Tạp Chí GS Dỏm Việt Nam

Journal of Incompetent Professors in Vietnam – JIPV

GS dỏm cấp 3 Nguyễn Văn Mậu, Nguyên Hiệu trưởng ĐHKHTN Hà Nội, Nhà toán học đầu ngành, Phó Chủ tịch Hội Toán học Việt Nam, Chủ tịch Hội Toán học Hà Nội, nhà giáo nhân dân, UV Hội đồng học hàm ngành Toán

Posted by giaosudom4 trên Tháng Tám 10, 2010

view profile
Tạp Chí GS Dỏm Việt Nam – JIPV says:

Danh dỏm: GS

Công bố ISI (3.8.2011): 3

Danh thật: GS dỏm.

Đề cử và cung cấp thông tin: Người Hà Nội

============= công bố ISI ============

1.    Title: Convolutions for the Fourier transforms with geometric variables and applications
Author(s): Bui Thi Giang; Nguyen Van Mau; Nguyen Minh Tuan
Source: MATHEMATISCHE NACHRICHTEN  Volume: 283   Issue: 12   Pages: 1758-1770   DOI: 10.1002/mana.200710192   Published: DEC 2010
Times Cited: 0 (from Web of Science)

2. Title: Operational Properties of Two Integral Transforms of Fourier Type and their Convolutions
Author(s): Bui TG, Nguyen V, Nguyen MT
Source: INTEGRAL EQUATIONS AND OPERATOR THEORY Volume: 65 Issue: 3 Pages: 363-386 Published: NOV 2009
Times Cited: 0

3. Title: ON ILL-DETERMINED EQUATIONS IN RIGHT INVERTIBLE OPERATOR OF ORDER ONE IN NONCOMMUTATIVE CASE
Author(s): VANMAU N
Source: MATHEMATISCHE NACHRICHTEN Volume: 147 Pages: 95-105 Published: 1990
Times Cited: 0

============= ca tụng nội bộ ==================

news.vnu.edu.vn:8080/BTDHQGHN/Vietnamese/C177 8/C1779/2006…

GS. Nguyễn Văn Mậu – nhà toán học đầu ngành
[Xem hinh dung kich co]

Không ít nhà khoa học tài danh, có nhiều đóng góp cho xã hội xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo, tuổi thơ của họ lam lũ, không có điều kiện “học thêm”, không có điều kiện vật chất để mua sách vở, một buổi giúp việc nhà và một buổi được cắp sách tới trường đã là may mắn. Họ thành tài, thành danh là nhờ nghị lực, chí tiến thủ và chút thông minh trời cho. Một trong những người như thế là GS.TSKH Nguyễn Văn Mậu.

Sinh ra và lớn lên ở một vùng quê chiêm trũng nghèo thuộc xã Tân Phong, Ninh Giang, Hải Dương, ngay từ những ngày còn theo học phổ thông, Nguyễn Văn Mậu đã bộc lộ tư chất và khả năng của mình. Nhà nghèo, đông anh em, trường ở xa, tài liệu tham khảo, sách giáo khoa thiếu, nhưng Nguyễn Văn Mậu nổi tiếng là một thanh niên học giỏi. Nhắc đến tên anh, cả vùng ai cũng biết. Chịu suy nghĩ, chịu lật ngược vấn đề, trăn trở với những điều mới, điều lạ là lối tư duy của anh. Và lối tư duy ấy theo anh mãi những năm tháng sau này…

Tốt nghiệp phổ thông với thành tích xuất sắc, năm 1967, Nguyễn Văn Mậu là một trong những thanh niên được nhà nước chọn đi học ở Liên Xô. Bất ngờ quá! Con một nông dân đi học nước ngoài. Song ở một góc độ nào đó lại chẳng bất ngờ. Anh học giỏi và tư chất. Được đi học nước ngoài là xứng đáng. Cả nhà mừng. Và cả xã mừng. Đây là vinh dự và niềm tự hào của vùng quê nghèo.

Những năm anh học ở nước ngoài, đất nước đang có chiến tranh. Bom Mỹ ném xuống thành phố, ném xuống ruộng đồng. Để đền đáp nghĩa tình quê hương không gì hơn là gắng học giỏi để sau này có dịp phục vụ Tổ quốc. Và Nguyễn Văn Mậu đã làm được điều ấy! Năm học đầu tiên anh đoạt giải nhất trong kỳ thi Toán dành cho sinh viên nước ngoài học đại học ở Matxcơva. Với đà ấy, khi tốt nghiệp Khoa Toán, Trường Đại học Tổng hợp Minxk, anh đã đạt được bằng đỏ. Và đấy là cơ sở đầu tiên để dần dà anh trở thành một trong những chuyên gia hàng đầu của Toán học Việt Nam.

Về nước, Nguyễn Văn Mậu được phân công công tác tại Viện Toán. Đấy là ước mơ của bất kỳ một sinh viên nào. Song, như thể là định mệnh, anh không làm công tác nghiên cứu đơn thuần mà cuộc đời lại gắn với nhà trường, với nghề dạy học.

Năm 1974, Việt Nam chính thức đăng ký dự thi Olympic Toán quốc tế. Để có người đủ năng lực “đưa chuông đi đấm nước người”, nhà nước rất cần học sinh giỏi, đã đành, mà cũng rất cần có giáo viên giỏi để giảng dạy, hướng dẫn. Một đội ngũ giáo viên có năng lực, nhiệt tình là yếu tố quan trọng để tạo nên đội ngũ học sinh đủ khả năng dự thi. Trong hoàn cảnh ấy, Nguyễn Văn Mậu được cử về Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội lúc bấy giờ, tức Trường ĐHKHTN ngày nay, để làm nhiệm vụ bồi dưỡng học sinh giỏi. Cuộc đời nhà giáo của anh bắt đầu từ đấy và trong gần 30 năm qua, với cương vị giáo viên rồi sau này là hiệu trưởng, bằng khả năng và tài trí của mình anh đã góp phần quan trọng tạo dựng được một đội ngũ học sinh giỏi, giành nhiều kết quả cao trong các cuộc thi toán quốc tế, đào tạo được nhiều trí thức cho đất nước và xây dựng nhà trường trở thành đơn vị anh hùng.

Sau 5 năm dạy lớp chuyên Toán ở Trường, nhiều học sinh của anh đã đoạt giải cao trong các kỳ thi toán quốc tế. Đó là các em Đàm Thanh Sơn, Nguyễn Tiến Dũng, Ngô Bảo Châu…

Năm 1978, anh vừa làm nhiệm vụ giảng dạy hệ chuyên Toán phổ thông, vừa là giảng viên đại học. Dạy Toán sơ cấp và dạy Toán cao cấp, anh đều dạy giỏi. Đó là niềm tự hào, là sự kính trọng của học sinh, sinh viên, là uy tín đối với nhà trường. Song năng lực cũng phải chịu thiệt thòi. Trước mắt nhà trường rất cần những giáo viên có khả năng như anh, bởi vậy Nguyễn Văn Mậu không được cử đi nghiên cứu sinh ở nước ngoài. Thế là anh quyết định tự nghiên cứu. Những năm đầu thập niên 80, anh công bố nhiều công trình khoa học toán học. Và năm 1982 được đặc cách bảo vệ luận án tiến sĩ và bảo vệ thành công. Đây là một giảng viên trẻ đầu tiên bảo vệ thành công tiến sĩ Toán học trong nước. Vừa giảng, vừa dạy, vừa nghiên cứu, vừa làm luận án, ở lĩnh vực nào anh cũng thể hiện khả năng vốn có của mình.

Trong thập niên 80, nhà nước cử nhiều người đi nước ngoài làm nghiên cứu sinh cao cấp. Nguyễn Văn Mậu may mắn là một trong số đó. Trong thời gian nghiên cứu ở Ba Lan, anh đã hoàn thành 2 cuốn sách chuyên khảo bằng tiếng Anh, được bạn bè và các giáo sư hoan nghênh và đánh giá cao. Việc viết hai cuốn sách bằng tiếng Anh không chỉ thể hiện học vấn chuyên ngành mà còn thể hiện khả năng ngoại ngữ ở anh.

Hoàn thành việc bảo vệ luận án tiến sĩ, năm 1990 anh trở lại trường và ngoài vai trò là một giảng viên, anh lần lượt đảm nhận các cương vị chủ nhiệm bộ môn Toán giải tích, Khoa Toán – Cơ – Tin học (1991); Phó hiệu trưởng, Bí thư Đảng ủy (1995), Hiệu trưởng (1997). Trong cương vị nào anh cũng có những đóng góp đáng trân trọng.

