ý kiến cá nhân của giáo sư, để đạt được mục tiêu trên chúng ta phải làm gì ?

    Chưa có sự đồng thuận về các tiêu chí phổ quát để xếp hạng các đại học trên thế giới, vậy tôi hiểu câu hỏi về xây dựng được một đại học lọt vào top 200 là theo tiêu chí của trường Đại học Giao thông Thượng Hải. Tưởng không cần nhắc lại đây, đã có những bài viết và đề xướng tâm huyết của nhiều người ở trong và ngoài nước (trên báo chí và mạng internet) để cải tiến và nâng cấp chất lượng đại học nước ta cho trước hết đạt tới trình độ các nước trong vùng (Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore,Thái Lan), rồi dần dần đến tầm cỡ cao quốc tế. Chỉ xin nhắc lại vài ý kiến cá nhân đã viết trên mạng:

    1. Sự quyết tâm của những người trách nhiệm chính trị để đổi mới tư duy và cơ chế của nền đại học, bất chấp cản trở tinh vi của những quyền lực bảo thủ ở khâu quản lý.

    2. Đào tạo một đội ngũ mới giảng dạy đại học chất lượng cao bằng cách chọn lọc công bằng, trong sáng những ứng viên cử nhân ưu tú, giỏi ngoại ngữ để gửi đến các nước khoa học tiền tiến soạn bằng cấp tiến sĩ và trưởng thành sau hai, ba năm hậu tiến sĩ (postdoc). Thời gian đào tạo này phải ít nhất năm, bảy năm. Có bằng tiến sĩ trình độ quốc tế chỉ là điều kiện cần nhưng chưa đủ, phải phấn đấu vượt lên nữa để đạt tới mức sáng tạo độc lập, chín chắn, cạnh tranh nổi với đồng nghiệp năm châu. Sau đó chọn lọc trong những tiến sĩ tiền phong ấy – những người sau vài năm postdoc đã thành công lấy được một chỗ đứng dưới bóng mặt trời ở ngoại quốc – bảo đảm cho họ khi về nước có điều kiện và cơ chế hợp tình hợp lý để góp phần đắc lực xây dựng một đại học hoa tiêu, trong đó thành tích nghiên cứu qua các công trình được nhận đăng trên các tạp chí khoa học uy tín hàng đầu quốc tế có impact factor cao (và được trích dẫn nhiều) đóng vai trò tiên quyết.

    3. Xây dựng một cơ chế để mời đón (hay tranh thủ sự hợp tác lâu dài) những chuyên gia cao cấp người Việt ở nước ngoài đang nắm giữ những vị trí cao trong những cơ quan nghiên cứu và đại học các nước tiên tiến. Đội ngũ các thầy giảng dạy-nghiên cứu của trường này chủ yếu đến từ hai thành phần (2) và (3), bổ sung thêm bởi những nhà nghiên cứu hàng đầu (có nhiều công trình xuất sắc đăng trên các tạp chí quốc tế) của Viện Khoa học và Công nghệ Quốc gia. Họ sẽ là động cơ cho sự cải thiện chất lượng mang tính nhảy vọt cho nền đại học nước nhà đang có nguy cơ tụt hậu.

    4. Sự tự chủ về quản lý, ngân quỹ và không gian học tập nghiên cứu của trường đại học hoa tiêu ấy phải được bảo đảm. Giao khoán cho trường sứ mạng cao cả ấy để xứng đáng với sinh viên ta vốn hiếu học, cầu tiến, và trường phải chịu trách nhiệm với nhà nước trong một hạn kỳ nhất định. Thời gian 13 năm đặt ra trong câu hỏi 2 có thực tế không, chẳng ai biết rõ, nhưng xây dựng một trường hoa tiêu mới có lẽ dễ thực thi hơn là chắp vá những cái cũ với tất cả nhiêu khê. Quan trọng không kém là biết người biết mình, biết hạn chế trong một số bộ môn học tập-nghiên cứu sao cho tương ứng với nội lực, hoà hợp với chương trình phát triển chung của nền kinh tế và đại học nước nhà. Cần khuyến khích sự thi đua lành mạnh – trong một khung pháp lý công bằng, nghiêm túc, đồng thuận – giữa trường này với những trường công hay tư lập đã có hay đang thành lập.