Trường ĐHKHTN không chỉ là đơn vị dẫn đầu về thành tích đào tạo cán bộ khoa học cơ bản, là nơi cung cấp cán bộ giảng dạy về khoa học cơ bản cho các trường đại học và cao đẳng trong nước, cung cấp cán bộ khoa học cho các viện nghiên cứu, mà còn là nơi dẫn đầu về thành tích đào tạo tài năng trẻ cho đất nước. Các hệ THPT chuyên mà nhà giáo Nguyễn Văn Mậu đã tham gia giảng dạy ngay từ đầu đã đào tạo hơn 2.000 học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông giỏi và xuất sắc cho các trường đại học. Học sinh hệ chuyên đã đoạt 99 huy chương (20 vàng, 42 bạc, 37 đồng) trong các kỳ thi Olympic quốc tế; đoạt 209 giải (27 giải nhất, 94 giải nhì, 88 giải ba) trong các kỳ thi học sinh giỏi quốc gia. Năm 1995, trong cương vị Trưởng đoàn dẫn học sinh Việt Nam tham dự cuộc thi toán quốc tế tại Canađa, thầy giáo Nguyễn Văn Mậu đã góp phần đưa đoàn Việt Nam đoạt thứ hạng cao. Lần đầu tiên đoàn Việt Nam xếp thứ 4, trong 6 em đi dự thi có 4 em đoạt huy chương vàng, 2 em đoạt huy chương bạc. Các giải thưởng quốc tế và trong nước đã đem lại niềm tự hào cho nền giáo dục – đào tạo Việt Nam. Số huy chương vàng ở các giải thi quốc tế của hệ THPT chuyên (ĐHKHTN) chiếm hơn 2/3 tổng số huy chương vàng mà học sinh cả nước đoạt được. Đây là niềm vinh quang của nhà trường, cũng là niềm tự hào của GS.TSKH Nguyễn Văn Mậu.

Trong cương vị Phó hiệu trưởng, rồi Hiệu trưởng, anh đã góp phần cùng các giáo sư, giảng viên và các cán bộ công nhân viên nhà trường hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đưa Trường ĐHKHTN trở thành một trung tâm đào tạo có uy tín trong nước, ở khu vực và quốc tế, được xã hội tín nhiệm, Đảng và nhân dân đánh giá cao.

Để đào tạo nhân tài cho ngành khoa học cơ bản, từ năm 1997, Hiệu trưởng Nguyễn Văn Mậu và Nhà trường đã đưa ra mô hình hệ đào tạo cử nhân khoa học tài năng, được Bộ GD&ĐT chấp nhận. Hệ đào tạo cử nhân khoa học tài năng đã thu hút được nhiều học sinh giỏi trong cả nước, 70% số sinh viên ở hệ này là những em đã đoạt giải cao trong các kỳ thi Olympic quốc tế và quốc gia. Mô hình này được các trường đại học trong cả nước hưởng ứng. Và hệ đào tạo cử nhân khoa học tài năng đã được mở vào những năm tiếp theo ở các trường như: ĐHBKHN, ĐHSPHN, ĐHKHTN (ĐHQG TP.HCM)… Chất lượng của hệ này được đánh giá cao, có nhiều sinh viên đủ tiêu chuẩn để được cử sang nước ngoài, học ở những trường đại học danh tiếng, nhiều em đứng đầu các kỳ thi Olympic giữa các trường đại học trong nước.

Một trong những trọng tâm mà Hiệu trưởng Nguyễn Văn Mậu và lãnh đạo Nhà trường đặt ra là tích cực đổi mới phương thức đào tạo, nhà trường đã chuẩn hóa 133 bộ giáo trình ở tất cả các ngành, các bậc học, xuất bản hơn 300 giáo trình mới, nhân bản 300 đầu sách giáo khoa của các nước Nga, Anh, Mỹ, Nhật, Úc …, và 6830 sách chuyên đề khoa học lớn. Bên cạnh đó chú ý nâng cấp mở rộng các phòng thí nghiệm đạt tiêu chuẩn khu vực… Bởi vậy chất lượng đào tạo được nâng cao.

Là nhà giáo, song GS.TSKH Nguyễn Văn Mậu còn là nhà khoa học, là người làm công tác quản lý. Anh coi công tác nghiên cứu khoa học là khâu quan trọng của nhà trường. Bởi vậy Trường ĐHKHTN là nơi dẫn đầu về thành tích nghiên cứu khoa học cơ bản trong cả nước. Chỉ tính 5 năm qua, Nhà trường đã thực hiện 660 đề tài nghiên cứu khoa học, trong đó có nhiều đề tài cấp nhà nước, 10 dự án sản xuất thử, thử nghiệm 50 hợp đồng chuyển giao công nghệ… Kinh phí nghiên cứu khoa học hơn 4,5 triệu USD. Nhiều thiết bị hiện đại được tiếp nhận thông qua hợp tác quốc tế. Trường có quan hệ với hơn 20 trường đại học và viện nghiên cứu trên thế giới. Trong đó 1000 công trình khoa học đăng ở các tạp chí khoa học quốc tế, nhà giáo Nguyễn Văn Mậu góp nhiều công trình toán học có giá trị. Cá nhân anh đã có hơn 40 bài báo đăng trong các tạp chí quốc tế, 9 đầu sách và giáo trình toán học…

Bận công việc quản lý, bận công tác dạy học nhưng thầy Nguyễn Văn Mậu luôn dành thời gian cho nghiên cứu khoa học. Anh quan niệm rằng muốn dạy tốt phải nghiên cứu và nghiên cứu tốt để dạy học có hiệu quả. Đào tạo và nghiên cứu cùng song hành. Bằng những thành tích của mình, Trường ĐHKHTN đã được Nhà nước tặng thưởng nhiều huân, huy chương các loại đặc biệt năm 2001 được tuyên dương là đơn vị Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới.

Thành tích thuộc về tập thể các giáo sư, các giảng viên và công nhân viên của Nhà trường song vai trò của người đứng đầu, Hiệu trưởng Nguyễn Văn Mậu góp phần không nhỏ. Anh là một Nhà giáo ưu tú, một nhà khoa học, chuyên gia về toán học. Anh là một nhà quản lý giỏi và anh còn là một nhà hoạt động xã hội. Nhiều năm anh là ủy viên Ban Chấp hành Hội Toán học Việt Nam, Phó chủ tịch Hội đồng Toán học Bộ GD&ĐT, Phó chủ tịch Hội đồng biên tập Tạp chí Toán học và Tuổi trẻ.

Bằng học vấn, tài năng, kinh nghiệm và sự nhiệt tâm, tận tình và chí cốt của mình trong việc đào tạo các cán bộ khoa học cho bộ môn khoa học cơ bản anh được học sinh, sinh viên kính trọng, đồng nghiệp vị nể và cấp trên tin tưởng./.

Đình Kính
Theo: [100 Years-VietNam National University,HaNoi
Posted 4 months ago. ( permalink )
view profile
Tạp Chí GS Dỏm Việt Nam – JIPV says:

Nếu bác không sử đụng được thông tin ISI thì bác sẽ bị block. Công bố 10000000000000000000000 bài (chẳng ai quan tâm) mà không có ISI là dỏm.
Posted 4 months ago. ( permalink )

Advertisements

46 phản hồi to “GS dỏm cấp 3 Nguyễn Văn Mậu, Nguyên Hiệu trưởng ĐHKHTN Hà Nội, Nhà toán học đầu ngành, Phó Chủ tịch Hội Toán học Việt Nam, Chủ tịch Hội Toán học Hà Nội, nhà giáo nhân dân, UV Hội đồng học hàm ngành Toán”

  1. Richmond said

    Theo tôi biết thì GS Mậu được học ở LX trước kia, các bài báo đăng bằng tiếng Nga trên các tạp chí của LX mà ISI không thể thống kê được. Liệu chăng cách trao bằng “GS dỏm” của trang web đã thực sự khách quan?

    • Người Mậu said

      Tôi không nghĩ vậy đâu bạn, nếu bác Mậu có những công trình tốt đăng ở các tạp chí của Liên Xô, mà từ khi Liên Xô sụp đổ (1991) đến giờ chỉ có một công trình nào tử tế thì không thể tin nổi, nên bác ấy được phong Dỏm là hoàn toàn xứng đáng. Có rất nhiểu GS Việt Nam từ thời Liên Xô mà họ vẫn hoạt động khoa học mạnh (có thể tham khảo danh sách ở Viện vinh danh ngay trong trang này). Bác Mậu mang khá nhiều chức danh khoa học ngành Toán của Việt Nam như Chủ tịch hội Toán học Hà Nội, phó chủ tịch Hội Toán học Việt Nam… mà chỉ có thế thì đúng là quá lởm và háo danh!

      • Richmond said

        Mình tìm thấy trên trang web này có list các bài của bác Mậu: http://mim.hus.edu.vn/modules.php?name=Employees&file=employees&empid=29

        Thú thực là mình không phải dân Toán nên nhìn các journal của bác cũng đành bó tay không biết là tạp chí nào là hay ho cả. Theo thông tin của google thì trong số các bài của bác có các bài đăng trên khá nhiều các tạp chí mà ISI không có trong database:

        1. B. T. Giang, N. V. Mau, and N. M. Tuan, Convolutions for the Fourier transforms with geometric variables and applications, Math. Nachr, no. 283, p. 1758–1770, 2010.

        ***Mathematische Nachrichten – Impact Factor: 0.653 http://www.wiley.com/bw/journal.asp?ref=0025-584X

        2. N. V. Mau and N. M. Tuan, Isomorphic theorem between algebra generated by idempotents and algebra of their symbols, Sc. Math. Japan, vol. 72, p. 341–351, 2010.

        ***SCIENTIAE MATHEMATICAE JAPONICAE – IMPACT FACTOR: 2 http://www.ourglocal.com/keywords/?c=20110310

        3. B. T. Giang, N. V. Mau, and N. M. Tuan, Operational properties of two integral transforms of Fourier type and their convolutions, Integral Equation Operator Theory, vol. 65, no. 3, p. 363–386, 2009.

        ***Integral Equations and Operator Theory – Impact factor =0.521 theo http://www.springer.com/birkhauser/mathematics/journal/20

        4. L.H. Chuan, N.V. Mau, N.M. Tuan, On a class of singular integral equations with the linear fractional Carleman shift and the degenerate kernel, Complex Var. Elliptic Equ., vol. 53, no. 2, p. 117-137, 2008.

        ***Complex Variables and Elliptic Equations – Impact Factor: 0.409 theo http://www.tandf.co.uk/journals/titles/02781077.html

        5. Solvability in closed form of a class of complete singular integral equations, Differentsial nye Uravneniya, vol. 25, no. 2, p. 307-311, 1989.

        ***Differentsial’nye Uravneniya – Impact Factor = 0.339 theo http://en.wikipedia.org/wiki/Differential_Equations_%28journal%29

        ….

        Nhân đây mình cũng xin hỏi ban biên tập là tiêu chí bài báo phải được indexed bởi ISI (mà bây giờ là WebOfKnowlege) có thực sự là thước đo chuẩn mực?

        • chim_nhon said

          Bài 1 và bài 3 trong danh sách của bác đã được các Editors của JIPV tìm thấy ở trên đầu trang. Riêng bài 4, tạp chí đó vừa được công nhận là ISI năm 2010 nên thời điểm bài báo được đăng (2008), và thời điểm tìm kiếm (2010) trong Web of Science không được công nhận và không tìm thấy. Các bài 2, 5 tới thời điểm này vẫn không phải là ISI. Kết lại, kết quả tìm kiếm của chúng tôi và của bác đều đúng, mọi đánh giá ko có thay đổi gì cả.

          Còn về tiêu chuẩn, thước đo chúng tôi đã có Viện nghiên cứu tiêu chuẩn Dỏm (https://giaosudom.wordpress.com/vi%e1%bb%87n-nghien-c%e1%bb%a9u-tieu-chu%e1%ba%a9n-d%e1%bb%8fm-kem-y%e1%ba%bfu-cho-pgs-gs/). Mời bác vào đọc tham khảo chi tiết

          ———————————————————————————————-
          ———————————————————————————————
          Giaosudom4@:
          Bài số 1 vừa publish vào năm 2010, sau thời điểm JIPV công bố dỏm cho ông Mậu (2009), không phải là bài ở trên. Nên trước mắt ông Mậu có thêm 1 bài là bài số 1. Đã cập nhật ở trên
          Bài số 2: trong tạp chí SCIENTIAE MATHEMATICAE JAPONICAE không nằm trong danh mục ISI nên ghi IF = 2 là tào lao.
          Bài số 3: JIPV đã đếm cho ông Mậu
          Bài số 4: Complex Variables and Elliptic Equations chỉ được cập nhật vào ISI từ issue 10, volume 53 năm 2008 nên bài số 4 của ông Mậu (issue 2 volume 53) không được tính trong ISI
          Bài số 5: nhờ bác chim_nhon kiểm tra trên WebofKnowledge xem bài số 5 có được liệt kê với tên tạp chí Differential Equations không. Có thể tạp chí đổi tên. Cám ơn bác.
          Theo tôi tìm hiểu thì Differential chỉ có IF từ năm 1995, tức có nghĩa nó chỉ được đưa vào ISI 2 năm trước đó, vì vậy những bài báo trước 1993 sẽ không được tính trong ISI
          link: http://www.maik.rssi.ru/cgi-perl/journal.pl?lang=eng&name=difeq&page=impact

          Cám ơn bác Richmond đã góp ý

          Còn về tranh luận về chuẩn mực của thước đo thì cũng đã quá nhiều trên JIPV. Có lẽ những câu hỏi dạng này và những phản hồi kinh điển nên được lưu vào phòng giáo dục thường xuyên do bác TuanNgoc đảm trách để chúng ta khỏi mất thì giờ tìm kiếm lại. Đến giờ tôi cũng chẳng biết tìm ở đâu. Chỉ nhớ rằng bác Hội Toán Học đã phản hồi rất hay về vấn đề này.

          • chim_nhon said

            Bài số 5 tôi tìm bằng tên cũ (Differentsial’nye Uravneniya, ISSN: 0374-0641) nên ko tìm thấy. Tên tiếng Anh của tạp chí này là Differential Equations (ISSN: 0012-2661), là một tạp chí SCIE (http://scientific.thomsonreuters.com/cgi-bin/jrnlst/jlresults.cgi?PC=D&Full=Differential%20Equations), tức là ISI. Như vậy tính thêm bài 5 nữa. Xin lỗi đã ko cẩn trọng trong comment trước.

            Cảm ơn bác Richmond đã góp ý.

            Trân trọng.
            —————————————————————————–
            —————————————————————————-
            Giaosudom4@: điều quan trọng là nhờ bác xác minh tạp chí này được liệt kê trong ISI từ năm nào. Vì có nhiều bài của ông Mậu xuất hiện từ trước năm 1993

          • Richmond said

            Cám ơn bác Chim_nhon và bác Giaosudom4@ đã cất công kiểm tra và update nhanh chóng. Nhân đây mình cũng xin được hỏi là:

            Giaosudom4@:Bài số 4: Complex Variables and Elliptic Equations chỉ được cập nhật vào ISI từ issue 10, volume 53 năm 2008 nên bài số 4 của ông Mậu (issue 2 volume 53) không được tính trong ISI

            ==>Mình băn khoăn rằng chất lượng của các tạp chí có biến thiên theo thời gian, có tạp chí hồi xưa rất tốt, nhưng nay lại xuống cấp. Thế chẳng hạn GS có bài đăng trên tạp chí lúc tốt, bây giờ tạp chí bị loại ra khỏi ISI, hoặc khi ISI index thì đã là xuống cấp. Thông tin thế hệ chúng ta có được hôm nay cũng chỉ là thông qua ISI, còn thông tin trước đây thế nào thì chỉ có các chú bác cùng thời đó may ra mới nắm rõ. Câu hỏi đặt ra là trong trường hợp này, tính thế nào để công bằng cho các GS “dỏm” nhỉ?

            Thứ hai là ISI chỉ có thể cover một số lượng tạp chí nhất định và ưu tiên tạp chí tiếng Anh. Đa phần các GS cao tuổi của ta học tập tại các nước thuộc LX cũ, bài báo đăng trên tạp chí tiếng Nga …vậy thì có phần bị thua thiệt quá. VD tạp chí Differentsial’nye Uravneniya mà không có phiên bản tiếng Anh là Differential Equations thì ISI chắc cũng bỏ qua (Nhân đây đính chính giùm bác Chim_nhon luôn là Differentsial’nye Uravneniya là tên chính thức chứ không phải tên cũ, tạp chí với tên này vẫn..ra lò đều đặn, nhưng là bằng tiếng Nga bác ạ)

          • khachquaduong said

            Chuyện tạp chí bị loại ra khỏi ISI là bình thường, nhưng những bài được công nhận trước đó vẫn được giữ. Có rất nhiều ấn phẩm trước đây được indexed trong ISI nhưng sau này bị loại vì chất lượng quá vớ vẩn. Ví dụ như book chapters của Lecture note in computer science hình như trước 2005 vẫn được index, sau đó thì bị loại. Nhưng những bài trước đó vẫn được lưu trên ISI.

          • khachquaduong said

            Nói ISI ưu tiên cho tạp chí tiếng Anh là sai, ISI chỉ quan tâm đến chất lượng tạp chí, đội ngũ editors … Có rất nhiều tạp chí tiếng Đức, Pháp, Nga, Nhật … vẫn được ISI indexed. Việc các tạp chí sau này có xu hướng sử dụng tiếng Anh vì muốn thu hút tác giả trên thế giới nộp để nâng cao chất lượng của họ chứ không phải yêu cầu của Reuter (công ty truyền thông sở hữu ISI).