    Vừa rồi Bộ KHCN có bàn về vấn đề nghiệm thu các đề tài khoa học và có nhiều ý kiến khác nhau. GS Hoàng Tụy cho rằng đã nghiên cứu khoa học cơ bản thì phải có công bố quốc tế. Nhưng cũng có nhiều ý kiến khác lại nói trong hoàn cảnh hiện tại ở Việt Nam chưa thể làm như thế được. Ý kiến nào giáo sư cho là đúng?

    Tôi hoàn toàn đồng ý với GS Hoàng Tụy.

    Đối với những ngành mà hoạt động nghiên cứu cơ bản còn thấp như vật lý địa cầu, môi trường, rất khó có thể có công bố quốc tế. Như vậy có nên tiến hành nghiên cứu cơ bản không?

    Tôi nghĩ nghiên cứu cơ bản hay ứng dụng, nếu đạt được chất lượng cao đều có thể công bố trên các tạp chí quốc tế. Toán và vật lý lý thuyết là hai nghiên cứu thuần cơ bản, ấy thế mà Việt Nam lấy được một chỗ đứng khá nổi trong khu vực châu Á và không quá kém cỏi trên trường quốc tế.

    Giáo sư có thể cho biết cụ thể ranh giới giữa nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng trên thế giới hiện nay như thế nào?

    Cụ thể theo sự hiểu biết của cá nhân tôi, ranh giới giữa cơ bản và ứng dụng rất đan chen liên thông trên thế giới hiện nay, đặc biệt ở khoa học công nghệ nanô liên ngành lý-hoá-sinh, sinh hoá học y dược, sản xuất và tiết kiệm năng lượng, toán tài chính kinh tế.

    Theo đánh giá chủ quan của giáo sư thì mối quan hệ giữa nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng ở Việt Nam ra sao? Nhà nước nên ưu tiên chú trọng đầu tư cho lãnh vực trọng điểm nào cho tương lai?

    Tôi có cảm tưởng là mối quan hệ giữa nghiên cứu cơ bản và ứng dụng ở VAST khá năng động. Nhà nước nên ưu tiên chú trọng đầu tư cho những lĩnh vực nâng cao chất lượng đời sống nhân dân ta như môi trường trong sạch, nước, khai thác năng lượng mặt trời đầy rẫy ở nước ta, y dược thảo mộc, xây cất, vận tải, phần mềm công nghệ thông tuyền tin.

    Tầm nhìn phát triển khoa học công nghệ ở nước ta trong tương lai có nên đi theo mô hình của một số nước đi trước như Nhật, Hàn Quốc, Singapore… hay chúng ta phải vạch ra con đường riêng?

    Học hỏi những kinh nghiệm phát triển của các nước không khác ta lắm cách đây ba bốn chục năm như Hàn Quốc, Đài Loan, Mã Lai, Thái Lan là điều rất quan trọng, nhưng cũng cần có một chính sách đặc thù phù hợp với thực lực, tiềm năng, bản sắc của dân tộc ta.

    (Giáo sư Phạm Xuân Yêm nguyên là Giám đốc Nghiên cứu thuộc Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học Pháp, ngành vật lý lý thuyết tại Đại học Pierre et Marie Curie, Paris.)

  4. Kim To said

    “Việc tạo ra các nhà khoa học tầm quốc tế trong hoàn cảnh VN hiện tại là rất khó (trừ khi có những thay đổi lớn nhưng cũng phải đến nhiều năm sau mới có một thế hệ đông đảo các nhà khoa học tầm quốc tế). Vì thế, những người làm việc trong điều kiện như hiện nay mà vẫn đạt được tầm quốc tế có thể phong là “anh hùng”, bởi họ phải có tư chất và cố gắng hơn nhiều so với các đồng nghiệp ở nước ngoài” (GS toán học Nguyễn Tiến Dũng, ĐH Toulouse (Pháp))
    http://www.thanhnien.com.vn/News/Pages/201035/20100824231851.aspx

  5. Phạm Hải said

    Tôi thấy chuyện này cũng nên xem xét lại. Có thể bà Đặng Thị Thu đúng như bạn nói nhưng hình ảnh bạn nêu lên không đúng chút nào cả. Đây là hình ảnh của bà “Nguyễn Thị Xuân Sâm” mà. Dẫn chứng đúng nhưng hình ảnh đưa ra lại của người khác thì oan cho người ta quá.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s