            • Richmond said

              Không biết bác Khachquaduong có thể giới thiệu vài tạp chí tạp chí tiếng Đức, Pháp, Nga, Nhật mà ISI indexed không ạ? Trong ngành toán, mình chỉ tìm thấy thêm Russian Mathematical Surveys http://iopscience.iop.org/0036-0279/, tuy nhiên phiên bản được indexed cũng là đã được dịch qua tiếng Anh, chứ bản gốc tiếng Nga thì không.

              Vị vây có điều mình băn khoăn là nếu các bác ISI (của các bác Mỹ) không biết tiếng Đức, Pháp, Nga, Nhật…thì làm sao đánh giá chất lượng tạp chí là tốt hay không, chẳng lẽ nhìn đội ngũ editors hùng hậu là cho index ? Mình đã xem danh sách GS yếu kém, không có GS nào học tập ở Mỹ hay các nước nói tiếng Anh bị đánh giá cả, theo mình một phần là họ có ưu thế về tiếng.

              Nói vậy để xét sao cho công bằng với phần lớn các GS lớn tuổi của ta đều là những cá nhân xuất sắc được nhà nước cử đi đào tạo tại các nước Liên Xô cũ. Bài báo họ đăng trên tạp chí tiếng Nga, có khi ISI không biết, hoặc có khi không được biết (giả thuyết là các công trình khoa học của LX không công bố rộng rãi tránh việc tư bản “đạo” ý tưởng)???
              ——————————————–
              ———————————————
              Giaosudom4@:
              1. Một số tạp chí địa phương được index trong WebofKnowledge
              AKTUELLE NEUROLOGIE ———– tiếng Đức
              Actualite chimique —————-tiếng Pháp
              Bunseki Kagaku————– tiếng Nhật
              ZHURNAL VYSSHEI NERVNOI DEYATELNOSTI IMENI I P PAVLOVA
              ZHURNAL OBSHCHEI BIOLOGII
              Zhurnal Nevrologii I Psikhiatrii imeni S S Korsakova ———————- tiếng Nga

              2. WebofKnowledge do Thomson Reuters, một tập đoàn thông tấn báo chí, lập nên nên nó không thể đánh giá chất lượng cụ thể một tạp chí nào đấy bằng chuyên môn mà phải bằng những công cụ đánh giá tổng quát như IF, H … Mức độ chính xác của những chỉ số này như thế nào đã và đang phản ánh trên thực tế bằng sự phổ biến của WebofKnowledge trên thế giới.

              3.Có nhiều ông học ở Anh, Pháp, Đức về bị dỏm như thường điển hình như ông Nguyễn Đình Thọ, ông Bùi Thế Duy …

              4. Học xuất sắc cấp tiểu học không có nghĩa là sẽ trở thành nhà khoa học tốt. Học xuất sắc cấp trung học không có nghĩa là sẽ trở thành nhà khoa học tốt. Bác có thể quy nạp lên đến thời điểm mấy ông được chọn đi học ở Đông Âu (chưa xét đến các suất thuộc diện COCC, CCCCC …)

              5. Cái giả thiết của bác buồn cười quá. Nhiều GS dỏm cũng lý luận như bác là công bố công trình trên tạp chí Việt Nam, viết bằng tiếng Việt để tránh bị “tư bản” đạo ý tưởng. Kết quả là chúng ta có rất nhiều công trình đạt tầm cỡ thế giới nên mới có chuyện 1 bài đăng trên tạp chí trong nước cũng ngang điểm với 1 bài đăng trên Science hay Nature.

              PS: bác Richmond thiếu rất nhiều thông tin thì phải?

              • GS.D said

                Trong danh sách journal Toán của ISI có vài tạp chí của Nga, ví dụ như:

                1. Automation and Remote Control
                2. Doklady Mathematics
                3. Mathematical Notes
                4. Siberian Mathematical Journal

                Ở châu Á thì các nước như: Iran, Hàn Quốc, Nhật Bản, Sing, Tàu đều có tạp chí ISI trong ngành Toán. Riêng VN luôn cho là giỏi toán thì không có. )))

              • Richmond said

                Mình đang bận và có việc phải đi gấp, xin phản hồi bác vào một ngày gần đây. Nhân đây xin hỏi ngoài lề là làm sao để format (bold,italic) cho font chữ?
                ==========================
                Giaosudom@: Cảm ơn bác đã góp ý cho JIPV. Hình như có hiểu lầm. Xin chia sẽ với bác: (1.1) JIPV không đếm bài ISI mà xem có top hay không – cái này JIPV dựa vào rankings của Web of Science; (1.2) thì đã rõ; (1.3) thì đếm bài ISI.

                Có thể cách diễn đạt của JIPV chưa tốt. JIPV sẽ rút kinh nghiệm.

        • Tuan Ngoc@ said

          https://giaosudom.wordpress.com/vi%E1%BB%87n-nghien-c%E1%BB%A9u-tieu-chu%E1%BA%A9n-d%E1%BB%8Fm-kem-y%E1%BA%BFu-cho-pgs-gs/

          >Nhân đây mình cũng xin hỏi ban biên tập là tiêu chí bài báo phải được indexed bởi ISI (mà bây giờ là WebOfKnowlege) >có thực sự là thước đo chuẩn mực?

          @: Theo tiêu chuẩn trên thì JIPV
          1/ KHÔNG so sánh GS, PGS Việt Nam với GS, PGS quốc tế; chỉ so sánh họ với TS, posdoc;
          2/ KHÔNG xem ISI là thông tin đầu tiên để xét dỏm, kém, yếu;
          3/ KHÔNG tố GS, PGS dỏm chạy học hàm (danh hiệu) GS, PGS.

          • Richmond said

            Xin phản biện điều 2 của bác Tuan Ngoc:

            Đây là các bước phong tiêu chuẩn của JIPV:

            “Bước 1: Xét 1.1, 1.2, 1.3. Nếu ứng viên không đạt thì sang bước 2.
            Bước 2: Dùng ISI để đánh giá như đã nêu.

            1.1. Là main authors của bài ISI thuộc top 10 trong chuyên ngành hẹp (được quy định bởi ISI), không kể số lượng,
            1.2. Có những kết quả (không phân biệt: articles, proceedings, technical reports,…) có tiếng vang trong chuyên ngành, thể hiện trên wiki tiếng anh, chỉ số trích dẫn, đánh giá tích cực của các chuyên gia trên thế giới.
            1.3. Đối với KHXH, là main author của ít nhất 01 ISI paper ghi địa chỉ Việt Nam.”

            Nhận xét của Richmond:

            Bước 1.1: bước đầu tiên chính là xem ISI để đánh giá

            Bước 1.2: chả có mấy ai được có công trình như thế này, kể cả với GS nước ngoài. Mà nếu có công trình có tiếng vang ắt hẳn cũng có nhiều bài ISI (xin bác cho ví dụ như GS nào chỉ có một, hai công trình có “tiếng vang” nhưng không có bài báo ISI nào khác được không ạ)

            Bước 1.3: miễn bàn

            Bước 2: dùng ISI để đánh giá

            ====> tóm lại JIPV sử dụng ISI là thông tin đầu tiên và duy nhất để xét chức danh cho các GS

            Mong trả lời!

            • Minh Tri said

              Bước 1.1: bước đầu tiên chính là xem ISI để đánh giá
              ==> Không đúng! Phải là: “Là main authors của bài ISI thuộc top 10 trong chuyên ngành hẹp (được quy định bởi ISI), không kể số lượng,”. Dẫn chứng đây: http://www4.hcmut.edu.vn/~nvnho/papers.htm
              (PGS. Nguyễn Văn Nhờ được xoá dỏm ngay khi có Top journal theo ngành hẹp, mặc dù lức đó chưa đủ số lượng để thoát PGS dỏm/kém/yếu).

              Bước 1.2: chả có mấy ai được có công trình như thế này, kể cả với GS nước ngoài. Mà nếu có công trình có tiếng vang ắt hẳn cũng có nhiều bài ISI (xin bác cho ví dụ như GS nào chỉ có một, hai công trình có “tiếng vang” nhưng không có bài báo ISI nào khác được không ạ)
              ==> Không đúng! GS Ngô Bảo Châu (xin lỗi giáo sư đã nêu tên giáo sư ở đây) nếu tôi nhớ không lầm chỉ chừng hơn 10 bài ISI nhưng không bao giờ được chúng tôi xét dỏm hết cả. Bác có thể tìm các GS ở nước ngoài làm nghiên cứu phát triển, rất nhiều người chỉ viết US patent, có rất ít ISI.

              Bước 1.3: miễn bàn
              ==> Rất đúng vì khoa học khoa học xã hội thì dỏm hơn bội phần!

              Bước 2: dùng ISI để đánh giá
              ==> Đúng! Và theo trình tự đã nêu trong Viện tiêu chuẩn dỏm.

              tóm lại JIPV sử dụng ISI là thông tin đầu tiên và duy nhất để xét chức danh cho các GS
              Sai! Đáp án cụ thể đã trả lời ở trên.

              P/s: Tôi sẽ không trả lời tiếp nếu bác không nghiên cứu thấu đáo và chỉ nêu 1-2 trường hợp riêng.

              • Richmond said

                Xin phản biện bác Minh Tri:

                Bước 1.1.: bước này xét xem tác giả có phải main author của bài báo trong top 10 không. Top 10 ở đâu? Trả lời: “được quy định bởi ISI”
                ==>bước này được tiến hành bằng cách đối chiếu với cơ sở dữ liệu của ISI, chứ không phải ở đâu khác

                Bước 1.2: bác vừa phủ định điều bác nói và khẳng định điểu mình nói là đúng: GS Ngô Bảo Châu – người có công trình nghiên cứu có tiếng vang, có 10 bài ISI – theo tiêu chuẩn cúa JIPV thì là GS xịn. Nếu GS Châu không có công trình chứng minh bổ đề, các bác có xét dỏm thì GS. Châu cũng …trượt.

                Câu mình hỏi là: xin bác lây dẫn chứng một GS chỉ có 1,2 công trình nghiên cứu có tiếng vang, và có rất ít ISI? Người có công trình nghiên cứu có tiếng vang, chắc chắn là đủ tiêu chuẩn GS (mà không cần công trình tiếng vang kia), và vì thế bước 1.2 này là không cần thiết.

                Xin đính chính cho bác tiếp: những người ở các nước phát triển (hay không phát triển) mà chỉ có patents thì được gọi là inventor – nhà phát minh, không phải là professor. Steve Jobs có hàng trăm US patents, không ai gọi ông là Prof. Steve cả

                Bước 1.3: Mình nói miễn bàn vì bước này không phải là tiêu chí chung, mà áp dụng riêng cho KHXH. Tại sao bác lại nói KHXH lại dỏm hơn bội phần?? Theo mình biết ISI không phải là tiêu chí đánh giá tốt cho một số ngành: vd trong Mathematics Education https://giaosudom.wordpress.com/2010/08/07/gs-r%E1%BA%A5t-d%E1%BB%8Fm-dao-tam (xin đọc bài của bạn Jean_Nguyen).

                ==> Tóm lại: bước 1 là sử dụng cơ sở dữ liệu của ISI

                Bước 2: cũng sử dụng cơ sở ISI để xét

                ==>Kết luận lần hai: chức danh GS dỏm được xét duy nhất dựa theo ISI.

  2. Tuan Ngoc@ said

    https://giaosudom.wordpress.com/cau-h%E1%BB%8Fi-th%C6%B0%E1%BB%9Dng-g%E1%BA%B7p/

    Có trong đây hết rồi. Tranh luận chi nữa. Bác Richmond chịu khó bình tĩnh đọc kỹ là dễ chịu thôi.

    • Richmond said

      Mình đã đọc link của bác Tuấn ngọc và không thấy trao đổi nào về điều mình vừa nói. Mạn phép nhờ bác copy and paste để mình nghiên cứu, cám ơn bác

    • Tuan Ngoc@ said

      Mời bác xem:

      [*] Hỏi: Có phải JIPV dùng ISI làm tiêu chuẩn số 1 để đánh giá GS, PGS Việt Nam hay không?

      Trả lời: Không phải. Vui lòng xem tiêu chuẩn
      =============================================

      Lúc trước có một GS bị dính dỏm khi dùng ISI, nhưng sau đó có người khiếu nại vị này có công bố không phải ISI nhưng thỏa 1.2. Sau thời gian tranh luận, JIPV quyết định tuyến bố vị này không dỏm-yếu-kém. Bây giờ bác Richmond chỉ ra một công bố của GS dỏm N.V. Mậu thỏa 1.2 xem sao. Sau đó tôi sẽ tiếp sức bác để đấu tranh loại vị này ra khỏi JIPV. Bác nêu bất cứ bài nào, miễn sao có lí do để cho nó thỏa 1.2 là được.

      Theo kinh nghiệm của tôi: làm nghiên cứu mà không có hoặc là 1.2 hoặc là ISI thì toàn vớ vẫn.

      • Richmond said

        ***1 . Mong bác Tuấn ngọc đọc lại bài của mình ở trên để hiểu rõ ý.

        Trả lời rằng “Tiêu chuẩn của JIPV không phải là tiêu chuẩn số 1 để đánh giá GS, PGS Việt Nam”. Vậy khi click vào link “tiêu chuẩn” thì mình thấy như sau:

        “Tiêu chuẩn cho một:

        – (Phó) giáo sư có năng lực nghiên cứu khoa học rất dỏm: số lượng công bố ISI = 0.

        – (Phó) giáo sư có năng lực nghiên cứu khoa học dỏm: số lượng công bố ISI <= (3) 5.

        – (Phó) giáo sư có năng lực nghiên cứu khoa học kém: số lượng công bố ISI <= (5) 7.

        – (Phó) giáo sư có năng lực nghiên cứu khoa học yếu: số lượng công bố ISI Nhận xét: như vậy là xét số lượng ISI

        Còn “Quy trình đánh giá dỏm:

        Bước 1: Xét 1.1, 1.2, 1.3. Nếu ứng viên không đạt thì sang bước 2.
        Bước 2: Dùng ISI để đánh giá như đã nêu.”

        ==> Nhận xét: Mình đã nói là chứng minh là bước 1, 2 này đều sử dụng ISI (bước 1 là xét chất lượng quy định bằng ISI, bước 2 là đếm số lượng ISI). Như vậy tất cả các bước đánh giá là dùng ISI làm thước đo đánh giá

        ===> Câu hỏi đặt ra: Vậy nói không dùng ISI là tiêu chuẩn số 1 thì cái gì là số 1? Mình thì thấy không thấy các tiêu chí được đánh giá bằng cái gì khác ngoài việc so sánh đối chiếu với ISI?

        ***2. Bác nói ý kiến chủ quan của bác là “không có 1.2 hoặc là ISI thì là vớ vẩn”. Mình nhận xét thẳng thắn là hoạt động của các bác mang nhiều ý nghĩ chủ quan.

        Mình xin hỏi là bác đã tham khảo ý kiến của thế hệ tiền bối đi trước chưa? Bác có thể về gặp các GS.được đào tạo tại Liên Xô cũ xem thời của họ có biết ISI là gì không, và tờ báo nào của LX là chất lượng, tờ nào là lá cải?

        Lấy VD cụ thể là tờ Differential Equations ở trên chỉ được index từ năm 2000, còn tờ này với tên gọi DIFFERENTSIAL’NYE URAVNENIYA thì được xuất bản từ năm 1965. Các bác nghĩ chắc là tạp chí chất lượng kém nên đến năm 2000 mới được ISI để mắt đến. Thực tế là đến năm 2000 tạp chí này mới bắt đầu được dich ra tiếng Anh, và lúc đó ISI mới “để mắt” tới. Vậy thì tác giả nào có bài đăng trước năm 2000 trên tạp chí này thì cũng không được đếm trong quá trình xét duyệt, vậy thì hơi thiệt thòi nhỉ
        ————————————————
        ————————————————
        Giaosudom4@: Bác cứ khăng khăng nhìn thấy chữ ISI ở bước 1 để phán rằng chúng tôi dùng ISI để đánh giá dỏm mà không hiểu (cố tình?) rằng tiêu chuẩn 1 lập ra để thẩm định chất lượng của công trình của họ. Có những trường hợp nhiều GS có năng lực nhưng vì đặc thù ngành, hoặc vì lý do gì đó mà không có nhiều ISI nhưng ít nhất họ cũng đã chứng tỏ được rằng họ có (hoặc đã từng có) năng lực bằng việc thể hiện qua chất lượng công trình họ công bố. Ở mục 1, chất lượng công trình chính là cái chúng tôi quan tâm đó bác à. Chất lượng đó chúng tôi dựa vào tiếng vang của công trình, nếu không thể xác định được tiếng vang của công trình thì chúng tôi sẽ dựa vào uy tín của tạp chí mà họ nộp. Vì lẽ đó ISI được dùng để xác định chất lượng tạp chí mà thôi, chứ không phải để đếm bài ở bước 1 này.

        Ngoài ra, ở bước 1.2 thì công trình gây tiếng vang có rất nhiều loại, chứ không chỉ trên ISI. Có rất nhiều bài gây tiếng vang được công bố trên các proceeding mà thôi. JIPV cũng đã dẫn vài bài dạng này rồi. Ngoài ra wiki tiếng Anh cũng là một kênh thông tin quan trọng để cho ta biết rằng người đó có một mức độ ảnh hưởng trên thế giới. Để ưu tiên cho lĩnh vực nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu phát triển thì người có technical reports (patent…) cũng không bị xét dỏm.
        Một GS mà không có patent, không có công trình gây tiếng vang, ISI lèo tèo chỉ vài ba bài trong hàng chục năm thì nên tự xem lại bản thân chứ đừng nên nại đến yếu tố Đông Âu. Theo tôi nghĩ nền khoa học cũng như giáo dục VN ngày càng lụn bại thì trách nhiệm của những con người Đông Âu này rất lớn.

        • Richmond said

          Xin bác giaosudom4@ đọc kỹ lại bài mình viết ở ngay trên bài này. Mình hoàn toàn ý thức là “bước 1 là xét chất lượng quy định bằng ISI”. Còn bước 2 không xét đến chất lượng mà là số lượng. Cám ơn bác đã khẳng định rằng bước 1 là hoàn toàn dựa trên công thức mà ISI đặt ra.

          Bước 1.2, mình nói rất nhiều mà bác vẫn không hiểu (hay là tại mình diễn đạt kém?): nghiên cứu là một quá trình, không ai tự dưng từ vô danh tiểu tốt nhảy lên làm vua cả (có lẽ 1 in a million). Người có công trình gây tiếng vang, chắc chắn là đã có đủ số lượng ISI theo yêu cầu của JIPV mà không cần kể đến công trình có tiếng vang này. Mình đề nghị bác đưa ra dẫn chứng GS nào “Có rất nhiều bài gây tiếng vang được công bố trên các proceeding” mà không đủ tiêu chuẩn GS xịn của JIPV.

          Còn về patent thì không liên quan lắm đến vấn đề đang nói ở đây. Patent cũng có nhiều loại, ai cũng đăng ký patent được, patent đăng ký xong không ứng dụng vào gì thì cũng như không. Wiki cũng vậy, là open for everyone, nếu bác làm khoa học cũng biết là không bao giờ được lấy reference từ wiki vì nguồn thông tin không ai kiểm chứng. Vì thế xin bác đừng nhắc đến wiki với patent vì nó là điều kiện rất phụ.

          Công trình có tiếng vang cũng hơi “subjective”, xin hỏi bác có bao nhiêu % GS nước ngoài có công trình “có tiếng vang”? Tôi có thể list hàng chục GS nước ngoài không có patent, không có công trình có tiếng vang, theo bác họ có xứng đáng là GS không?

          Xét đến yếu tố Đông Âu là công bằng, nếu các bác bỏ qua thì mới là không công tâm và không nhận thức đầy đủ. “ISI lèo tèo vài ba bài”, có thể đúng nhưng không phải tạp chí nào ISI cũng index và ISI không phải là chỉ số chính xác trong vài TH. Mình xin lỗi giùm các nhà nghiên cứu nếu tiếng Anh của họ không đủ giỏi để gửi bài đến các tạp chí ISI, và tôi cũng xin lỗi cho các nhà khoa học muốn chia sẻ kết quả của mình cho giới khoa học, mà không cần để ý đến liệu tạp chí họ gửi có phải ISI hay không.

          • Minh Tri said

            “Bước 1: Xét 1.1, 1.2, 1.3. Nếu ứng viên không đạt thì sang bước 2.
            Bước 2: Dùng ISI để đánh giá như đã nêu.

            1.1. Là main authors của bài ISI thuộc top 10 trong chuyên ngành hẹp (được quy định bởi ISI), không kể số lượng,
            1.2. Có những kết quả (không phân biệt: articles, proceedings, technical reports,…) có tiếng vang trong chuyên ngành, thể hiện trên wiki tiếng anh, chỉ số trích dẫn, đánh giá tích cực của các chuyên gia trên thế giới.
            1.3. Đối với KHXH, là main author của ít nhất 01 ISI paper ghi địa chỉ Việt Nam.”

            Tôi xin diễn nôm ra thế này:
            1.1. Nếu phát hiện thấy ứng viên có top journal. Stop! Ứng viên bị loại khỏi vòng xét dỏm.
            Tôi lấy 2 ví dụ: PGS. Nguyễn Văn Nhờ http://www4.hcmut.edu.vn/~nvnho/papers.htm và PGS. Nguyễn Anh Dũng https://giaosudom.wordpress.com/2010/08/11/pgs-r%E1%BA%A5t-d%E1%BB%8Fm-nguy%E1%BB%85n-anh-dung-%E2%80%93-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-d%E1%BA%A1i-h%E1%BB%8Dc-tay-nguyen-%E2%80%9Cpgs-ts%E2%80%9D-tr%C6%B0%E1%BB%9Fng-b%E1%BB%99-mon-sinh-h%E1%BB%8Dc-th/

            1.2. Công trình có tiếng vang từ proceedings, patents, vv… hoặc đơn giản là những bài báo phổ thông đấu tranh chống lại cái dỏm, tiêu cực, ủng hộ khoa học nghiêm túc. Tức nhiên ý cuối phải lobby để các editors của JIPV ủng họ xoá dỏm.
            Vì PGS/GS của Việt Nam đã dính dáng đến dỏm thì tiêu chuẩn 1.2 tìm thấy chắc cũng mỏi con mắt thôi. Tốt hơn cả là tôi nêu ví dụ giả thuyết nhé:

            Ví dụ về proceeding, bài báo hội nghị, …: Nếu PGS dỏm cấp 3 Bùi Thế Duy có bài ở hội nghị SIGGRAPH năm sau http://s2012.siggraph.org/, tôi xin tiên phong lobby để xoá dỏm cho PGS này.

            Ví dụ về chống tiêu cực, ủng hộ khoa học nghiêm túc, vv…: Tôi nhớ trước kia có người xét dỏm PGS. Nguyễn Minh Thuyết, liền sau đó rất nhiều editors đã phản đối. Cuối cùng ông cũng không bị phong dỏm.

            Ví dụ về công trình, patents có tiếng vang của GS nước ngoài tôi cam đoan nhiều lắm. Những GS làm trong các Viện nghiên cứu trực thuộc trường đại học, hoặc một Viện nghiên cứu nào đó chắc chắn thoả mãn điều kiện này. Để hôm nào có thời gian tôi tìm cho bác. Có lẽ không cần đâu xa tìm trong GS Việt kiều là ra thôi.

            1.3. Không có vướng mắc gì.

            Bước 2: Đếm số bài ISI. Chắc bác đã nắm được quy trình này.

            Đây là tất cả những gì tôi hiểu, nếu không xong chắc chịu rồi! Bác nào đủ kiên nhẫn giúp nhé.

            • Richmond said

              Xin nhận xét phản biện 1.2 của bác không được thuyết phục lắm vì điều này không (chưa) xảy ra. Tóm lại không có bằng chứng cho thấy xét 1.2 là cần thiết (có chăng chỉ là giúp các bác trong hội đồng xét dỏm ít việc hơn thôi) vì có 1.2 thì đương nhiên nêu bác có xét mục 2 (đếm bài ISI) đương nhiên là thỏa mãn.

              Về việc patents, xin nhắc lại là không liên quan đến việc xét tiêu chuẩn GS. Nếu chỉ dựa vào patents thì Thomas Edison là GS số 1 thế giới – thực tế thì ông còn chưa tốt nghiệp tiểu học.

              Cám ơn bác lần nữa khẳng định tất cả các tiêu chuẩn xét dỏm 1 và 2 đều dựa trên ISI (nói rõ là xét chất trước, lượng sau – nhưng tất cả đều dựa vào ISI)

              • KKL said

                @Richmond: Tôi vào trang này muộn hơn bác Richmond và thắc mắc đầu tiên cũng là sự cố tình biện hộ cho cái việc không dùng ISI như là tiêu chuẩn đầu tiên để xét dởm. Tất cả đều hiểu là 1.1 + 1.2 là chỉ chất lượng, trong đó 1.1 thì dựa trên ISI, nhưng 1.2 thì có thể ko phải là ISI => nghĩa là CÓ DÙNG ISI ngay từ tiêu chuẩn đầu tiên. Thừa nhận việc đó thì các bác IJPV thấy không thoải mái à? Sao cứ giải thích vòng vo thế.

  3. Tuan Ngoc@ said

    Đọc kỹ comments của bác Richmond thì tôi thấy bác đánh giá cao ISI đấy chứ. Nhưng JIPV thì không, ISI chỉ là phụ thôi.

    • Richmond said

      Xin bác đọc kỹ lại lần nữa để tránh hiểu nhầm. Mình trung lập và không đánh giá cái gì cao hay thấp cả, chỉ muốn góp ý với các bác là khi nhận xét đánh giá nên có cách nhìn tổng quát và nghiên cứu sâu (đòi hỏi nhiều thời gian), không nên chỉ nhìn vào ISI, đặc biệt là cho các lưu học sinh học tập tại các nước LX cũ hoặc các nước không nói tiếng Anh.

      Thứ nữa là không biết JIPV có liên hệ và cho “thân chủ” cơ hội để phản biện không? Chứ nếu các GS ở đây được phong danh một cách bí mật thế này, mình thấy hơi thiếu khách quan và nhiều khi làm các bạn vào đây đọc nhiều khi hiểu nhầm.
      ——————————————
      ——————————————-
      Giaosudom4@: Mời bác đọc lại phản hồi của bác cho bác khachquaduong. Tôi có một số phản hồi cho bác ở đấy.
      Các GS/PGS được xét đều được gửi mail trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua cơ quan chủ quản, các cá nhân quen biết. Không có gì là bí mật cả. Trang giaosudom đã phổ biến đến mức bác cứ gõ một từ khóa về giáo sư nào đấy trên Google đều thấy trang giaosudom ở những mục đầu.

      • chim_nhon said

        Cảm ơn bác Richmond đã có ý kiến đóng góp. Tuy nhiên, bác nên tìm hiểu kỹ các Phòng, Viện của JIPV trước khi góp ý sửa đổi.

        Về việc nghiên cứu đưa ra quy định phong GS/PGS dỏm/yếu/kém JIPV đã có Viện nghiên cứu tiêu chuẩn dỏm: https://giaosudom.wordpress.com/vi%e1%bb%87n-nghien-c%e1%bb%a9u-tieu-chu%e1%ba%a9n-d%e1%bb%8fm-kem-y%e1%ba%bfu-cho-pgs-gs/ . Để đưa ra được tiêu chuẩn JIPV (TCJIPV), các editors của JIPV đã xây dựng, góp ý, sửa đổi, vv… trong thời gian dài, chứ không phải liệt kê tùy tiện được. Việc đưa quy định số lượng các bài đã tính đến yếu tố Đông Âu (chứ ko chỉ mỗi LX cũ), các nước không nói tiếng Anh. Số lượng bài cũng đã tính cho hợp lý với hoàn cảnh kinh tế, chính trị của Việt Nam. Việc một PGS/GS sau khi đã có chức danh này mà ko làm nghiên cứu nghiêm túc, mà ở đây thể hiện bằng công bố các công trình quốc tế có tiếng vang, ISI journal, vv… thể hiện năng lực PGS/GS đó là kém/yếu/dỏm. Cũng xin nhắc lại với bác là ISI là “thước vàng” hiện nay được rất nhiều các trường/viện trên thế giới sử dụng để đánh giá tiêu chuẩn, chất lượng nghiên cứu. Điều này chúng tôi đã nói nhiều ở những comments trước đó.

        Còn về cơ hội phản biện chúng tôi đã có quy định ở Phòng submission: https://giaosudom.wordpress.com/phong-submission/ Để tránh việc lợi dụng JIPV vào tư thù cá nhân, quy định mới của JIPV còn yêu cầu bác nào muốn submit phải lập trang web/blog, post bài vào đó, rồi gửi link, tiếp đó phải gửi thư cho ứng viên, và cơ quan của ứng viên, vv… Sau cùng là public review, rồi mới phong dỏm/yếu kém. Quy định như vậy khá chặt chẽ và có thời gian rất dài để ứng viên hoặc các guest editor có thể phản biện công khai. Mong bác đọc kỹ trước khi có những nhận xét, đánh giá về JIPV. Về trường hợp bác NVM ở đây, có thể khi đó vẫn theo quy định cũ, khi chưa có các sửa đổi về gửi email, lập blog, vv… để public review chăng?

        • Richmond said

          Cám ơn bác Chim_nhon đã trả lời và làm rõ về việc phản biện. Mình ủng hộ việc làm này và cũng nhân đây, đề nghị các bác ban biên tập rà soát lại tất cả các ứng cử viên, người nào được xét theo quy định cũ thì làm lại cho đúng thủ tục, tránh việc không công bằng cho các GS được phong danh trước và sau quy định. Cá nhân mình nghĩ nhiều bác không chỉ NVM, không biết là đang dược vinh danh ở đây

      • Richmond said

        Trả lời bác GSdom: không GS nào cũng rỗi rãi đến việc tự google tên mình bác ạ, nên việc gửi snail-mail và email thông báo cho ƯCV là không nên bỏ qua

        ==========================
        Giaosudom@: Cảm ơn bác đã góp ý cho JIPV. Hình như có hiểu lầm. Xin chia sẽ với bác: (1.1) JIPV không đếm bài ISI mà xem có top hay không – cái này JIPV dựa vào rankings của Web of Science; (1.2) thì đã rõ; (1.3) thì đếm bài ISI.

        Có thể cách diễn đạt của JIPV chưa tốt. JIPV sẽ rút kinh nghiệm.

        Việc email thì JIPV đã tiếp thu và đã thực hiện lâu rồi bác à.

        • Richmond said

          Cám ơn bác Giaosudom@ đã tiếp thu. Mình xin góp ý là JIPV sửa câu “KHÔNG xem ISI là thông tin đầu tiên để xét dỏm, kém, yếu;” thành “KHÔNG xem số lượng ISI là thông tin đầu tiên để xét dỏm, kém, yếu;” cho chính xác.

          Thứ hai là tiêu chuẩn của JIPV “1/ KHÔNG so sánh GS, PGS Việt Nam với GS, PGS quốc tế; chỉ so sánh họ với TS, posdoc;” mình nghĩ cũng không chính xác nốt.
          Theo JIPV: ” (Phó) giáo sư có năng lực nghiên cứu khoa học yếu: số lượng công bố ISI Nếu JIPV so sánh PGS Việt Nam với TS quốc tế, mà lại cho chỉ tiêu 7 bài ISI thì sợ là nhiều (phần lớn) TS quốc tế cũng trượt chỉ tiêu “TS quốc tế” bác ạ.

        • Richmond said

          Nhân đây xin góp ý thêm một điều nữa là JIPV nên công bố email gửi cho ƯCV (và reply nếu có) để cho đông đảo độc giả cùng biết là JIPV làm việc công minh, không theo phong trào “đấu tố”. Thêm nữa là email nhiều khi bị spam filter chặn nên có khi email không đến được. Liệu JIPV có xem xét gửi snail-mail đến cơ quan các ƯCV?

          Cũng xin đề nghị là JIPV nên rà soát lại các ƯCV đã được phong danh (cũ) xem việc xét duyệt có theo đúng thể thức mới không? Mình nghĩ là trường hợp GS Mậu chưa được public review và GS cũng không nhận được email của JIPV.

          Vd mình vừa tìm thêm được một bài của bác.

          Nguyen Van Mau, 1992. Boundary value problems and controllability of linear systems with right invertible operators, daw, Dissertationes Math., Warszawa, 1992, 172 pp.
          (tại http://news.vnu.edu.vn/ttsk/Vietnamese/C1736/C2020/C2021/2007/04/N15727/?35)

          Dissertationes Math. được index: http://science.thomsonreuters.com/cgi-bin/jrnlst/jlresults.cgi?PC=D&ISSN=0012-3862
          và có IF = 0.235: http://www.lib.wust.edu.cn/sci/scie/format_print_a-z_SCIE.asp?pageno=3

          • chim_nhon said

            Nhiệt liệt chào mừng bác Richmond đã quay lại JIPV để tranh luận tiếp! :)) Tôi thấy bác tranh luận hay quá. Bác “thả” dăm ba comments, sau đó lại đi vắng đâu đó 1 tháng, rồi lại quay lại “thả” dăm ba comments, lại đi vắng đâu đó ….

            Tôi nghĩ vấn đề rất rõ ràng: trường hợp bác NVM phải nói là không có 1.2 rồi, bây giờ chỉ đếm ISI thôi. Bác hãy lên phố Lý Thường Kiệt, Hà Nội cũ, đến đăng kí tài khoản truy cập ISI ranking và download các Tạp chí quốc tế ở Cục Thông Tin Khoa Học & Công Nghệ Quốc Gia (http://db.vista.gov.vn/login.aspx), chỉ 300k VND bác tha hồ sớt. Nếu bác tìm thấy thêm bài ISI nào của bác NVM mà chúng tôi chưa đếm, chúng tôi sẽ cảm kích bác vô cùng và hứa sẽ xin lỗi ông NVM cả gửi email trực tiếp và công khai trên JIPV này.

            Nói thêm là chúng tôi làm việc này như “vác tù và hàng tổng” ấy. Nên chúng tôi không đảm bảo rà soát để gửi email lại cho các vị đó đâu.

            P/s: Nói thêm với bác tờ Dissertationes Math. bác sớt được ghi rõ “2005 ImpactFactor: 0.235”, bác lại cắt béng đi 2005. Mỗi một năm IF một thay đổi bác ợ. Cũng có khi bị tụt hạng không được cover trong ISI nữa. Nhưng năm nào được cover sẽ có hết trong cơ sở dữ liệu Web of Science, nên bác ko sợ bị thiệt đâu. Nói chung bác làm cái tài khoản tra ISI đi, lúc đấy dễ nói chuyện.

            Trân trọng.

  4. Toanhoc said

    “Differential Equations ở trên chỉ được index từ năm 2000, còn tờ này với tên gọi DIFFERENTSIAL’NYE URAVNENIYA”

    Cả hai tờ này đều bình thường. Có gì về Toán xin nêu lên!

  5. Toanhoc said

    Hãy kiểm tra nhà toán học này có bao nhiêu ISI, nhưng ông là một tên tuổi trong Toán học. http://en.wikipedia.org/wiki/Besov_space

    JIPV nếu xét ông này thì phải dùng 1.2., nếu không thì hổn. Rất mong vài bác đừng dùng kiến thức lỏm chỏm để dọa mấy người thiếu thông tin?

    • Toanhoc said

      Oleg Vladimirovich Besov

      http://www.mi.ras.ru/~besov/cveng.html?submit=Papers#papers

      • GS.D said

        Ông này đăng chủ yếu ở Dokl. Akad. Nauk và Tr. Mat. Inst. Steklova, 2 trong những tạp chí hàng đầu của Nga!

        Có vài bài trong này là ok rồi đấy bạn Toanhoc ạ!

    • Richmond said

      Rất cám ơn bác Toanhoc đã nêu ra điều tôi muốn nói từ đầu: bác này rõ ràng có ít ISI vì các bài của bác được đăng trên tạp chí LX cũ và ISI không (không biết hoặc không thèm) index bác ạ. Nếu xét theo các tiêu chuẩn dỏm của JIPV, suy ra mấy GS nhà ta đi học LX mà không có 1.2 tất cả đều dỏm.

      • GS.D said

        Ông Mậu có tất cả 3 bài đăng ở Diff.ur., từ những năm 82-83. Nếu như ông ta đăng ở Dokl.Akad.Nauk hay Tr.Math.Ins.Steklova thì khác, còn loại Diff.ur thì ISI không cover những năm đó là đúng rồi.

        Ông Mậu là người khai sinh ra cái gọi là Thạc sĩ toán sơ cấp tại VN. Theo tôi thì đó là kẽ hở của những kẻ cơ hội, vì đọc nhiều luận án thạc sĩ do ông Mậu hướng dẫn. Rác!

        • Richmond said

          Vâng nhờ bác tìm hiểu giùm tại sao ISI index không cover những năm 82-83 ạ?

          Khoản Thạc sĩ toán sơ cấp và kẻ cơ hội gì đó thì có liên quan đến việc xét duyệt GS dỏm không hả bác? Thuyết tương đối của Einstein nhiều người cũng tưởng nhầm là rác lắm bác ạ. Bác nhắc tới khoản này lại làm tôi lại hiểu nhầm là bác có vấn đề cá nhân gì

          • GS.D said

            Chính xác là ISI không cover tạp chí Diff.Ur trong những năm 82-83. Còn bác hỏi vì sao thì tôi nghĩ nguyên nhân giống nguyên nhân tại sao ISI không cover cho các tạp chí của VN vậy.

            Hiển nhiên nền khoa học Nga nói chung và Toán học nói riêng có những đặc thù của nó, một phần mang tính lịch sử, một phần mang tính dân tộc. Một thời gian dài việc đăng bài ở nước ngoài là khó khăn vì nhà nước kiểm duyệt, nên người ta chỉ đăng ở những tạp chí trong nước. Nhưng điều đó không có nghĩa là nước ngoài không theo dõi các tạp chí của Nga và chất lượng của chúng. Đã có rất nhiều tạp chí được dịch ra tiếng Anh sau khi nó được xuất bản bằng tiếng Nga. Điều đó chứng tỏ phương Tây cũng quan tâm đến chất lượng của các tạp chí Nga và họ cũng xếp hạng khá nhiều tạp chí, như Doklad Akad.Nauk, hay Serveys of Math, Math. Notes …

            Đến đây tôi không bàn thêm về Diff. Ur. nữa.

            • Richmond said

              Đồng ý với bác ý ở đoạn thứ hai. Như đã nói ở trên, Diff. Ur. chỉ được index từ năm 2000 trùng hợp với việc bắt đầu từ năm này tạp chí đã được dịch ra tiếng Anh. Xin hỏi là nếu tạp chí này không được dịch ra tiếng Anh thì liệu có được ISI cover không?

              Ý kiến của tôi từ đầu tới giờ là việc đánh giá các ƯCV đào tào ở LX cũ nên có cách nhìn tổng quan và thấu đáo hơn vì có nhiều vấn đề bên cạnh khoa học thuần túy.

              Mấy bài Diff.Ur. chỉ là mấy bài mà tôi tìm được bổ sung, chứng tỏ việc public review cho các ƯCV chưa được thấu đáo lắm. Tôi tìm thêm được bài “Characterization of Volterra right inverses, Opuscula Math., vol. 6, p. 193-209, 1990.” Tờ này được MathSciNet index nhưng ISI thì không thì có tính không?

              • GS.D said

                Tôi thấy bác cứ vị vào LX cũ. Thì tôi dẫn chứng rồi đấy, việc bọn Tây dịch những tạp chí khác của Nga sang tiếng Anh mà Diff.Ur. trong thời gian đó không được dịch nghĩa là tụi nó có theo dõi chất lượng, vì tiền là tiền tụi nó bỏ ra để dịch phục vụ cho giới nghiên cứu dùng tiếng Anh.

                Còn nhìn tổng quan thì ông Mậu cũng chỉ chừng đó thôi chứ không phải là chuyên gia đầu ngành như báo chí ca ngợi (hay đôi khi do người cung cấp thông tin sai lệch cho báo chí!?).

                Còn sự khác biệt giữa MathSciNet và ISI ở đây người ta đã bàn nhiều, bác chịu khó lục lại mà đọc.

                Về núi rác thạc sĩ toán sơ cấp mà ông Mậu để lại cho nền GDVN thì quả là đáng sợ, bởi cái đó là công cụ kiếm tiền, moi tiền nhà nước, mà bản chất phần lớn là thuế dân tình đóng vào mà có được … Về trình độ của thầy hướng dẫn và của học trò, xin miễn bàn, vì cách nói của bạn chính là cách mà người ta hay dùng để bao biện. Thầy giỏi hoặc là tìm được trò giỏi hoặc là sẽ không có học trò! Chứ không phải là ôm một thứ rác để rồi cho ra lò cũng thứ rác đó nhưng được tô vẽ đẹp hơn.

                Phá lệ lần này để có ý cuối với bác.

                Trân trọng!

          • GS.D said

            Việc bạn Richmond đem cái thuyết của Einstein để so sánh tôi thấy thật buồn cười. Hình như bạn đang cố gắng bảo vệ cho bác Mậu một cách … “có mắt cũng như mù”! Ông Mậu đã có công đẻ ra “công nghệ” và góp phần tạo ra “một núi rác” thạc sĩ toán … sơ cấp cho nền giáo dục Việt Nam. Nếu có tính 3 bài ở Diff.ur cho ông Mậu thì cũng bị các bác ở đây xếp loại dỏm,))). Đến thế là cùng!

            Tôi xin dừng nói chuyện với bác Richmond tại đây!
            Trân trọng!

            • Richmond said

              À tôi đưa ra vd Einstein là để gây cười mà, cám ơn bác đã hiểu được sự hóm hỉnh của tôi nhé. J

              Vấn đề này “núi rác” tôi thấy không liên quan (lắm) đến việc xét dỏm, bác tự dưng đưa vào, tôi cũng thấy buồn cười. Ý kiến của tôi là trung lập, trước khi có ý kiến thì cũng nhìn trước ngó sau, chứ không đưa ra kết luận chỉ dựa trên suy nghĩ cá nhân. Ý kiến chủ quan của bác là rác, thế người khác lại thấy không phải là rác, thì thế nào là đúng? Nếu bác có bằng chứng cụ thể cho “một núi rác” thì cũng chứng tỏ là ý kiến của bác đúng, không có nghĩa là ý kiến đó liên quan đến việc đang bàn luận ở đây, i.e. việc học sinh thiếu năng lực không đồng nghĩa với việc thầy hướng dẫn làm khoa học kém.

              Xin cám ơn bác GS. D đã trả lời phản biện. Hẹn gặp bác một ngày gần đây.

  6. Toanhoc said

    Thạc sĩ toán sơ cấp là điều tệ hại nhất trong việc lạm dụng quyền lực của ông Mậu. Một kiểu kinh doanh bằng dỏm gián tiếp. Ông có đóng góp cho toán sơ cấp, nhưng đó k phải là việc của một GS như ông!

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: