Tạp Chí GS Dỏm Việt Nam

Journal of Incompetent Professors in Vietnam – JIPV

Phòng tranh luận khoa học cộng đồng

Posted by giaosudom on Tháng Chín 7, 2010

Ban lãnh đạo


Trưởng phòng: Editor Onlooker

Phó phòng: Editor Chim_nhon, kiêm Viện trưởng Viện Vinh Danh Nhà Khoa Học

*****************************

Quy định

Nội dung phù hợp với Quy định của JIPV. Những nội dung liên quan đến GS, PGS dỏm không được tranh luận ở Phòng này.

*****************************

Nội dung

  • Thông tin về trường dỏm, bằng dỏm

  • Thế nào là NCKH

  • Công bố ISI

  • …………………………………….

*****************************

Thông báo

  • Tính đến ngày 4/12/2010, Phòng tranh luận có 908 commentsđược chấp nhận. Để tiện theo dõi, 50 mục được tách ra thành một trang. Để đọc comments đầu tiên, Độc giả lick vào đây.

Những tranh luận đáng chú ý

*****************************

Danh sách những nicks đã bị đưa vào spams

Tèo đã nói

Tháng Chín 26, 2010 lúc 5:35 chiều e

Giaosudom@: Nick bác đã bị đưa vào spam. Giaosudom không có thời gian đùa giởn với bác, sẽ không có bất cứ giải quyết gì liên quan đến việc nick bác bị đưa vào spam. Mong bác thông cảm.

****************

la khanh linh đã nói

Tháng Chín 20, 2010 lúc 11:56 sáng e

Giaosudom@: JIPV không bàn về dân chủ vì Quy định không cho phép. JIPV không chấp nhận bất cứ phản hồi nào của tác giả liên quan việc JIPV xóa comment này. Nick này đã bị đưa vào danh sách spam. Mong tác giả thông cảm.

****************

drtreo đã nói

Tháng Chín 17, 2010 lúc 11:39 chiều

Giaosudom@: DrTreo đã mất quyền comments theo đề nghị của Trưởng phòng và theo những gì đã diễn ra. Việc dùng nick khác thì comments vẫn bị đưa vào spam. Mọi trao đổi với Tạp chí (nếu có) xin gửi qua email.

@DrTreo: Tôi có gì mà yên tâm với không yên tâm hả bác? Bác đã 2 lần đe dọa chúng tôi. Lần trước bác đem cái chức năng bác sĩ của bác ra dọa “tai nạn” rồi sẽ biết, lần này bác đe dọa … méc cấp trên. Cái đe dọa thứ nhất cho chúng tôi thấy bác là một kẻ sẵn sàng dùng thiên chức của mình để hại người vì lý do cá nhân. Tiếng Việt ta có chữ “đồ tể”. Cái đe dọa thứ hai của bác cho thấy bác có tính nết của … trẻ con. Nó nhỏ mọn lắm bác à. Cố gắng làm người lớn đi nhé! Ở đây bàn chuyện nghiêm túc, chứ không phải là nơi để bác đe dọa người khác.

Tôi đã đọc kỹ những comments của bác. Tôi chẳng thấy có ý gì cả. Tiếng Việt thì bác chưa rành, mà đã học thói khoe khoang loại tiếng Anh bồi của bác. Bác không tôn trọng tiếng Việt. Muốn vào phòng này thì phải nói chuyện đàng hoàng, đâu ra đó, có trước có sau, chứ không phải linh tinh hay đe dọa được.

Xét qua những “tội” trên của bác, tôi với tư cách trưởng phòng dề nghị Admin cấm bác DrTreo không cho vào phòng này nói chuyện nữa.

Onlooker

****************

****************************************************************

**********************************************

*************************************

Advertisements

1.222 phản hồi to “Phòng tranh luận khoa học cộng đồng”

  1. Outsider said

    Thưa Tiến sĩ Vũ Thị Phương Anh (TS PA),
    Vẫn nghĩ rằng người trí thức (hay ít ra là có vẻ trí thức ) là người đọc ít mà hiểu nhiều nên Outsider tôi định góp ý một lần cho chị rồi thôi . Không ngờ lại bị “níu áo” trở lại với những ý tưởng đầy vẻ cao ngạo, dạy đời trong bài trả lời sau:

    http://ncgdvn.blogspot.com/2011/03/socialization-of-education-trong-bai.html
    Chẳng hạn như:
    “Vì bài viết đòi hỏi có nhiều kiến thức nền về văn hóa, tôn giáo, xã hội Mỹ, nên nếu có chỗ nào các bạn không rõ, xin cứ trao đổi lại, tôi sẵn sàng dịch ra những đoạn có tranh cãi để dễ trao đổi. Chỉ mong các bạn đừng đọc sơ sơ rồi suy đoán và kết luận, vì sẽ dẫn đến tranh cãi kéo dài không có hồi kết.” (trích PA) và

    “tôi cảm thấy có một vài bạn, ví dụ như Outsider, đã có những kết luận chỉ dựa trên suy đoán thiếu cơ sở và thiếu chứng cớ. Tôi đề nghị nếu các bạn muốn kết luận điều gì, đặc biệt là liên quan đến những con người cụ thể, ví dụ như khi kết luận về tôi chẳng hạn, các bạn cần có chứng cứ rõ ràng, chứ không nên chỉ dựa vào những suy đoán cảm tính rồi kết luận.” (trích PA)
    Nay Outsider tôi xin mạn phép gửi đến TS PA thêm đôi điều cho rõ.

    Trước khi đi vào nội dung chính , cho phép tôi nhắc nhở TS PA về điều này : chắc TS là người quen “mục hạ vô nhân” nên cứ nghĩ rằng có nhiều người (trong đó có tôi ?) không biết gì về tiếng Anh, về văn hóa, tôn gíao và xã hội Mỹ? Đó là sự thiếu khiêm cung cần thiết ở một người được mệnh danh là làm GD. Dù sao, thì tôi cũng cám ơn TS PA về tấm lòng “ưu ái” này vì cũng có thể tôi sẽ cần đến nó một ngày nào đó-còn hiện nay tôi đang sống ở Mỹ nên “tấm lòng” đó ,cho tôi gửi trả TS.

    Tôi đã mất công đọc lại bài “Socialization of education” của Eric Rauch một lần nữa vì thật ra tôi chẳng thấy thú vị và rất ‘dị ứng” với những lập luận chỉ dựa trên Bible của ông ta! Có một điều,nếu ai có đọc bài này, đều phải nhận ra là ít ra thì Eric cũng là một người biết thế nào là phản biện học thuật. Ông đã trích dẫn ý kiến của người khác để phê bình cũng như đưa ra quan điểm của mình. Này nhé:
    “Our culture is being manipulated to worship the state. We see the state as a god, with the right to control everything which it chooses……… Man is as a god, determining for himself what is good and evil—measuring everything by his own invented standards, apart from God’s revealed standards.[2]” Harvey & Laurie Bluedorn, Teaching the Trivium: Christian Homeschooling in a Classical Style (Muscatine, IA: Trivium Pursuit, 2001), 56.
    Và đưa ra quan điểm của mình như sau:
    “It should go without saying that we should want less, not more, of this type of socialization for ourselves and our children……….Getting your money is the easy part. The last thing the state needs is your money; the first thing it needs is your mind.”

    ……………..
    Tôi định double check xem mình có hiểu đúng ý của Eric Rauch về khái niệm “Socialization of education” mà ông đề cập đến trong bài hay không. Cũng may TS PA đã làm việc này và cũng đồng quan điểm với tôi.
    Thiển nghĩ, Eric Rauch là người phản đối cái xu hướng của chính phủ Obama hiện nay về cái mà ông cho là “socialization of education” ( theo tôi nên sửa là socialist- socialization of education thì rõ nghĩa hơn). Đó là một qúa trình trong đó có sự can thiệp sâu của chính phủ Mỹ vào Giáo Dục. Nó vốn không có nhiều trong truyền thống của ngành GD ở Mỹ trước đây. Có nhiều lý do mà Eric viện dẫn vào đó để phản đối và một trong những lý do sâu xa và mạnh mẽ nhất đó chính là nền GD Thiên chúa giáo.
    Ông viết”
    “ If it is true that “the fear of the Lord is the beginning of knowledge,” and it is true that modern state-run education is purposefully teaching without reference to God, then it logically follows that government education is deliberately creating ignorance among the masses.[4] “
    Tôi không có ý bàn luận về giải pháp GD thay thế mà Eric Rauch đã đề nghị. Điều tôi muốn nói ở đây là khi đọc bài này chúng ta có thể thấy ít nhất là hai loại khái niệm về “socialization of education” mà Erich đã đề cập trực tiếp hoặc gían tiếp:
    1. “ Christian Socialization of Education” Tôi tạm gọi như vậy để nói đến mục đích của Eric Rauch.
    2. “ Socialist Socialization of education” : cái xu hướng của chính phủ Obama mà Erich muốn ám chỉ.
    3. “ Capitalist Socialization of education” được gían tiếp nhắc đến trong các chính phủ trước .
    Về một khía cạnh nào đó thì chúng ta phải thấy rằng qúa trình của chính phủ Obama hiện nay( theo ý của Eric Rauch) là một qúa trình “ngược” với qúa trình “xã hội hóa GD” đang diễn ra trong nước hiện nay. Điều này rất thú vị cho những ai đang nghiên cứu về GD trong nước. Chính vì không muốn đi sâu vào bài viết của Eric Rauch khi góp ý cho TS PA, tôi đã viết:

    “Trong khi chờ đợi chính thức câu trả lời của TS PTL, tôi mạo muội nghĩ rằng khó mà có thể cho rằng khái niệm “Socialization of education” trong bài viết của Erich Rauch là không cần thiết. Vì ở một khía cạnh nào đó, sự khác biệt về khái niệm (ngay cả trong trường hợp khái niệm có tính đối lập) cũng góp phần làm sáng tỏ cho những khái niệm mà tác giả muốn đề cập đến. Điều này rất cần cho những ai muốn đi sâu vào lĩnh vực chuyên ngành của mình. Phải chăng đây chính là hàm ý của tác giả bài tham luận? “

    Phải chăng tôi đã suy diễn không có cơ sở, theo cảm tính? Có lẽ,tôi đã đánh gía qúa cao trình độ của TS PA vì tôi đã expect rằng TS PA phải biết đọc những gì “between the lines” . Thực tế đã làm tôi thêm phần thất vọng. Ở địa vị của TS PA , tôi sẽ chính thức cám ơn người đã chỉ ra một tài liệu tham khảo có ích cho độc gỉa, mặc dù tác gỉa không có một viện dẫn nào ở đó trong bài tham luận của mình.
    Những ý kiến còn lại của TS PA, tôi nghĩ rằng không cần phải nhắc đến và người đọc sẽ tự hiểu . Sau cùng, tôi nghĩ rằng TS PA nên đặt tôi ra khỏi “tầm ngắm” của bà. Điều đó là một niềm vui cho tôi và có lẽ là một “may mắn” cho bà.

  2. Dongnghiep.VTPA said

    Giang hồ hiểm ác. Trình kém mà chém gió thì toi mạng. Tui học được ở trang này nhiều quá. Trang này chẳng những là giảng đường tốt cho một thạc sĩ như tui, mà còn cho cả TS, GS, PGS. Kinh thật!

  3. Đồngnghiệp2củaVTPA said

    Thấy bà TS chưa bao giờ có công bố khoa học VTPA dạy bảo dùng từ khóa “privatization” hay “makertization” hoặc “the use of market forces in education” để tìm tài liệu về “xã hội hóa” tôi tự hỏi “privatization” (tư nhân hóa) hay “marketization”(thị trường hóa) liệu có thể coi là tinh thần cốt lõi của “xã hội hóa” hay không. Tôi e rằng không! Tư nhân hóa là quá trình chuyển đổi quyền sở hữu. Vì cố ý hiểu xã hội hóa là tư nhân hóa nên người ta tính đến chuyện cổ phần hóa các trường ĐH công, một chủ trương cần rất nhiều cân nhắc thận trọng! Cũng không ít người cố tình hiểu xã hội hóa là thị trường hóa để phó mặc cho các trường ĐH tư trở thành cỗ máy kiếm tiền theo quy luật cạnh tranh và vì lợi nhuận. Xã hội hóa, nên hiểu đúng như nghị quyết 05 🙂 là “phát huy sức mạnh vật chất và tinh thần của toàn dân”, là hay nhất. Còn từ này phải dịch sang tiếng Anh như thế nào để người nước ngoài hiểu chúng ta muốn nói gì thì cần phải nghĩ thêm, nhưng dĩ nhiên không thể dịch là socialization (nếu như không kèm theo một lời giải thích), và càng không thể dùng “privatization” hay “marketization” như TS. VTPA đã gợi ý. Đọc bài của bà, người ta thấy những ý kiến thiếu xây dựng với mục tiêu xúc phạm cá nhân chỉ làm cho vấn đề trở nên lạc hướng thêm một cách không cần thiết; cái mà chúng ta cần chung tay góp sức là những lý giải và lý luận có hệ thống và có cơ sở để người trong và ngoài nước hiểu khái niệm “xã hội hóa” trong giáo dục Việt Nam, vì phải hiểu đúng thì mới có thể làm đúng.

  4. Dongnghiep.VTPA said

    https://giaosudom.wordpress.com/phong-giao-d%E1%BB%A5c-th%C6%B0%E1%BB%9Dng-xuyen/comment-page-1/#comment-2899

    Thế mà, nay các ngươi:

    Nhìn khoa học chậm tiến mà không biết lo

    Thấy công nghệ thụt lùi mà không biết thẹn

    Giáo sư ư? Biết “Thần đèn” chuyển nhà mà chẳng chạnh lòng

    Tiến sỹ a? Nghe “Hai lúa” chế tạo máy bay sao không tự ái?

    Có người lấy nhậu nhẹt làm vui

    Có kẻ lấy bạc cờ làm thích

    Ham mát xa giống nghiện “u ét đê”

    Ghét ngoại ngữ như chán phòng thí nghiệm

    Chỉ lo kiếm dự án để mánh mánh mung mung

    Không thích chọn đề tài mà nghiên nghiên cứu cứu

    Ra nước ngoài toàn muốn đi chơi

    Vào hội thảo chỉ lo ngủ gật

    Bệnh háo danh lây tựa vi rút com pu tơ

    Dịch thành tích nhiễm như cúm gà H5N1

    Mua bằng giả để tiến sỹ, tiến sy

    Đạo văn người mà giáo sư, giáo sãi.

    Thử hỏi học hành như rứa, bằng cấp như rứa, thì mần răng hiểu được chuyện na niếc na nô?

    Lại còn nhân cách đến vậy, đạo đức đến vậy, thì có ham gì bút bút nghiên nghiên.

  5. Vuhuy said

    PGS.TS hay con điếm?
    http://www.viet-studies.info/DiThay_DHQGHN.htm

  6. Vuhuy said

    PGS.TS Nguyễn Bá Diến hay con điếm Nguyễn Bá Diến?
    http://www.viet-studies.info/DiThay_DHQGHN.htm

    http://www.vnu.edu.vn/dhqg/contents/index.php?ID=363

    • Vuhuy said

      http://sinhvienluat.vn/diendan/showthread.php?p=217320

      Bác Diến thì nổi tiếng rồi, từ trường luật bác bị bật bãi sang Khoa Luật đấy, dưng mà em còn nghe nói (chính trưởng văn phòng luật nơi em làm trước là dân cao học Khoa luật nói) ngoài tiền bác còn Tình cơ

      Khoa luật mỗi khóa có khoảng 300 sinh viên nhưng có khoảng 13-15 cháu bằng giỏi là biết rồi các bác nhể. trong khi trường mình 1.700- 1.800 sinh viên mà khóa em (khóa 31) đỉnh cao nhất mới có 11 chú được bằng giỏi

  7. Dongnghiep.VTPA said

    Các nhà khoa học Việt Nam bị một người bình thường dụ khị sao thấy nhục nhã quá!

    Khoa học dỏm khác với khoa học thật ở nhiều điểm. Có thể kể ra vài đặc điểm chính như sau:

    * Thứ nhất, khoa học dỏm thường có xu hướng thờ ơ trước dữ liệu thật (hoặc chẳng làm thí nghiệm để thu thập dữ liệu) và cơ sở lập luận logic, mà chỉ tập trung vào niềm tin và ý chí.
    * Thứ hai, những “nghiên cứu” của khoa học dỏm lúc nào cũng mang tính rời rạc, chấp nối. Thông tin thì cắt xén một mớ hoặc dựa vào những tin đồn, hoặc dựa vào những tài liệu khoa học dỏm khác. Họ cũng chẳng thèm tốn công kiểm tra nguồn gốc và tính chính xác của tài liệu mà họ dùng.
    * Thứ ba, khoa học dỏm thường bắt đầu bằng một giả thiết cảm tính, hay một giả thuyết có thể làm hấp dẫn và kích động công chúng. Điển hình là những phát biểu mang tính tự hào dân tộc, như “ta đây là số 1 trên thế giới”.
    * Thứ tư, khoa học dỏm không quan tâm đến những tiêu chuẩn về chứng cứ. Đối với khoa học dỏm, người ta không muốn và ít khi nào đề cập đến những tài liệu khoa học xác thực trong các tập san khoa học chuyên môn. Khoa học dỏm không bao giờ trưng bày những bằng chứng khoa học với những tiêu chuẩn khắc khe để làm nền tảng cho những phát biểu của họ.
    * Thứ năm, khoa học dỏm chủ yếu nhắm vào công chúng không am hiểu khoa học. Vì nhắm vào công chúng nên khoa học dỏm thường đăng bài ở những tạp chí dành cho người không chuyên môn, và do đó, bài báo không có kiểm tra về phương pháp hay tính chính xác.

    http://nguyenvantuan.net/science/4-science/1228-vat-ly-co-hoc-cua-viet-nam-co-di-truoc-the-gioi-khoa-hoc-dom-va-khoa-hoc-that

    • Onlooker said

      Đọc bài này tôi thấy có nhiều khoa học dỏm ở nước mình quá. Cứ thấy nhan nhản trên báo chí các vị tiến sĩ giáo sư mà phát nôn.

    • Tuan Ngoc@ said

      Không thể nhục nhã hơn. Cái này gọi là khoa học nhục. Nếu mấy ông bà “GS.TS” được nêu trong các bài báo có hiểu biết tối thiểu về NCKH thì họ đã đề nghị hoặc giúp ông Thường viết một bài nghiêm chỉnh gửi một tạp chí quốc tế nghiêm chỉnh để được phán xét. Lợi dụng mấy ông nhà báo, chủ yếu là dân XH, để ca tụng một “kết quả” về cơ học. Chả nhẽ KHVN mạc vận đến thế sao?

    • Onlooker said

      Nên nhớ nước mình có 9000 GS/PGS. Chưa biết bao nhiêu vạn tiến sĩ, nhưng chắc chắn gấp 3-4 lần con số GS/PGS. Mỗi năm theo bác Tuấn chỉ có 900 bài báo khoa học. Vậy GS/PGS/TS làm gì? Ai bỏ tiền nuôi họ? Người ta nói đến tham nhũng trong kinh tế, nhưng tôi thấy tham nhũng học thuật còn ghê gớm hơn. Tham nhũng học thuật là mua bán bằng cấp công khai ngay từ trên trung ương xuống địa phương. Nền giáo dục và khoa học hư hỏng rồi.

    • vuhuy said

      Nhà nước nên khen thưởng ông Thường vì công vạch ra cái dỏm cái hèn của nhiều nhà cơ học, đại diện là chủ tịch hội cơ học GS dỏm và phản cảm Nguyễn Hoa Thịnh: https://giaosudom.wordpress.com/2010/08/11/gs-r%E1%BA%A5t-d%E1%BB%8Fm-nguy%E1%BB%85n-hoa-th%E1%BB%8Bnh/.

      Ông Thường chỉ lay nhẹ cành cây mà đàn khỉ chui rút đâu mất.

      Cũng xin cảm ơn bác Chính, bác Khang đã cho ý kiến, nhưng sao chưa thấy đăng báo chính thức…..?

  8. Tuan Ngoc@ said

    Những người có trách nhiệm nên nghiêm túc học tập mẹ của cậu Jacob:

    His mother, not sure if her child was talking nonsense or genius, sent a video of his theory to the renowned Institute for Advanced Study near Princeton University. http://www.dailymail.co.uk/news/article-1369595/Jacob-Barnett-12-higher-IQ-Einstein-develops-theory-relativity.html#ixzz1Iq7O1EUl

    (mẹ cậu ấy không chắc liệu con mình có phải là thần đồng hay không nên đã gửi kết quả của cậu ấy sang Viện Nghiên Cứu Cao Cấp Princeton để nhờ kiểm chứng)

    Mấy “nhà khoa học” ta làm gì? Tổ chức hội nghị (= tiền của dân) để gật gù theo kiểu “càng già càng giỏi, đầu càng bạc càng hàn lâm, học hàm học vị càng cao càng ….” và cuối cùng “quyết định” nhờ mấy ông nhà báo chả hiểu gì về cơ học viết bài nổ inh ỏi cho chắc ăn, tức báo chí và nhân dân đã “nghiệm thu”.

    Nếu tôi là những “GS.TS.VS”, được báo chí nêu đích danh, đã bị ông Thường “dạy khôn” như thế thì chắc tôi phải đâm đầu vào cột mà chết cho rùi. Tôi nghĩ mấy ông nhà báo đã chơi khâm mấy vị đó!

  9. Outsider said

    Nhân chuyện này nhớ chuyện năm xưa. Một kỹ sư (?) X đưa ra tin động trời: lý thuyết Tương đối của Einstein sai! Và công bố công trình của mình. Thế rồi một tờ báo lớn của TPHCM đã tổ chức hội thảo về dự án này. Điều suy nghĩ đầu tiên của tôi là tại sao những phát kiến dỏm được tung hô trên báo chí phần lớn lại rơi vào Vật Lý (lý thuyết) và Toán . Câu trả lời cho chính tôi là : đó là những ngành có tính chất trừu tượng. Ở những ngành này, biên giới giữa cái tầm thường và dị thường , đôi khi, rất mong manh. Chỉ cần một vài ý tưởng, một vài phép tính,…là đủ để người ta nghĩ rằng mình trở nên dị thường!
    Mỗi cá nhân có quyền cho mình trở thành những “thiên tài, lỗi lạc”. Điều quan trọng nằm ở chỗ tại sao ở VN những hiện tượng công trình “dỏm” lại được báo chí tung hô nhiều như vậy. Theo thiển ý, không phải các nhà báo ( vốn là dân KHXH) lại đủ tự tin để đưa những điều này lên mặt báo để công chúng biết đến, mà vì họ ( các nhà báo) đã có ít nhiều các nhà khoa học “đầu đàn” chống lưng mặc dù đã có những phản biện ( nghiêm túc) trước đó.
    Vấn đề bây giờ là tại sao những phản biện nghiêm túc của các nhà khoa học thật lại không có đủ sức để ngăn cản ý đồ xuất hiện của các công trình dỏm đó trên báo chí? Câu trả lời (của chính tôi) là điều mà dân gian thường gọi :”cá đối bằng đầu” hay nói “văn vẻ” như một người bạn thì đó là hiện tượng “mất lòng tin” trong xã hội VN ngày nay. Thật vậy, không phải chúng ta không có những nhà khoa học thật sự , không phải chúng ta không có những cơ quan có thẩm quyền (ít nhất về chuyên môn). Nhưng có qúa ít tiếng nói của người làm khoa học thật hay đúng hơn là tiếng nói của họ hiếm hoi và không có sức nặng trong muôn vàn “tiếng vang” của các nhà khoa học dỏm. Rồi thì , nhìn đâu dường như cũng chỉ thấy “cái dỏm” mà không thấy “cái thật”. Thế là “em biết tin ai bây giờ ?” ( lời bài hát của VTA) : ai cũng thế cả, tiến sĩ cả, GS , PGS cả! nên ý kiến của TS này, GS, PGS (dỏm) nọ có chắc gì là đúng , là đáng tin , là có thẩm quyền hơn TS, GS, PGS (dỏm) khác. “Cá đối bằng đầu” là vì thế!
    Trong buổi hội thảo năm xưa về lý thuyết của ông X nọ, tôi còn nhớ ( vì xem qua clip video) có các vị TS, GS, PGS ngồi ở bàn chủ tọa. Họ làm gì ngoài việc cười cười, gật gật , gù gù ? Thế nhưng, có một vị tham gia đặt câu hỏi với những người phản biện ( hội VL TPHCM) như sau: “ các vị có biết không- thời gian 4 chiều là gì không?” (đại ý). Không thấy ai trả lời. Người này nói tiếp: “ chiều thứ tư nó ở sau lưng các bạn đấy!” (đại ý). Không thấy ai phản ứng (đáng lẽ phải cười thật to chứ)! Sau đó tôi mới biết vị này hình như ở Viện nghiên cứu xã hội nào đó ở TP HCM. Thế đấy, không phải lĩnh vực của mình mà người ta còn nhảy vào tung hoành ngang dọc , huống chi là ……..Ôi khoa học, làm khoa học ở VN với qúa nhiều ‘dị nhân” như thế !

  10. Dongnghiep.VTPA said

    Outsider: “Cá đối bằng đầu”

    Nhất trí! Nhất trí! Dỏm quá nhiều rồi. Nhận thức của các cây đa cây đề kém xa một bà mẹ 36 tuổi, không có NCKH, bên Anh. Kém xa thế sao?

    Tôi có bài toán này, kính mời các bác giải hộ:

    Cho một cái hộp to chứa 100 GS, PGS Việt Nam. Nếu bóc ngẫu nhiên (bởi hai bàn tay, có thể lắc chiếc hộp nhiều lần để kết quả khách quan) 10 người vị thì được bao nhiêu vị dỏm theo định nghĩa của JIPV? Tính xác suất có 0, 1, …, 10 vị dỏm?

  11. Inhainha said

    Gần đây tôi mới được biết đến ông Nguyễn Văn Thường với “phát minh” đánh đổ cơ học cổ điển, và được nhiều báo lá cải tung hô.

    Tôi muốn submit bài phản biện lên JIPV, các bác có nhận đăng không? Nó có bị out of scope không? Mong các bác cho ý kiến.
    ————————-
    Giaosudom@: Về khoa học, JIPV là nơi phản biện công khai mà. Bác hỏi thế tội em quá. He he. Phòng trang luận là nơi “không xỉn không về” đấy nhé.

  12. Onlooker said

    Một cách làm khoa học phổ thông. Hai chục năm có 2 công trình và số bài báo phổ thông đạt mức kỷ lục về rùa. Ông này xứng đáng được phong giáo sư dỏm.

    —–

    http://nguyenvantuan.net/science/4-science/1237-cu-rua-ho-guom-va-lam-khoa-hoc-theo-kieu-pho-thong-

    Cuối cùng thì cụ rùa Hồ Gươm cũng được “tạm giam” đề điều trị. Sự việc chỉ xảy ra sau nhiều cuộc họp qua … nhiều tuần lễ. Cũng may là cụ còn sống sót. Nhưng qua diễn tiến của sự việc, chúng ta thấy rõ một khoảng trống khoa học, hay nói đúng hơn là khoảng trống về cách làm khoa học ở Việt Nam. Mặc dù rùa Hồ Gươm thuộc loại hiếm và có ý nghĩa tâm linh, nhưng cho đến nay chúng ta biết rằng Việt Nam không có những chuyên gia “rùa học” đúng nghĩa. Như bài báo phản ảnh, vị giáo sư khả kính về rùa thật ra ít có công trình nghiên cứu về rùa. Hai mươi năm nghiên cứu về rùa, nhưng vị giáo sư này chỉ có 2 công trình khoa học về rùa. Hai công trình này dù được hội đồng nghiệm thu đánh giá là xuất sắc, nhưng công chúng chẳng mấy ai tiếp cận được. Thật vậy, không có một bài báo khoa học trên một tập san khoa học quốc tế nào về rùa từ Việt Nam cả!

    Chúng ta không có những thông số sinh học về cụ rùa Hồ Gươm. Thật vậy, ngay cả bao nhiêu cụ rùa trong Hồ Gươm mà cũng chẳng ai biết; tất cả chỉ là võ đoán! Ngay cả giới tính của rùa cũng chẳng ai khẳng định. Thật là khó tưởng tượng nổi một báu vật trong tay mà chúng ta không có thông tin gì về báu vật đó. Đó là do cách làm khoa học theo kiểu phổ thông, tức là làm khoa học tài tử. Sản phẩm của khoa học tài tử là những bài báo trên báo chí phổ thông, những trao đổi ngắn trên tivi hay hệ thống truyền thanh. Nhưng đó không phải là khoa học nghiêm chỉnh. Một nền khoa học phổ thông không thể nào làm cho đất nước tiến bộ được.

    Cách làm khoa học phổ thông của nhiều người làm tôi nhớ đến cách làm khoa học của người phương Tây. Đó là cách làm khoa học “đến nơi đến chốn”, tìm hiểu từ các vấn đề cơ bản, đến thực nghiệm, và ứng dụng vào thực tế. Đành rằng quá trình từ nghiên cứu cơ bản đến ứng dụng vào thực tế là một thời gian dài, nhưng đó là con đường không thể khác được. Trong khoa học, không có cái gọi là “đi tắt đón đầu”. Một phát hiện về mối liên hệ giữa DNA và bệnh tật phải được nghiên cứu từ cơ bản để biết cơ chế của mối liên hệ, đến ứng dụng vào lâm sàng. Cố nhiên, trước khi đưa vào ứng dụng, người ta phải làm nhiều nghiên cứu độc lập để loại bỏ những yếu tố ngẫu nhiên hay yếu tố nhiễu. Chưa có những nghiên cứu độc lập mà đã tuyên bố trên báo chí phổ thông là không đúng qui trình làm khoa học.

    Làm khoa học thật đòi hỏi sự dấn thân. Dấn thân thực tế, chứ không phải chỉ … đọc báo phổ thông. Còn nhớ cách đây vài tháng khi nghe tin Việt Nam có một loài thằn lằn mới, hai cha con nhà khoa học Mĩ đã bỏ tiền túi mua vé máy bay sang Việt Nam, mướn xe ôm lặn lội đến tận nơi để tìm hiểu. Họ còn lấy mẫu đem về Mĩ phân tích DNA, và trong tương lai sẽ công bố kết quả nghiên cứu trên các tập san khoa học quốc tế. Lại nhớ đến chuyện khám phá gene LRP5, chỉ vì một ca tai nạn xe ôtô, các nhà nghiên cứu Mĩ đã bỏ công và thời gian cá nhân ra “truy tìm” cho được gia đình có “xương đặc”, họ còn bỏ tiền và mang thiết bị sang tận Thổ Nhĩ Kì chỉ để xét nghiệm thành viên trong đại gia đình, và để nối kết câu chuyện. Gene LRP5 được khám phá từ sự dấn thân đó. Cách làm khoa học như thế không phải là cá biệt, mà đã từng xảy ra ở nước ta trước đây. Vào thập niên 1960, khi có báo cáo một người lính Mĩ bị dịch hạch ở Tây Nguyên, thế là trung tâm quân y Walter Reed gửi một đoàn chuyên gia sang Tây Nguyên để nghiên cứu. Kết quả của nghiên cứu là một loạt 6 bài báo khoa học công bố trên các tập san y khoa danh giá thời ấy, mô tả từ lịch sử dịch hạch ở VN đến từ đâu (Hồng Kông), vào Việt Nam qua tỉnh thành nào, lan truyền sang các tỉnh lân cận ra sao, và mối tương quan giữa biến đổi khí hậu và tần số dịch hạch. Những số liệu đã thu thập trên 50 năm mà tôi thấy vẫn còn nguyên giá trị khoa học. Ngày nay, khi làm nghiên cứu về dịch hạch, tôi vẫn thấy phải nghiêng mình cám ơn các bác sĩ Mĩ đã để lại một di sản rất quí báu.

    Di sản họ để lại có giá trị lâu dàu vì họ làm khoa học nghiêm chỉnh. Thử hỏi nếu chỉ nhìn vấn đề một cách hời hợt thì làm sao có khoa học nghiêm chỉnh.Tiếc thay, ở nước ta, nhiều người nhìn vấn đề chẳng những hời hợt mà còn quá đơn giản. Người ta chỉ làm cho có cái bằng thạc sĩ, tiến sĩ và dừng ở đó, chứ chẳng có sự dấn thân, theo đuổi. Lại có tâm lí “Tụi Tây nó làm hay hơn, mình làm chi để tốn công”. Đó là tâm lí đầu hàng ngay từ lúc chưa làm! Buồn thay, cái tâm lí đó hiện hữu không ít trong giới khoa học và sinh viên ở Việt Nam.

    Đó là bên y học, còn bên văn hóa và nhân chủng học, tôi thấy nhiều kiến thức và dữ liệu về người Việt và đất nước Việt Nam lại được giới khoa học nước ngoài lí giải hay hơn và đầy đủ hơn giới khoa học VN. Thử đọc Kinh Dịch chúng ta sẽ thấy người phương Tây viết dễ hiểu hơn, đầy đủ hơn và uyên bác hơn là người Việt (hay người Tàu) viết.

    Tôi cứ tưởng một người bỏ ra cả 20 năm theo đuổi về rùa ắt phải am hiểu tường tận về rùa, nhưng thực tế hình như không phải như vậy. Tác giả Lão Phạm cho biết “20 năm nghiên cứu của PGS Đức mang đến cho ông một tấm giấy chứng nhận kỷ lục Việt Nam cho người có nhiều bài viết về Rùa Hồ Gươm nhất nước. Song, những bài viết ấy không mang lại cho cộng đồng bất cứ thông tin khoa học nào đáng kể về con rùa Hồ Gươm. Thậm chí, con rùa mà theo ông là cá thể duy nhất ở Hồ Gươm mà ông đặt tên là rùa Lê Lợi, là đực hay cái thì ông cũng không biết”. Điều này nói lên một điều hiển nhiên mà nhiều người, kể cả người viết bài này, từng lên tiếng: chúng ta cần một chuẩn mực khách quan để đánh giá một công trình khoa học (và thành tựu của một nhà khoa học).

    Theo thông lệ quốc tế, một công trình khoa học chỉ có thể xem là hoàn tất nếu kết quả công trình đó được công bố trên những tập san khoa học có bình duyệt (peer review). Chỉ qua bình duyệt và qua công bố quốc tế thì người ta mới có thể đánh giá công trình khoa học đó ra sao. Một công trình nghiên cứu tiêu nhiều triệu đồng (của dân) mà không được công bố trên các tập san khoa học có bình duyệt thì không thể xem là hoàn tất được, và tác giả vẫn còn nợ người dân. Những bài viết trên báo chí phổ thông không thể và không bao giờ xem là bài báo khoa học. Những abstracts trong hội nghị cũng không phải là những bài báo khoa học.

    Liên quan đến bệnh cụ rùa, có một thông tin làm tôi thắc mắc hoài. Đó là tin trên Tuổi Trẻ cho biết “Kết quả phân tích ADN ở những phòng thí nghiệm cho thấy, bên trong cơ thể cụ rùa không có trọng bệnh. ADN cho thấy 90% những phán đoán ban đầu của chúng tôi về tình hình sức khỏe cụ rùa là đúng.” Tôi không biết phân tích DNA như thế nào mà có thể biết bệnh trong cơ thể cụ rùa. Bệnh gì? Phán đoán ban đầu là phán đoán bệnh gì? Ở người, giới khoa học tốn nhiều tỉ USD mà vẫn chưa dùng (hay chưa dám dùng) DNA để chẩn đoán bệnh. Ấy thế mà ở nước ta, có người có thể dùng DNA để chẩn đoán bệnh của rùa. Phát triển này cần phải công bố cho cộng đồng quốc tế biết, chứ không nên chỉ tuyên bố trên báo chí phổ thông trong nước.

    Với cách làm khoa học phổ thông như thế chúng ta không ngạc nhiên khi thấy năng suất khoa học quốc gia rất thấp so với quốc tế. Cả nước có gần 9000 giáo sư và phó giáo sư (chứ không phải 7000 như tác giả viết) và nhiều vạn tiến sĩ (không biết con số chính xác là bao nhiêu) mà mỗi năm công bố không đến 1000 bài báo khoa học quốc tế thì quả là một điều bất bình thường. Vấn đề là vì cộng đồng khoa học VN chưa tạo ra những chuẩn mực khách quan để đánh giá thành tựu một nhà khoa học. Vì thiếu một chuẩn mực khách quan, nên có sự lẫn lộn giữa bài báo phổ thông hay abstract trong hội nghị và một bài báo khoa học nghiêm chỉnh. Từ sự lẫn lộn này dẫn đến những sai lầm trong đánh giá và đề bạt các chức danh khoa học. Tình trạng vàng thau lẫn lộn cũng xuất phát từ sự thiếu chuẩn mực khách quan cho một công trình nghiên cứu khoa học. Và, từ đó chúng ta có rất nhiều nhà khoa học phổ thông, nhưng rất ít những nhà khoa học thứ thiệt.

    Có lẽ dịp chữa bệnh cho cụ rùa là dịp lí tưởng để thiết lập các tiêu chuẩn để đánh giá một công trình khoa học. Cần phải thay thế “nghiệm thu” bằng những bài báo khoa học quốc tế mà Quĩ Nafosted của Bộ Khoa học và Công nghệ đang áp dụng. Một công trình mang tiếng là nghiên cứu khoa học mà không công bố được kết quả trên các diễn đàn quốc tế thì không thể xem là khoa học được.

    NVT

  13. Onlooker said

    Mấy người này mai mốt là sếp ta đó. Họ sẽ đè đầu cưỡi cổ ta cho mà xem.

    ****

    http://dantri.com.vn/c728/s728-472672/nhieu-nhuong-den-the-la-cung.htm

    Nhiễu nhương đến thế là cùng

    Tỉnh Sóc Trăng vừa có đợt kiểm tra bằng cấp của cán bộ, viên chức địa phương, bước đầu đã phát hiện 282 trường hợp sử dụng văn bằng bất hợp pháp.

    Nguy hiểm là có 40% số này công tác trong ngành giáo dục. Những người sử dụng bằng giả thừa nhận, đã mua với giá từ ba triệu đến vài chục triệu đồng/một bằng.

    Trước đó tại Long An, chỉ qua một đợt rà soát hồ sơ cán bộ dự kiến cơ cấu vào cấp ủy đại hội Đảng bộ cấp cơ sở, phát hiện 90 trường hợp sử dụng bằng giả. Tỉnh Cà Mau cũng từng phát hiện nhiều giáo viên, cán bộ tòa án, viện kiểm sát sử dụng bằng giả. Nếu thẳng tay làm rộng ra, sẽ còn nhiều địa phương có cán bộ, viên chức sử dụng bằng giả như Sóc Trăng, Long An; hầu hết đều mua bằng tốt nghiệp bổ túc trung học phổ thông. Từ cái bằng giả này, lại học lên đại học, thậm chí học luôn cao học.

    Thật khủng khiếp, bằng bổ túc còn không học nổi phải đi mua, vậy mà về sau trở thành cử nhân, thạc sĩ. Cái sự học nhiễu nhương đến thế là cùng.

    Học giả, bằng gian để thăng quan tiến chức, chiếm những chiếc ghế trong chốn quan trường. Những vị quan không học hành tử tế và có cái tâm gian dối thì không thể làm việc công có chất lượng và chính trực. Đôi khi, do thiếu kiến thức, những người có trách nhiệm lại đưa ra các quyết định để lại những hậu quả cho xã hội. Thực tế không thiếu những vụ việc chứng minh rằng, thiệt hại kinh tế, xã hội có nguyên nhân của những quyết định được sinh ra từ những hạn chế trong nhận thức – hệ quả tất yếu của bằng giả.

    Cán bộ tòa án, viện kiểm sát mà không học, phải mua bằng giả thì quá nguy hiểm. Sinh mạng, tài sản công dân, doanh nghiệp giao vào tay những người không có kiến thức mà có quyền phán quyết thì họa khôn lường. Mỗi một vụ án luôn có những tình tiết phức tạp, cán bộ của các cơ quan tố tụng phải có trình độ học vấn cao, tinh thông pháp luật, có kỹ năng điều tra, có kiến thức tội phạm học mới chứng minh được sự thật khách quan, trả lại công bằng.

    Nếu không có kiến thức, chưa nói cái tâm không thẳng ngay, thì oan sai chồng chất. Người làm trong ngành giáo dục hoặc giáo viên trực tiếp dạy học, lại là người phải mua bằng giả thì còn giáo dục ai, dạy ai? Cán bộ, công chức trong bộ máy chính quyền, phải giải quyết công vụ hằng ngày, nếu trình độ hạn chế thì công việc trì trệ, ảnh hưởng đến chất lượng của chính quyền và kìm hãm sự phát triển của địa phương.

    Tỉnh Sóc Trăng mạnh tay làm rõ những trường hợp sử dụng văn bằng bất hợp pháp. Nếu các địa phương trong cả nước đều kiểm tra nghiêm túc và xử lý cán bộ sử dụng bằng giả thì sẽ loại bỏ được những người yếu kém, để thay vào đó những người có năng lực và phẩm chất đạo đức. Cải cách hành chính không thể có hiệu quả cao khi trong bộ máy hành chính còn tồn tại những cán bộ, công chức không học hành tử tế và tiến thân bằng những tấm bằng giả.

    • vuhuy said

      Rất tiếc giải Nobel không mua được, nếu mua được thì VN có khối giải Nobel. BS Ngọc nhận xét

      Nobel khoa học? Trình độ khoa học của ta quá kém thì không nên nhắc đến giải này. Trong một xã hội mà tự do học thuật không được tôn trọng (thậm chí không có) và đại đa số những người cầm cân nảy mực là dỏm, ngồi sai chỗ, thì làm sao hiểu được giá trị thật của sáng tạo khoa học. Trong một xã hội mà danh được mua tước được bán công khai thì làm sao có được một nền khoa học tử tế. Một “nền khoa học” mà trong đó những kẻ bất tài, nhếch nhác về trình độ, suốt ngày huênh hoang trên báo chí và tivi qua mặt nạ “giáo sư” và “nhà khoa học” thì đó là nền khoa học gì? Tôi cho rằng đó là một nền khoa học tam thói: tiểu nông, tiểu trí và tiểu xảo. Một nền khoa học như thế thì xin đừng nói đến Nobel trong khoa học.

      http://bsngoc.wordpress.com/2010/10/09/gi%E1%BA%A3i-nobel-va-vn/#comment-175

  14. Onlooker said

    @Đi Tìm viết: “Chả hiểu nhân vật VTPA này nghĩ gì, mà cứ xem qua bảng xếp hạng của EF rồi phán như đinh đóng cột. Đành rằng các chỉ số kia có giá trị tham khảo, nhưng không phải nó là chuẩn mực gì cả để mà dựa theo đó rồi phán.

    Nếu là một người cẩn thận và có hiểu biết tối thiểu về NCKH, khi xem bảng xếp hạng như thế, việc quan trọng nhất là ta phải xem phương pháp tạo ra cái index kia như thế nào và họ có nói đến những hạn chế gì”

    Bác Đi Tìm đã bắt trúng mạch! Đó là vấn đề. Vấn đề là bà TS không biết phương pháp NCKH, nên làm sao có thể đánh giá bảng xếp hạng. Viết linh tinh, lung tung, được fan ảo và nhân viên tung hô, bà tưởng mình là chuyên gia thứ thiệt. Tội nghiệp.

    Bà tự cho mình là người có thẩm quyền về tiếng Anh, làm như cả đại học quốc gia này và cả nước này chẳng ai hơn bà ấy. Nhưng trong thực tế thì chúng ta thấy gì? Tiếng Anh của bà sai be bét. Không tin thì thử đọc bản tin mới nhất của bà sẽ thấy. Tôi không hiểu ban giám đốc đại học quốc gia có kiểm tra trình độ bà này trước khi cho về làm việc hay không, nhưng với trình độ như thế bà chỉ làm trường xấu hổ.

  15. dom210 said

    Giảng viên: PGS. TS Hà Loan
    nguyên trưởng khoa Lý, ĐHSP Hà nội 2
    Bảo vệ luận án tiến sĩ năm 1997 tại viên vật lí
    Được TS cho biết đã có 1 bài báo công bố trên tạp chí của Nhật.
    Xin các bác kiểm tra có đạt trình độ quốc tế không?
    Hà Loan rất giỏi trong các bài giảng về cơ học lí thuyết.
    Xin cảm ơn.

  16. dom210 said

    Kính nhờ BQT cho tôi biết cách chỉnh sửa lại bài. Trân trọng cảm ơn.

  17. tiensydom said

    Oi, cac vi tien sy dom va hoi dong bao ve luan an tien sy cung chi nhu vay thoi sao?
    http://nld.com.vn/20110416094351456p0c1017/bi-hai-luan-an-luoc.htm

    • Onlooker said

      Chẳng có gì ngạc nhiên bác à. Chắc gì các thầy cô và chính các vị đang nói đó biết thế nào là đạo văn. Họ có được huấn luyện gì đâu. Nghĩ cho cùng, Lê Đức Thông là nạn nhân của hệ thống, chứ bản thân anh ta là một người đầy triển vọng. Chính cái hệ thống đã làm tiêu tan sự nghiệp của anh.
      ————-
      Giaosudom@: Mời các bác xem “Đề tài JIPV đang nghiên cứu “Thực trạng về NCKH ở các đại học & viện nghiên cứu ở Việt Nam”: vừa nghiên cứu vừa công bố”. Địa chỉ Việt Nam viết lộn xộn khó tra thật!

  18. Onlooker said

    Một phát hiện mới các bác ơi. Ngô Bảo Châu là “Bậc thầy của dân tộc”.

    “Vì vậy khi muốn tham vấn ông, hơn thế là một chút muốn đối thoại, thấp hơn là chia sẻ hay trao đổi, chúng ta nên tự biết mình là đang kiến diện một bậc thầy. Và buộc phải tôn trọng ông như một bậc thầy. Ông là một đẳng cấp cao, không thể như cành lá bên đường ta cứ muốn hái là với.”

    http://chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Luan-Ly/Dang_cap_tri_thuc_may_nguoi_an_theo_Ngo_Bao_Chau/

    Mô Phật!

    Bác Hội Toán Học, vuhuy, Tuan Ngoc@ đâu rồi? :-))

    • Hội Toán học said

      Tôi đã nói nhiều rồi. NBC biết chuyên ngành hẹp của NBC, người khác biết chuyên ngành hẹp của họ. Người khác đụng vào chuyên ngành của NBC thì tạm gọi là “không có vé”, ngược lại NBC chạm vào “món” của người khác xem, có “ná thở” hay không thì biết.

      Nói thế để các bác thấy mỗi người có một món. Cở Terry Tao, http://www.math.ucla.edu/~tao/, thì tôi mới nể. Tao thì hầu như cái nào ông cũng “xơi” được. Một nhà toán học từng nói Tao hiện được coi là the best trong Toán, http://www.youtube.com/watch?v=xKWm-zPHnrw&playnext=1&list=PL6199EE57BA377552.

      Hiện tại NBC vẫn phải tiếp tục làm việc nhiều hơn nữa. Giỏi được chuyên ngành hẹp là đã qúi rồi. NBC chứng minh được một vấn đề lớn nên được giải thưởng thì càng qúi hơn. Nhưng đó cũng chỉ là hạn hẹp trong một chuyên ngành. Cái hạn hẹp này cũng chưa thể mang lại lợi ích trực tiếp gì cho đời sống.

      Về Toán là thế, về những thứ khác thì sao? Bình thường như người khác thôi. NBC vẫn phải học những thứ khác nếu muốn biết. Cái gọi là “bậc thầy” (nói chung) là sự đần độn đến mức ấu trĩ, những kẻ ngu hèn và kém cõi thì đương nhiên phải “buộc phải tôn trọng ông như một bậc thầy”.

      Cái gọi là “đẳng cấp cao” là chỉ trong cái hạn hẹp của ông, nếu vợ ông bị vở kế hoạch hoặc sử dụng “biện pháp” không an toàn nên bị… thì cái hiểu biết trong chuyên ngành hẹp của ông cũng chả giúp gì ông được. Do đó “không thể như cành lá bên đường ta cứ muốn hái là với” chỉ đúng đối với những kẻ thấp kém về khoa học và đần độn về nhận thức.

      Tóm lại NBC giỏi trong chuyên ngành hẹp của ông, ngoài ra ông cũng chỉ là người bình thường như mọi người. Đừng nên ấu trĩ mà thần thánh ông.

      Xin dẫn chứng: NBC đụng sang chính trị đã bị tạm gọi là “thất bại”, và NBC còn phải học nhiều về chính trị: http://bsngoc.wordpress.com/

      Đoạn trên có thể sửa lại:

      “Vì vậy khi muốn tham vấn ông (về vấn đề ngoài chuyên ngành hẹp trong Toán của ông), hơn thế là một chút muốn đối thoại (nếu chả biết gì về Toán), thấp hơn là chia sẻ hay trao đổi (nếu ngu đần về NCKH), chúng ta (ngưòi nào thần tượng NBC) nên tự biết mình là đang kiến diện một bậc thầy (về một chuyên ngành hẹp trong vô số chuyên ngành trong Toán). Và buộc phải tôn trọng ông như một bậc thầy (nếu nhận thức của mình thuộc loại ngu si). Ông là một đẳng cấp cao (chỉ trong chuyên ngành hẹp của ông, chạm sang lĩnh vực khác có khi ông “toi mạng”), không thể như cành lá bên đường ta cứ muốn hái là với (vì cái chuyên ngành hẹp của ông không phải ai cũng bị hấp dẫn, nhưng những kẻ đần độn và ngu si và không biết gì thì dễ bị “hấp dẫn”).”

      Tôi mệt mấy cái trò ngu si “thần thánh hóa” rồi nhé. Bác Onlooker nên tha cho anh em, để anh em có ít thời gian nghiên cứu cái chuyên ngành hẹp của mình để kiếm cơm 🙂 Bác cứ “khích” anh em hoài 😉

  19. Hội Toán học said

    Sửa lại tí:

    “Vì vậy khi muốn tham vấn ông (về vấn đề trong chuyên ngành hẹp trong Toán của ông), hơn thế là một chút muốn đối thoại (nếu chả biết gì về Toán), thấp hơn là chia sẻ hay trao đổi (nếu ngu đần về NCKH), chúng ta (ngưòi nào thần tượng NBC) nên tự biết mình là đang kiến diện một bậc thầy (về một chuyên ngành hẹp trong vô số chuyên ngành trong Toán). Và buộc phải tôn trọng ông như một bậc thầy (nếu nhận thức của mình thuộc loại ngu si). Ông là một đẳng cấp cao (chỉ trong chuyên ngành hẹp của ông, chạm sang lĩnh vực khác có khi ông “toi mạng”), không thể như cành lá bên đường ta cứ muốn hái là với (vì cái chuyên ngành hẹp của ông không phải ai cũng bị hấp dẫn, nhưng những kẻ đần độn và ngu si và không biết gì thì dễ bị “hấp dẫn”).”

  20. Hội Toán học said

    http://chungta.com/Desktop.aspx/Tac-gia/Tac-gia/Nguyen_Hoang_Duc/

    NGUYỄN HOÀNG ĐỨC (sinh 25-4-1957)

    – Học trường đại học An Ninh
    – Viết văn từ 1991 với chuyện ngắn đầu tay Những người chăn kiến.

    Mẹ tôi nói “nhà văn nói láu, nhà báo nói thêm” mà tôi đâu có tin, tôi luôn cho họ là trí thức nên chắc ô kê. Nhưng đối với Nguyễn Hoàng Đức 54 tuổi đời thì tôi thấy mẹ tôi nói đúng. Một người thường chả biết về Toán mà im lặng, biết hỏi, biết nghĩ thì có sao đâu, riêng Nguyễn Hoàng Đức, với bài viết đã nêu, là một kẻ đần độn về Toàn và ngu si về nhận thức. Đừng lấy cái ngu dốt của mình mà đi xúc phạm người khác “Ngô Bảo Châu là “Bậc thầy của dân tộc””.

  21. Thuykieu said

    Mấy bác nghiên kíu nóng quá. Ngay cả cái Viện vinh danh của bác Chim_nhon cũng bị người nhà một PGS định lốp pi để được vào danh sách vinh danh. Một môi trường “khét tiếng” như JIPV cũng …. như thế thì … khó nói quá!

    • Hội Toán học said

      Tôi nói NBC phải học nhiều thứ khác có sai đâu:

      “Tập trung nghiên cứu và giảng dạy hơn là phản đối chính sách hành chính”

      http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/17070/ngo-bao-chau—dung-de-gv–tu-sat-khoa-hoc-.html

      Cơ chế hành là chính làm cho nhiều người không làm nghiên cứu được hoặc chỉ nghiên cứu vớ vẩn, họ phải bỏ trường đi kiếm cơm hoặc làm sơ xài để ra ngoài làm thêm,… Chính cái hành là chính làm cho khoa học và giáo dục ngày nay vẫn kém. Thế mà NBC “Tập trung nghiên cứu và giảng dạy” – người giỏi chuyên ngành hẹp và đạt giải Fields nhưng lại đần độn về xã hội.

      • Onlooker said

        Quá chính xác! Tôi là người trong cái cơ chế đó, nên biết khá rõ. Nó kinh khủng lắm. Một đề tài được kinh phí 1 đồng thì 30c là phải chi cho đám nhà trường và bọn quan tham rồi. Đến nghiệm thu thì kinh hoàng hơn. Thủ tục hành là chính đang giết dần người làm khoa học chân chính. Tôi nghĩ NBC chưa trải qua nên chưa biết. NBC không dám đụng đến bộ máy hành là chính đâu, vì đụng đến là anh chàng ta sẽ tiêu đời trước.

        Đừng hy vọng gì cái viện cao cấp đó. Nó chỉ là cái cớ để họ tiêu tiền. Một cách rửa tiền dưới danh nghĩa khoa học!

        • Hội Toán học said

          Tôi có lần nói với JIPV: hãy nêu danh một nhà Toán học ở Việt Nam, tôi sẽ cho các bác biết track records của họ đến mức nào. Cái Viện Toán hiện tại lo chưa xong mà nói gì đến Viện cao cấp. Đến ngày nay cái Viện Toán này chưa công bố được mỗi một bài trong top 10 tạp chí mà tôi từng nêu. Viện cao cấp …. chỉ thêm buồn cười mà thôi.

          NBC có rất nhiều cách giúp VN, nếu muốn và nếu có lòng. Trong đó, với uy tín khoa học của NBC đối với Nhà nước (nếu có, hiện tại thì NBC có uy tín nhưng k biết đó là loại uy tín gì), NBC nên có tác động giúp VN có cơ chế minh bạch trong khoa học và giáo dục thì thiết thực hơn, như bác Chính, bác Hiển, bác Tuấn, … đang làm.

          Cái viện cao cấp về Toán là kiểu chơi ngông trong khi thiếu giường cho bệnh nhân, giáo viên lương không đủ sống, nhà khoa học phần nhiều là hám danh và lỏm, làm khoa học thật thì không có tiếng nói,…., cơ chế toàn là hành nhau,…

    • Hội Toán học said

      Nếu NBC biết nghĩ và thật sự có lòng thì phải giúp Việt Nam cải cách hành chính trong khoa học và giáo dục, thay vì “Tập trung nghiên cứu và giảng dạy hơn là phản đối chính sách hành chính” nghe rất phi logic. Một cơ chế hành chính tồi thì đừng mong “Tập trung nghiên cứu và giảng dạy”. Tôi không ngờ Fields medalist lại ngốc nghếch như thế. Chán ơi là chán!

  22. Hội Toán học said

    Giải Fields thì giỏi rồi, nhung cái giỏi này mang tính túc thòi so vói giải Abel, http://en.wikipedia.org/wiki/Abel_Prize, hay giải Shaw, http://en.wikipedia.org/wiki/Shaw_Prize dành cho Toán. Để được giải Abel hay Shaw thì cở như NBC phải làm việc nhiều lắm. Ngay cả khi anh tiếp tục có những công trình hàng đầu thì cũng sẽ rất khó mà đạt được giải Abel hoặc Shaw.

    Hai giải sau đòi hỏi ứng viên phải có những cống hiến mang tính kinh điển cho Toán học, thử thách qua thời gian, có ảnh hưởng lớn trong Toán và các ngành khác. Hầu hết những người đạt những giải này đều lớn tuổi.

  23. Dung Nguyen said

    Ông Hội Toán Học này có vẻ cay cú NBC nhỉ? Lại còn trích link của tay bsNgoc (chắc học cùng trường với y tá … thì có 🙂 )
    ————–
    Giaosudom@: Đừng chạm vào ông “…” ở JIPV nhé 🙂

  24. Người Hâm Mộ said

    Tặng Ngô Bảo Châu: link này !

    http://nguoihammo.blogtiengviet.net/2010/02/06/gs_ngo_bao_chau_nhan_tai_dat_viet

  25. Onlooker said

    Cám ơn bác HTH. Tôi cũng nghĩ NBC giỏi chuyên ngành hẹp, như tất cả chúng ta ở đây thôi. Mỗi người một ngành nghề. Tôi cũng nghĩ có được giải Fields là quá đẹp rồi. Nhưng cho đó là bậc thầy dân tộc thì quá … mất dạy. Nói cho ngay, đây là fan của NBC tâng bốc chứ anh ấy không/chưa bao giờ nói vậy cả.

    Nhưng NBC tỏ ra khệnh khạng khi viết entry về vụ án Cù Huy Hà Vũ. Khệnh khạng ngay từ câu đầu. Mấy cái so sánh với Kinh Kha, tây tàu có vẻ khoe kiến thức, nhưng lạc đề, như nói CHHV lao vào cõi chết! Thú thật tôi chẳng hiểu NBC muốn nói gì trong đó.

    Tôi thấy các fan của NBC rất đáng chê. Tôi sợ họ sẽ spam vào trang GD Dỏm nữa quá. Mấy âm binh này thật là đáng ngại.

    • Hội Toán học said

      “Mỗi người một ngành nghề”: nếu hiểu đúng như bác thì đâu có chuyện ôm sòm như thế, tâng bốc không đúng gây phản cảm và lố bịch, chỉ thể hiện sự ngu si và dốt mà thôi.

      “Nhưng NBC tỏ ra khệnh khạng khi viết entry về vụ án Cù Huy Hà Vũ. Khệnh khạng ngay từ câu đầu. Mấy cái so sánh với Kinh Kha, tây tàu có vẻ khoe kiến thức, nhưng lạc đề, như nói CHHV lao vào cõi chết! Thú thật tôi chẳng hiểu NBC muốn nói gì trong đó.”: Cũng may là tôi có xem qua và thấy bài viết cho biết NBC không phải là một nhà khoa học đích thực, mọi người nên cẩn thận là hơn. Người có đạo đức khoa học thà im lặng nhưng khi nói phải nói cho rõ ràng, đặc biệt là người làm Toán!

      Giỏi chuyên môn mà nhân cách kém thì không ổn đâu. Theo tôi biết thì giới khoa học đích thực bên Pháp và Mỹ rất rõ ràng, lịch sự.
      ————–
      Giaosudom@: Tập trung ISI đi bác. Nghề của JIPV là ISI mừ 🙂

  26. Ngô Long said

    Đề nghị trang WEB công bố hồ sơ lý lịch của:

    GS.TSKH Nguyễn Ngọc San, Trưởng ban biên tập chuyên san Khoa học Công nghệ của Học viện, từ năm 2011, chuyên san sẽ được xuất bản định kỳ 2 số/năm, mỗi số sẽ chọn đăng khoảng 15 – 25 bài viết. Ngôn ngữ thể hiện trong chuyên san là tiếng Anh và tiếng Việt.

    Còn là phó tổng biên tập tạp chí khoa học công nghệ Việt nam.

    Liệu có đủ điều kiện Giao sư tiến sĩ khoa học không ?

    Vì đây là bạn thân của giáo sư tiến sĩ: GS dỏm cấp 4 Trần Văn Nhung, nguyên thứ trưởng, Tổng Thư Kí Hội Đồng Gíao Sư

    Tôi kiểm tra thấy: ISI bao gồm:
    1) On optimal projection equations for model reduction input-error approach
    (Optimization:Factor: 0.915)
    2) Input-error approach to parameter estimation of alinear, e-invariant, continuous-time model in state-variable description
    (Optimization:Factor: 0.915)
    3) Controller reduction by state-optimization approach
    (Optimization:Factor: 0.915)
    4) State-Optimization Method for Order Reduction of Linear Models and of State Estimators
    (Optimization:Factor: 0.915)

    Cần thiết phải đưa ảnh và thành tích của ông này giới thiệu ra để những người trí thức đều biết !

    http://www.baomoi.com/Ra-mat-chuyen-san-khoa-hoc-cong-nghe/59/5381551.epi
    ——————–
    Giaosudom@: Bác gửi bài bên Phòng Submission nhé.

  27. nguyenhieu said

    Em mới tốt nghiệp ĐH, chỉ là 1 trường Dân Lập tại VN, cống hiến chưa nhiều ngoài những năm tháng Sinh viên tình nguyện,đi làm hưởng lương, hnay tìm thông tin về MBA tại VN…….em chỉ thấy các Bác dù là TS hay BS hay những người thành đạt nhưng trong cái topic này các bác giống nhưng những “ĐỨA TRẺ LỚN” !!! sự tranh luận mang tính ăn thua, mất thời gian, sao các bác ko dành thời gian cho những giây phút hưởng thụ cuộc sống sau 1 ngày làm việc dài, cuộc sống ngắn ngủi lắm,trộm nghĩ…. các bác sẽ thọ đc tới bao nhiêu để hưởng thụ nó đây !!!
    ———————-
    Giaosudom@: Có bác nào giúp em này hiểu chút ít không? Em mới tốt nghiệp đại học, mà lại dân lập nữa,… nên em cứ tưởng đâu JIPV chắc chỉ cở thầy, cô của em ấy! Sản phẩm của dỏm tối đa chắc cũng tới đó? Chỉ biết “hưởng thụ”, chỉ biết cậm cụi … ăn .. và ăn thôi.

    • Tuan Ngoc@ said

      Biết nói sao với em bây giờ.

      Xin sửa ní nuận của em tí: sao các PGS, GS dỏm ko dành thời gian cho những giây phút học hành và nghiên cứu nghiêm túc, chỉ lo hưởng thụ cuộc sống sau 1 đời dài nhưng yếu kém, cuộc sống ngắn ngủi lắm,trộm nghĩ…. các các PGS, GS dỏm sẽ thọ đc tới bao nhiêu để hiểu được thế nào là làm khoa học nghiêm túc đây !!!

      Ngoài ra: cái trình độ dỏm không những nó làm mờ nhạt cái thân mỡ, mà còn sản suất ra một thế hệ ngu muội, chỉ biết hưởng thụ như Nguyenhieu đấy, bỏ mặc cho cái nước này ra sao thì ra!

    • Tuan Ngoc@ said

      hnay tìm thông tin về MBA tại VN……: nếu không theo dõi JIPV của các bác ở đây thì em sẽ chỉ tìm được một cái MBA dỏm mà thôi.

      các bác giống nhưng những “ĐỨA TRẺ LỚN” !!!: cở các bác ở đây mà như như thế thì cở PGS, GS dỏm là gì nhỉ? “ĐỨA TRẺ NHỎ”? Và con em – chắc chỉ là QUÁI THAI là cùng?

      sự tranh luận mang tính ăn thua: tranh luận là để làm rõ cái đúng, cái sai, ở đây không có “ăn” kiểu như em và mấy thày của em đâu nhé. Học xong đại học mà “lùn và mù” thế vậy em!

    • vuhuy said

      Lợn: thích ăn no và ngủ cho béo, chả cần quan tâm xung quanh nên lúc nào cũng sống ở chuồng bẩn thỉu.

      Người: ăn để tồn tại, để chiêm ngưỡng cộng sống này, để quan tâm đến cộng đồng, làm sao đề khoa học và giáo dục phát triển để dân trí được nâng cao (để tránh sự ngu đần của lòai lợn).

  28. Onlooker said

    Em này cũng khá tiêu biểu cho đám sinh viên và “trí thức” chỉ biết ăn, trùm mền. Ăn hối lộ. Ăn bẩn. Nhậu nhẹt. Hưởng thụ. Làm tất cả để mua bằng thạc sĩ, tiến sĩ dỏm. Tiêu hết tiền để mua chức danh giáo sư dỏm. Loại này là thứ mục hạ vô nhân trong xã hội ngày nay. Loại mục hạ vô nhân này càng ngày càng nhiều. Đó là bi kịch của xã hội.

  29. Tuan Ngoc@ said

    Sản phẩm của các dỏm khó dạy quá các bác ơi!

    https://giaosudom.wordpress.com/2010/08/11/pgs-r%E1%BA%A5t-d%E1%BB%8Fm-nguy%E1%BB%85n-dinh-th%E1%BB%8D/comment-page-1/#comment-3147

    • NCS Đại học Ngoại Thương said

      Thế là cuối cùng JIPV đã phát hiện một tên phản quốc với nick SunshineVietNam đang hoạt động bí mật tại Đại học ngoại Thương Hà Nội. Các bác chịu khó tìm thì sẽ thấy còn khối tên phản quốc ở đây, chúng đang phá hoại đất nước bằng cách cướp tiền của dân thông qua cái gọi là “nghiên cứu khoa học” nhưng đa số là dỏm, chúng không ngại moi những đồng tiền ít ỏi của bọn thư sinh muốn làm khoa học không dỏm.

  30. Onlooker said

    Ái chà! Bác nói người ta “phản quốc” nghe sao nặng nề quá. Tôi thấy bác SunshineVietNam chưa hiểu biết về khoa học và nghiên cứu khoa học, chưa hiểu về học thuật … nên viết không đúng. Đây là vấn đề giáo dục, chẳng phải riêng cho bác SunshineVietNam mà còn cho thầy của bác ấy nữa. Giáo dục thì đòi hỏi thời gian, các bác nên thông cảm và kiên nhẫn. Từ từ rồi họ sẽ nhận ra thôi … Không cần nặng nề với nhau thế, bác nhé.

  31. Onlooker said

    Đọc bài này cũng có nhiều điều đáng bàn trong diễn đàn của chúng ta. Ông Hồ Tú Bảo nói rằng “Công bố quốc tế không phải là mục đích tối thượng của khoa học”

    http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=111&News=4016&CategoryID=2

    “Theo tôi, “những nghiên cứu lý thuyết” và “những nghiên cứu gắn với thực tiễn” không đối lập nhau, vì cái đầu là chuyện của cách nghiên cứu và cái sau là chuyện của kiểu nghiên cứu.”

    Nghiên cứu lý thuyết là “cách nghiên cứu”, nghiên cứu gắn liền với thực tiễn là “kiểu nghiên cứu”. Cách và kiểu. Nam Mô A di Đà Phật! Nghe lạ quá! Giáo sư mà phát biểu vậy đấy. Nó chứng tỏ ông này không biết gì về các ngành khác ngoài cái ngành máy tính của ổng. Chán mớ đời.

    Còn cái này nữa: “Theo tôi, “công bố quốc tế” không phải mục tiêu tối thượng của nghiên cứu khoa học và công nghệ. Do nhấn mạnh việc khoa học của ta trong mấy chục năm qua chưa hướng đến và chưa đề cao đúng mức những nghiên cứu có chất lượng cao, dư luận thời gian qua có phần thái quá khi gần như đồng nhất thành tựu nghiên cứu khoa học với công bố quốc tế.”

    Tôi không hiểu ông này nói gì. Nếu anh làm nghiên cứu khoa học mà không công bố thì anh lấy gì để báo cáo với đại học? Nói như ông ta thì tại sao Hàn Quốc, Trung Quốc đẩy mạnh công bố quốc tế? Tại sao người ta dựa vào công bố quốc tế để phong giáo sư?

    Nhìn qua danh sách bài báo của ông giáo sư http://www.jaist.ac.jp/~bao/publications.html cũng thấy ấn tượng. Nhưng nhìn kỹ thì hình như những bài của ông toàn là trên các tạp chí thấp. Các bác bên máy tính bình luận cho nghe xem. Xem H index của ông này bao nhiêu?

    • chim_nhon said

      Đọc bài bác Onlooker cung cấp về GS Hồ Tú Bảo tôi hy vọng đây là một sai sót hoặc nhỡ miệng của vị GS này vì ông đã được Vinh Danh trong Viện Vinh Danh của JIPV:
      *GS Hồ Tú Bảo, Viện Công nghệ Thông tin: 47 (Ho TB).
      https://giaosudom.wordpress.com/vi%e1%bb%87n-vinh-danh-nha-khoa-h%e1%bb%8dc/

      Về mặt đánh giá cá nhân sau khá nhiều lần tiếp xúc nói chuyện với ông, tôi thấy ông là người thật thà, chất phác. Qua báo chí tôi cũng biết ông khá có chí: oánh nhau trong giai đoạn chiến tranh một thời gian, rồi lại đi học, rồi đi dạy và nghiên cứu ở nước ngoài, vv…
      Kể cũng đáng kính phục.

      Còn về publish ISI tôi thấy trên thế giới người ta chỉ hạn chế điều này khi:
      – Giữ bí mật về công nghệ cho một sản phẩm, nghiên cứu, vv… nào đó.
      – Người ta dành để công bố US patent.

      Việc áp dụng những điều này cho nghiên cứu khoa học của Việt Nam trong giai đoạn hiện này thật nực cười, viển vông và … tầm phào. Nền khoa học của Việt Nam hiện nay như đứa bé ẵm ngửa, chưa biết nẫy, chưa biết đi, chưa biết đứng, và cả chưa biết chạy nữa. Vậy mà giáo sư đã bắt nó … bay. Thật quá nhảm nhí!

      Tôi hy vọng thời gian tới đây, các bác được vinh danh trong Viện Vinh Danh của JIPV nên rút kinh nghiệm khi phát biểu trước báo chí về định hướng khoa học cho đất nước. Kẻo rất khó xử cho JIPV như trường hợp giáo sư Hồ Tú Bảo đã nêu trên.

  32. vuhuy said

    Sao ăn nói ngược đời thế này? Giờ thì chẳng những công bố quốc tế, mà phải là công bố quốc tế hạng top nữa cơ. Tôi nghi ông Bảo bị ai đó “mua” nên mới liều mạng viết bài như thế. Công bố của VN chưa đạt về lượng thì chưa thể mong có chất. Đã thế “Công bố quốc tế không phải là mục đích tối thượng của khoa học”!

    Làm khoa học mà không có công bố quốc tế thì không khác đi ăn mài. Một luận án không có bài hay kết quả tương đương bài thì đừng mong bảo vệ, nếu không muốn làm ts dỏm.

    Khoa học Việt Nam đang yếu mà nhiều người lại thích nói ngông thì thật là buồn. Kiểu như làm ca sĩ thì “ca hát không phải là mục đích tối thượng của ca sĩ”! Sao giống trẻ con quá.

    Thông thường thì CÓ thì mới bàn đến CHẤT. Cái có của ta chưa đến đâu mà lại thích nói CHẤT! Hình như người Việt mình thích đi ngược: than nghèo mà toàn xài sang, than yếu than kém mà toàn “Công bố quốc tế không phải là mục đích tối thượng của khoa học”

    Công bố của ông Bảo: Trời có 20 articles!

    PROCEEDINGS PAPER (26) MEETING ABSTRACT (4) EDITORIAL MATERIAL (2) LETTER (1)
    ARTICLE (20)

    Trời hởi: Total citations: 138, H-index 6

    Results found: 53
    Sum of the Times Cited [?] : 138
    View Citing Articles
    View without self-citations
    Average Citations per Item [?] : 2.60
    h-index [?] : 6

    Total Citing Articles
    without self-citations

    Ôi khiếp nonself-citations = 78, H-index ứng với nonself-citations < 3!!!!!!!!!!!!!!!!

    Author=(Ho TB)
    Total Citing Articles
    without self-citations
    Results: 78

    ============================================

    1. Title: DO INTRAVENOUS ANTIBIOTICS INFLUENCE ARTERIAL STIFFNESS IN ADULTS WITH CYSTIC FIBROSIS?
    Author(s): Hull JH, Garrod R, Ho TB, et al.
    Source: THORAX Volume: 65 Pages: A119-A119 Supplement: Suppl. 4 Published: DEC 2010
    Times Cited: 0
    Full text availability ulrichsweb.com (TM) from R.R. Bowker
    2. Title: Privacy Preserving Frequency Mining in 2-Part Fully Distributed Setting
    Author(s): Luong TD, Ho TB
    Source: IEICE TRANSACTIONS ON INFORMATION AND SYSTEMS Volume: E93D Issue: 10 Pages: 2702-2708 Published: OCT 2010
    Times Cited: 0
    Full text availability ulrichsweb.com (TM) from R.R. Bowker
    3. Title: Untitled
    Author(s): Ho TB, Zhou ZH, Motoda H
    Source: INTELLIGENT DATA ANALYSIS Volume: 14 Issue: 4 Pages: 437-438 Published: 2010
    Times Cited: 0
    Full text availability
    4. Title: Increased augmentation index in patients with cystic fibrosis
    Author(s): Hull JH, Garrod R, Ho TB, et al.
    Source: EUROPEAN RESPIRATORY JOURNAL Volume: 34 Issue: 6 Pages: 1322-1328 Published: DEC 2009
    Times Cited: 4
    Full text availability ulrichsweb.com (TM) from R.R. Bowker
    5. Title: Improving effectiveness of mutual information for substantival multiword expression extraction
    Author(s): Zhang W, Yoshida T, Tang XJ, et al.
    Source: EXPERT SYSTEMS WITH APPLICATIONS Volume: 36 Issue: 8 Pages: 10919-10930 Published: OCT 2009
    Times Cited: 2
    Full text availability View full text from the publisher
    6. Title: AUGMENTED MUTUAL INFORMATION FOR MULTI-WORD EXTRACTION
    Author(s): Zhang W, Yoshida T, Ho TB, et al.
    Source: INTERNATIONAL JOURNAL OF INNOVATIVE COMPUTING INFORMATION AND CONTROL Volume: 5 Issue: 2 Pages: 543-554 Published: FEB 2009
    Times Cited: 2
    Full text availability ulrichsweb.com (TM) from R.R. Bowker
    7. Title: Finding microRNA regulatory modules in human genome using rule induction
    Author(s): Tran DH, Satou K, Ho TB
    Source: BMC BIOINFORMATICS Volume: 9 Article Number: S5 Supplement: Suppl. 12 Published: 2008
    Times Cited: 9
    Full text availability View full text from the publisher
    8. Title: LARGE ARTERY HAEMODYNAMICS IN CYSTIC FIBROSIS
    Author(s): Hull JH, Garrod R, Ho TB, et al.
    Source: THORAX Volume: 63 Pages: A38-A39 Supplement: Suppl. 7 Published: DEC 2008
    Times Cited: 0
    Full text availability ulrichsweb.com (TM) from R.R. Bowker
    9. Title: Decision making under uncertainty with fuzzy targets
    Author(s): Huynh VN, Nakamori Y, Ryoke M, et al.
    Source: FUZZY OPTIMIZATION AND DECISION MAKING Volume: 6 Issue: 3 Pages: 255-278 Published: SEP 2007
    Times Cited: 5
    Full text availability View full text from the publisher Springer Verlag
    10. Title: An efficient kernel matrix evaluation measure
    Author(s): Nguyen CH, Ho TB
    Source: PATTERN RECOGNITION Volume: 41 Issue: 11 Pages: 3366-3372 Published: NOV 2008
    Times Cited: 2
    Full text availability View full text from the publisher
    11. Title: Reasons for diagnostic delay in lung cancer
    Author(s): Jackson AS, Ho TB
    Source: THORAX Volume: 62 Pages: A71-A71 Supplement: Suppl. 3 Published: DEC 2007
    Times Cited: 0
    Full text availability ulrichsweb.com (TM) from R.R. Bowker
    12. Title: Integration of learning methods, medical literature and expert inspection in medical data mining
    Author(s): Ho TB, Kawasaki S, Takabayashi K, et al.
    Source: IEICE TRANSACTIONS ON INFORMATION AND SYSTEMS Volume: E90D Issue: 10 Pages: 1574-1581 Published: OCT 2007
    Times Cited: 0
    Full text availability ulrichsweb.com (TM) from R.R. Bowker
    13. Title: An agent-based approach to solve dynamic meeting scheduling problems with preferences
    Author(s): BenHassine A, Ho TB
    Source: ENGINEERING APPLICATIONS OF ARTIFICIAL INTELLIGENCE Volume: 20 Issue: 6 Pages: 857-873 Published: SEP 2007
    Times Cited: 5
    Full text availability View full text from the publisher
    14. Title: Active mining – Preface
    Author(s): Numao M, Ho TB
    Source: NEW GENERATION COMPUTING Volume: 25 Issue: 3 Pages: 201-202 Published: 2007
    Times Cited: 0
    Full text availability View full text from the publisher Springer Verlag
    15. Title: Exploiting temporal relations in mining hepatitis data
    Author(s): Ho TB, Nguyen CH, Kawasaki S, et al.
    Source: NEW GENERATION COMPUTING Volume: 25 Issue: 3 Pages: 247-262 Published: 2007
    Times Cited: 3
    Full text availability View full text from the publisher Springer Verlag
    16. Title: Prediction of domain-domain interactions using inductive logic programming from multiple genome databases
    Author(s): Nguyen TP, Ho TB
    Source: DISCOVERY SCIENCE, PROCEEDINGS Book Series: LECTURE NOTES IN ARTIFICIAL INTELLIGENCE Volume: 4265 Pages: 185-196 Published: 2006
    Times Cited: 0
    Full text availability ulrichsweb.com (TM) from R.R. Bowker
    17. Title: Multiscale feature extraction for time series classification with hybrid feature selection
    Author(s): Zhang H, Lin MS, Huang W, et al.
    Source: INTELLIGENT CONTROL AND AUTOMATION Book Series: LECTURE NOTES IN CONTROL AND INFORMATION SCIENCES Volume: 344 Pages: 939-944 Published: 2006
    Times Cited: 0
    Full text availability ulrichsweb.com (TM) from R.R. Bowker
    18. Title: Feature extraction for time series classification using discriminating wavelet coefficients
    Author(s): Zhang H, Ho TB, Lin MS, et al.
    Source: ADVANCES IN NEURAL NETWORKS – ISNN 2006, PT 1 Book Series: LECTURE NOTES IN COMPUTER SCIENCE Volume: 3971 Pages: 1394-1399 Part: Part 1 Published: 2006
    Times Cited: 2
    Full text availability ulrichsweb.com (TM) from R.R. Bowker
    19. Title: Multiple-attribute decision making under uncertainty: The evidential reasoning approach revisited
    Author(s): Huynh VN, Nakamori Y, Ho TB, et al.
    Source: IEEE TRANSACTIONS ON SYSTEMS MAN AND CYBERNETICS PART A-SYSTEMS AND HUMANS Volume: 36 Issue: 4 Pages: 804-822 Published: JUL 2006
    Times Cited: 6
    Full text availability ulrichsweb.com (TM) from R.R. Bowker
    20. Title: Detecting citation types using finite-state machines
    Author(s): Le MH, Ho TB, Nakamori Y
    Source: ADVANCES IN KNOWLEDGE DISCOVERY AND DATA MINING, PROCEEDINGS Book Series: LECTURE NOTES IN ARTIFICIAL INTELLIGENCE Volume: 3918 Pages: 265-274 Published: 2006
    Times Cited: 0
    Full text availability ulrichsweb.com (TM) from R.R. Bowker
    21. Title: Association-based dissimilarity measures for categorical data: Limitation and improvement
    Author(s): Le SQ, Ho TB, Vinh LS
    Source: ADVANCES IN KNOWLEDGE DISCOVERY AND DATA MINING, PROCEEDINGS Book Series: LECTURE NOTES IN ARTIFICIAL INTELLIGENCE Volume: 3918 Pages: 493-498 Published: 2006
    Times Cited: 0
    Full text availability ulrichsweb.com (TM) from R.R. Bowker
    22. Title: Conditional random fields for predicting and analyzing histone occupancy, acetylation and methylation areas in DNA sequences
    Author(s): Tran DH, Pham TH, Satou K, et al.
    Source: APPLICATIONS OF EVOLUTIONARY COMPUTING, PROCEEDINGS Book Series: LECTURE NOTES IN COMPUTER SCIENCE Volume: 3907 Pages: 221-230 Published: 2006
    Times Cited: 1
    Full text availability ulrichsweb.com (TM) from R.R. Bowker
    23. Title: A bottom-up method for simplifying support vector solutions
    Author(s): Nguyen DD, Ho TB
    Source: IEEE TRANSACTIONS ON NEURAL NETWORKS Volume: 17 Issue: 3 Pages: 792-796 Published: MAY 2006
    Times Cited: 10
    Full text availability ulrichsweb.com (TM) from R.R. Bowker
    24. Title: Meetings scheduling solver enhancement with local consistency reinforcement
    Author(s): Ben Hassine A, Ho TB, Ito T
    Source: APPLIED INTELLIGENCE Volume: 24 Issue: 2 Pages: 143-154 Published: APR 2006
    Times Cited: 0
    Full text availability
    25. Title: A randomised controlled trial to assess the effect of heliox in patients with exacerbations of asthma and chronic obstructive pulmonary disease
    Author(s): Leaver SK, Higton AM, Macintyre J, et al.
    Source: THORAX Volume: 60 Pages: II9-II10 Supplement: Suppl. 2 Published: DEC 1 2005
    Times Cited: 0
    Full text availability ulrichsweb.com (TM) from R.R. Bowker
    26. Title: An association-based dissimilarity measure for categorical data
    Author(s): Le SQ, Ho TB
    Source: PATTERN RECOGNITION LETTERS Volume: 26 Issue: 16 Pages: 2549-2557 Published: DEC 2005
    Times Cited: 4
    Full text availability View full text from the publisher
    27. Title: Using inductive logic programming for predicting protein-protein interactions from multiple genomic data
    Author(s): Tran TN, Satou K, Ho TB
    Source: KNOWLEDGE DISCOVERY IN DATABASES: PKDD 2005 Book Series: LECTURE NOTES IN ARTIFICIAL INTELLIGENCE Volume: 3721 Pages: 321-330 Published: 2005
    Times Cited: 5
    Full text availability ulrichsweb.com (TM) from R.R. Bowker
    28. Title: An imbalanced data rule learner
    Author(s): Nguyen CH, Ho TB
    Source: KNOWLEDGE DISCOVERY IN DATABASES: PKDD 2005 Book Series: LECTURE NOTES IN ARTIFICIAL INTELLIGENCE Volume: 3721 Pages: 617-624 Published: 2005
    Times Cited: 0
    Full text availability ulrichsweb.com (TM) from R.R. Bowker
    29. Title: An extension of rough approximation quality to fuzzy classification
    Author(s): Huynh VN, Murai T, Ho TB, et al.
    Source: ROUGH SETS, FUZZY SETS, DATA MINING, AND GRANULAR COMPUTING, PT 1, PROCEEDINGS Book Series: LECTURE NOTES IN ARTIFICIAL INTELLIGENCE Volume: 3641 Pages: 373-382 Published: 2005
    Times Cited: 0
    Full text availability ulrichsweb.com (TM) from R.R. Bowker
    30. Title: Computational discovery of transcriptional regulatory rules
    Author(s): Pham TH, Clemente JC, Satou K, et al.
    Source: BIOINFORMATICS Volume: 21 Pages: 101-107 Supplement: Suppl. 2 Published: SEP 2005
    Times Cited: 8
    Full text availability ulrichsweb.com (TM) from R.R. Bowker
    31. Title: Blind feature extraction for time-series classification using Haar wavelet transform
    Author(s): Zhang H, Ho TB, Huang W
    Source: ADVANCES IN NEURAL NETWORKS – ISNN 2005, PT 2, PROCEEDINGS Book Series: LECTURE NOTES IN COMPUTER SCIENCE Volume: 3497 Pages: 605-610 Published: 2005
    Times Cited: 6
    Full text availability ulrichsweb.com (TM) from R.R. Bowker
    32. Title: Assessment aggregation in the evidential reasoning approach to MADM under uncertainty: Orthogonal versus weighted sum
    Author(s): Huynh VN, Nakamori Y, Ho TB
    Source: ADVANCES IN COMPUTER SCIENCE – ASIAN 2004, PROCEEDINGS Book Series: LECTURE NOTES IN COMPUTER SCIENCE Volume: 3321 Pages: 109-127 Published: 2004
    Times Cited: 1
    Full text availability ulrichsweb.com (TM) from R.R. Bowker
    33. Title: Measuring the similarity for heterogenous data: An ordered probability-based approach
    Author(s): Le S, Ho TB
    Source: DISCOVERY SCIENCE, PROCEEDINGS Book Series: LECTURE NOTES IN COMPUTER SCIENCE Volume: 3245 Pages: 129-141 Published: 2004
    Times Cited: 0
    Full text availability ulrichsweb.com (TM) from R.R. Bowker
    34. Title: A non-parametric wavelet feature extractor for time series classification
    Author(s): Zhang H, Ho TB, Lin MS
    Source: ADVANCES IN KNOWLEDGE DISCOVERY AND DATA MINING, PROCEEDINGS Book Series: LECTURE NOTES IN ARTIFICIAL INTELLIGENCE Volume: 3056 Pages: 595-603 Published: 2004
    Times Cited: 2
    Full text availability ulrichsweb.com (TM) from R.R. Bowker
    35. Title: Scheduling meetings with distributed local consistency reinforcement
    Author(s): Ben Hassine A, Ito T, Ho TB
    Source: INNOVATIONS IN APPLIED ARTIFICIAL INTELLIGENCE Book Series: LECTURE NOTES IN COMPUTER SCIENCE Volume: 3029 Pages: 679-688 Published: 2004
    Times Cited: 0
    Full text availability ulrichsweb.com (TM) from R.R. Bowker
    36. Title: New distributed filtering-consistency approach to general networks
    Author(s): Ben Hassine A, Ghedira K, Ho TB
    Source: INNOVATIONS IN APPLIED ARTIFICIAL INTELLIGENCE Book Series: LECTURE NOTES IN COMPUTER SCIENCE Volume: 3029 Pages: 708-717 Published: 2004
    Times Cited: 0
    Full text availability ulrichsweb.com (TM) from R.R. Bowker
    37. Title: A context model for fuzzy concept analysis based upon modal logic
    Author(s): Huynh VN, Nakamori Y, Ho TB, et al.
    Source: INFORMATION SCIENCES Volume: 160 Issue: 1-4 Pages: 111-129 Published: MAR 22 2004
    Times Cited: 8
    Full text availability View full text from the publisher
    38. Title: A new approach to belief modeling
    Author(s): Huynh VN, Nakamori Y, Murai T, et al.
    Source: FOUNDATIONS OF INFORMATION AND KNOWLEDGE SYSTEMS, PROCEEDINGS Book Series: LECTURE NOTES IN COMPUTER SCIENCE Volume: 2942 Pages: 196-212 Published: 2004
    Times Cited: 1
    Full text availability ulrichsweb.com (TM) from R.R. Bowker
    39. Title: Discovery of trends and states in irregular medical temporal data
    Author(s): Nguyen TD, Kawasaki S, Ho TB
    Source: DISCOVERY SCIENCE, PROCEEDINGS Book Series: LECTURE NOTES IN ARTIFICIAL INTELLIGENCE Volume: 2843 Pages: 410-417 Published: 2003
    Times Cited: 0
    Full text availability ulrichsweb.com (TM) from R.R. Bowker
    40. Title: Abstraction of long-term changed tests in mining hepatitis data
    Author(s): Kawasaki S, Ho TB, Nguyen DT
    Source: KNOWLEDGE-BASED INTELLIGNET INFORMATION AND ENGINEERING SYSTEMS, PT 2, PROCEEDINGS Book Series: LECTURE NOTES IN ARTIFICIAL INTELLIGENCE Volume: 2774 Pages: 366-372 Published: 2003
    Times Cited: 0
    Full text availability ulrichsweb.com (TM) from R.R. Bowker
    41. Title: Fuzziness and uncertainty within the framework of context model
    Author(s): Huynh VN, Ryoke M, Nakamori Y, et al.
    Source: FUZZY SETS AND SYSTEMS – IFSA 2003, PROCEEDINGS Book Series: LECTURE NOTES IN ARTIFICIAL INTELLIGENCE Volume: 2715 Pages: 219-228 Published: 2003
    Times Cited: 1
    Full text availability ulrichsweb.com (TM) from R.R. Bowker
    42. Title: Chance discovery and learning minority classes
    Author(s): Ho TB, Nguyen DD
    Source: NEW GENERATION COMPUTING Volume: 21 Issue: 2 Pages: 149-161 Published: 2003
    Times Cited: 0
    Full text availability ulrichsweb.com (TM) from R.R. Bowker
    43. Title: A knowledge discovery system with support for model selection and visualization
    Author(s): Ho TB, Nguyen TD, Shimodaira H, et al.
    Source: APPLIED INTELLIGENCE Volume: 19 Issue: 1-2 Pages: 125-141 Published: JUL-OCT 2003
    Times Cited: 3
    Full text availability
    44. Title: A parametric representation of linguistic hedges in Zadeh's fuzzy logic
    Author(s): Huynh VN, Ho TB, Nakamori Y
    Source: INTERNATIONAL JOURNAL OF APPROXIMATE REASONING Volume: 30 Issue: 3 Pages: 203-223 Published: SEP 2002
    Times Cited: 18
    Full text availability View full text from the publisher
    45. Title: Nonhierarchical document clustering based on a tolerance rough set model
    Author(s): Ho TB, Nguyen NB
    Source: INTERNATIONAL JOURNAL OF INTELLIGENT SYSTEMS Volume: 17 Issue: 2 Pages: 199-212 Published: FEB 2002
    Times Cited: 20
    Full text availability ulrichsweb.com (TM) from R.R. Bowker
    46. Title: Interactive visualization in mining large decision trees
    Author(s): Nguyen TD, Ho TB, Shimodaira H
    Source: KNOWLEDGE DISCOVERY AND DATA MINING, PROCEEDINGS – CURRENT ISSUES AND NEW APPLICATIONS Book Series: LECTURE NOTES IN ARTIFICIAL INTELLIGENCE Volume: 1805 Pages: 345-348 Published: 2000
    Times Cited: 0
    Full text availability ulrichsweb.com (TM) from R.R. Bowker
    47. Title: A Mixed Similarity Measure in Near-Linear Computational Complexity for Distance-Based Methods
    Author(s): Nguyen NB, Ho TB
    Source: LECTURE NOTES IN COMPUTER SCIENCE Volume: 1910 Pages: 211-220 Published: 2000
    Times Cited: 0
    Full text availability ulrichsweb.com (TM) from R.R. Bowker
    48. Title: Hierarchical Document Clustering Based on Tolerance Rough Set Model
    Author(s): Kawasaki S, Nguyen NB, Ho TB
    Source: LECTURE NOTES IN COMPUTER SCIENCE Volume: 1910 Pages: 458-463 Published: 2000
    Times Cited: 0
    Full text availability ulrichsweb.com (TM) from R.R. Bowker
    49. Title: Interactive visualisation for predictive modelling with decision tree induction
    Author(s): Ho TB, Nguyen TD
    Source: PRINCIPLES OF DATA MINING AND KNOWLEDGE DISCOVERY Book Series: LECTURE NOTES IN ARTIFICIAL INTELLIGENCE Volume: 1510 Pages: 158-166 Published: 1998
    Times Cited: 0
    Full text availability ulrichsweb.com (TM) from R.R. Bowker
    50. Title: Development of some methods and tools for discovering conceptual knowledge
    Author(s): Ho TB, Nguyen TD, Nguyen NB, et al.
    Source: DISCOVERY SCIENCE Book Series: LECTURE NOTES IN ARTIFICIAL INTELLIGENCE Volume: 1532 Pages: 415-416 Published: 1998
    Times Cited: 0
    Full text availability ulrichsweb.com (TM) from R.R. Bowker

    51. Title: Discovering and using knowledge from unsupervised data
    Author(s): Ho TB
    Source: DECISION SUPPORT SYSTEMS Volume: 21 Issue: 1 Pages: 29-42 Published: SEP 1997
    Times Cited: 1
    Full text availability View full text from the publisher
    52. Title: AN APPROACH TO CONCEPT-FORMATION BASED ON FORMAL CONCEPT ANALYSIS
    Author(s): HO TB
    Source: IEICE TRANSACTIONS ON INFORMATION AND SYSTEMS Volume: E78D Issue: 5 Pages: 553-559 Published: MAY 1995
    Times Cited: 5
    Full text availability ulrichsweb.com (TM) from R.R. Bowker
    53. Title: GENERATING RULES FOR EXPERT SYSTEMS FROM OBSERVATIONS
    Author(s): HO TB, DIDAY E, GETTLERSUMMA M
    Source: PATTERN RECOGNITION LETTERS Volume: 7 Issue: 5 Pages: 265-271 Published: JUN 1988
    Times Cited: 4
    Full text availability View full text from the publisher

  33. Onlooker said

    Cám ơn bác Vuhuy. Tôi rất ngạc nhiên!

    Không ngờ sự thật lại như thế. Đọc Tia Sáng tôi tưởng ông này rất tốt chứ, vậy mà … 🙂 Tôi nghĩ trong thực tế thì H index của ông này còn kém hơn. Những bài số 4, 8, 11 chắc chắn không phải của ông Ho TB. Có thể chính vì thành tích như thế này nên ông không thích chuyện công bố quốc tế.

    Nói chung số liệu của bác nói lên rằng ông này cũng chỉ là cọp giấy! :-)) Không ngờ JAIST lại có người kém thế.

    • vuhuy said

      Xem lại đây thì thấy những người nghiêm túc như bác Chính, bác Tuấn thì nói đâu ra đó, phù hợp với thông lệ quốc tế. Hình như ông Bảo cũng có một bài viết.

      https://giaosudom.wordpress.com/phong-giao-d%E1%BB%A5c-th%C6%B0%E1%BB%9Dng-xuyen/

      !!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!

      >Những bài số 4, 8, 11 chắc chắn không phải của ông Ho TB

      Cám ơn bác. Tôi đã lọc lại, trước đó tôi lọc không kỹ nên dính bài bên medicine.

      Results
      Author=(Ho TB)
      Refined by: Subject Areas=( COMPUTER SCIENCE, ARTIFICIAL INTELLIGENCE OR COMPUTER SCIENCE, INTERDISCIPLINARY APPLICATIONS OR COMPUTER SCIENCE, THEORY & METHODS OR COMPUTER SCIENCE, SOFTWARE ENGINEERING OR ENGINEERING, MULTIDISCIPLINARY OR COMPUTER SCIENCE, INFORMATION SYSTEMS OR OPERATIONS RESEARCH & MANAGEMENT SCIENCE OR COMPUTER SCIENCE, HARDWARE & ARCHITECTURE OR MATHEMATICAL & COMPUTATIONAL BIOLOGY OR ENGINEERING, ELECTRICAL & ELECTRONIC OR COMPUTER SCIENCE, CYBERNETICS OR STATISTICS & PROBABILITY OR AUTOMATION & CONTROL SYSTEMS )
      Timespan=All Years. Databases=SCI-EXPANDED, SSCI, A&HCI.

      Results: 48

      Results found: 48
      Sum of the Times Cited [?] : 134
      View Citing Articles
      View without self-citations
      Average Citations per Item [?] : 2.79
      h-index [?] : 6

      Tôi đồng ý là ông này là cọp giấy. Tôi đóan là có “cái gì” phía sau bài viết trên Tia Sáng của ông ấy. Khó hiểu quá. Giới khoa học của mình, nhiều lúc ngẫm nghĩ, không khác gì một cái chợ trời 🙂

    • Onlooker said

      Đó là bài phỏng vấn trên Tia Sáng chứ không phải bài viết của Gs Bảo. Tôi nghĩ Gs Bảo có ý quyền có ý kiến cá nhân, nhưng ý kiến nhập nhằng như thế thì buồn cười thật. Nhưng Tia Sáng cũng chẳng hỏi tiếp xem Gs Bảo có ý gì khi nói câu đó.

      Tôi nhất trí với bác chim_nhon là nhiều cơ quan nghiên cứu tư nhân không muốn công bố nhiều vì họ để dành cho patent. Dù vậy, họ vẫn công bố sơ sơ những phát minh dẫn đến patent. Nhưng đó là development, chứ còn Gs Bảo nói nghiên cứu cơ bản mà không xem công bố quốc tế là quan trọng thì khó nghe quá.

      Có khi người ta có ý kiến cho … chính họ. Nhìn qua danh sách bài báo của bác ấy trên website cũng ấn tượng nhưng sự thật thì toàn là … 🙂 Một giáo sư của JAIST bên Nhật mà có H index khiêm tốn như thế thì đúng là khó coi. Có thể JAIST cũng xoàng chăng? Tôi không tin. Sự kiện dạy chúng ta rằng đừng tin/nghe những gì báo chí tuyên truyền về các nhà khoa học VN. JIPV cũng cẩn thận đừng vinh danh những người không xứng đáng.

  34. Onlooker said

    Có bài này của bác NVTuấn hay lắm, nhiều số liệu đáng suy nghĩ.

    http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-05-05-an-pham-khoa-hoc-va-chi-so-kinh-te-tri-thuc
    Ấn phẩm khoa học và chỉ số kinh tế tri thức

    http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-05-05-mo-hinh-san-xuat-tri-thuc-trong-cac-nuoc-asean
    Mô hình sản xuất tri thức trong các nước ASEAN

  35. vuhuy said

    Phân tích của Gs N.V. Tuấn và TS P.T. Ly thì kết quả NCKH của VN vấn còn kém về lường và rất kém về chất (kiểu như dỏm và rất dỏm của JIPV). Thế mà các dỏm của ta thì “từ đại học đẳng cấp quốc tế” đến “đại học xuất sắc” – kiểu như chúng ta đang phấn đầu để tiến nhanh tiến mạnh đi tắt đóan đầu để TỪ NGU THÀNH DỐT:

    Thành lập Ban Chỉ đạo xây dựng các trường đại học xuất sắc
    17:39 | 09/06/2011
    (ĐCSVN) – Ngày 8/6, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã ký Quyết định số 891/QĐ-TTg thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Ban Chỉ đạo xây dựng các trường đại học xuất sắc.
    Theo đó, Ban Chỉ đạo có nhiệm vụ nghiên cứu, tham mưu, giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo việc xây dựng các trường đại học xuất sắc trong mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học; đề xuất phương hướng, giải pháp và chỉ đạo việc tổ chức triển khai các hoạt động liên quan đến công tác xây dựng các trường ĐH xuất sắc, phù hợp với chủ trương, định hướng đã được phê duyệt.
    Theo sự phân công, Ban Chỉ đạo xây dựng các trường đại học xuất sắc do Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân làm Trưởng Ban Chỉ đạo. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phạm Vũ Luận làm Phó Trưởng ban.
    Ban Chỉ đạo có 17 ủy viên là lãnh đạo một số Bộ, ngành, địa phương và trường đại học. Bộ Giáo dục và Đào tạo là cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo. Ngoài ra. Ban Chỉ đạo có Tổ Thư ký giúp việc do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định thành lập./. http://www.cpv.org.vn/cpv/modules/news/newsdetail.aspx?cn_id=463589&co_id=30077

    Cái vụ đại học quốc tế đến nay chưa ra hồn gì cả. Có cái trường mang tên là quốc tế, ngay cả dạy bằng tiếng Anh,…. nhưng xem lại coi đó có phải là những trường đẳng cấp quốc tế chưa? Thế nào là một đại học đẳn cấp quốc tế?

    Cơ chế cho người làm khoa học (chân chính – nhấn mạnh) chưa có, dỏm, dốt, tiến sĩ giấy, thạc sĩ rác tràn lan (ai chạm tới họ thì như chạm tới côn đồ – không hơn không kém) mà xuất sắc cái nỗi gì! Nguyên nhân của những trò hề này là gì? Phải chăng là

    https://giaosudom.wordpress.com/2010/08/12/gs-r%E1%BA%A5t-d%E1%BB%8Fm-nguy%E1%BB%85n-thi%E1%BB%87n-nhan-pho-th%E1%BB%A7-t%C6%B0%E1%BB%9Bng-b%E1%BB%99-tr%C6%B0%E1%BB%9Fng-ch%E1%BB%A7-t%E1%BB%8Bch-h%E1%BB%8Dc-ham-nha-n%C6%B0%E1%BB%9Bc/

    https://giaosudom.wordpress.com/2010/08/11/gs-r%E1%BA%A5t-d%E1%BB%8Fm-ph%E1%BA%A1m-vu-lu%E1%BA%ADn-b%E1%BB%99-gd-dt-gs-ts-b%E1%BB%99-tr%C6%B0%E1%BB%9Fng-uv-hdhh-nganh-kinh-t%E1%BA%BF-nguyen-hi%E1%BB%87u-tr%C6%B0%E1%BB%9Fng-dh-th/

    • Onlooker said

      Không biết trên thế giới có nơi nào có trường đại học xuất sắc không? Dịch là gì nhỉ? Excellent University hay University of Excellence? Tôi nghĩ người ta muốn đánh tráo khái niệm. Nếu nói world class university (đẳng cấp quốc tế) thì người ta phải tuân thủ theo luật chơi và tiêu chuẩn quốc tế. Nhưng nếu tôi nói đại học xuất sắt, ai muốn nghĩ sao cũng được. Xuất sắc theo tiêu chuẩn … của ta. Nó chẳng ra cái thể thống gì.

      Thử nhìn vào danh sách những người trong ban chỉ đạo. Họ là ai? Người của bộ nội vụ, bộ công an, bộ tài chính, ủy ban nhân dân … Họ là chính trị gia, là an ninh. Như vậy cái gọi là đại học xuất sắc được những người như thế này tạo ra. Ngày nào người ta còn kềm kẹp tư tưởng và không có tự do tư tưởng thì ngày đó không có đại học, chứ chưa nói đến đại học xuất sắc. Những cái trường mình gọi là đại học thực chất chỉ là trường dạy nghề hay trung học cấp 4 mà thôi.

      Buồn thay!

  36. Vuhuy said

    Bài nói chuyện của GS Nguyễn Văn Tuấn tại ĐH Hoa Sen:

    http://www.box.net/shared/3j5zs5r2ju

    Các audios ghi âm buổi nói chuyện:

    1/ http://www.box.net/shared/ms7axjkkei

    2/ http://www.box.net/shared/mk0vh0eakz

  37. Tuan Ngoc@ said

    Nghe xong phần phần trả lời câu hỏi của Gs Tuấn mà thấy buồn cho giảng viên trường Hoa Sen – dân PR quá nhiều, kiến thức khoa học quá hỏng, nói chung la chả biết NCKH là cái chi chi,… Nghe một giảng viên kinh tế tốt nghiệp ở Sin gì đó nói linh linh, muốn chứng tỏ kiến thức nhưng quá tệ.

    Nhưng Hoa Sen làm được thế là tốt lắm rồi, đáng để cho các trường khác học hỏi. Bà hiệu trưởng có phần lí sự, chưa biết NCKH là gì, nhưng là người có cách nhìn tiến bộ, “GS” cở Nguyễn Lân Dũng nên học hỏi bà này. https://giaosudom.wordpress.com/2010/08/10/gs-d%E1%BB%8Fm-c%E1%BA%A5p-3-va-ph%E1%BA%A3n-c%E1%BA%A3m-nguy%E1%BB%85n-lan-dung-gs-tskh-nha-giao-%C6%B0u-tu-d%E1%BA%A1i-bi%E1%BB%83u-qu%E1%BB%91c-h%E1%BB%99i-chuyen-gia-cao-c%E1%BA%A5p-d/

    Tội cho Gs Tuấn, mang đá ném ao bèo. Nhưng cũng phải phục sự kiên nhẫn của ông trước những phát biểu, câu hỏi ngu ngốc của nhiều giảng viên. Ông đã khai sáng họ, nhưng không biết họ có nhận ra không.

    Tóm lại, việc làm này của Hoa Sen là rất tốt.

  38. Outsider said

    Theo đường dẫn tôi đã được xem (nhưng không nghe được, thật tiếc!) những gì Gs Nguyễn Văn Tuấn (NVT) trình bày ở ĐH Hoa Sen. Thật là “thú vị” khi được nhìn qua toàn cảnh của nền học thuật nước nhà được trình bày bằng số liệu cũng như những gỉan đồ biểu diễn.
    Trong phần “diagnosis” có 7 đề mục đưa đưa ra mà theo tôi cả 7 đề mục này đều có thể mở đầu bằng:” lack of….” Nếu phân loại ta có thể thấy có 3 lý do chính thuộc về: con người, môi trường và cơ chế. Nghĩa là “ Lack of everything!” (mượn chữ Theory of Everything). Tuy nhiên, tôi có cảm tưởng rằng gs NVT chỉ mới khám “từ chân trở xuống”. Phần trên của “body” (tôi ví nền học thuật nước nhà như một cơ thể) bao gồm “trái tim, khối óc “ vẫn chưa được chạm đến!
    Trong phần “ Scientific Culture”, có hai điều cần phải làm rõ:
    – Respect unbiased facts- tạm dịch: tôn trọng những sự kiện (sự thật) không bị thiên vị.
    Điều không ổn ở đây là bản thân Fact ( sự kiện) không mang ý nghĩa ‘thiên vị hay “không thiên vị”. Sự kiện chỉ cho thấy những gì như- nó- là (hay diễn ra). Chỉ có những lý giải của con người về “fact” mới mang yếu tố “biased or not biased”. Dù không được nghe, nhưng tôi đoán rằng Gs NVT muốn nói đến tính khách quan (Objectivity) của hiện tượng. Vì vậy, tôi nghĩ là “Respect Facts /Objectivity” thì hợp lý hơn.
    – “Evidence based practice” . Thú thật, tôi cũng ngờ ngợ khi đọc cụm từ này vì nó không mang ý nghĩa chung cho mọi ngành khoa học (nhất là đối với những ngành thuần về lý thuyết như Toán hoặc Vật Lý Lý Thuyết). May qúa, Wiki cho định nghĩa về cụm từ này như sau:
    Evidence-based practice (EBP), alternatively known as empirically-supported treatment (EST) is the preferential use of mental and behavioral health interventions for which systematic empirical research has provided evidence of statistically significant effectiveness as treatments for specific problems. EBP promotes the collection, interpretation, and integration of valid, important and applicable patient-reported, clinician-observed, and research-derived evidence. The aim of EBP is that the best available evidence, moderated by patient circumstances and preferences, is applied to improve the quality of clinical judgments and facilitate cost-effective care.
    Nghĩa là, nó chỉ là một liệu pháp được dùng trong y khoa. Vì thế, tôi đồ rằng Gs NVT đã lộn sân (Y khoa) hoặc là hơi “méo mó nghề nghiệp”?
    Trân trọng,
    PS: một bài viết ngắn về “Scientific Culture” có thể đọc ở địa chỉ này
    http://undsci.berkeley.edu/article/socialsideofscience_05

  39. Tuan Ngoc@ said

    http://vnexpress.net/gl/xa-hoi/giao-duc/2011/08/mo-xe-nguyen-nhan-viet-nam-tut-hang-olympic-toan/

    Viện nghiên cứu cao cấp về Toán hay Viện nghiên cứu Toán sơ cấp?

    Không có cái nhãm nhí nào tào lao hơn cái nhãm nhí nào!

    Thi Olympic kém => Toán học đi xuống => không có cái ấu trĩ này tồi tệ hay cái ấu trĩ nào!

    • Tran Lang said

      Viện toán CC có lẽ cũng chỉ là một cách xài tiền thuế của dân, bới các nhà khoa học “cao cấp”, thông qua một cái tên “cao cấp”. Nhìn vào danh sách 4 giáo sư Việt kiều tham gia hội đồng khoa học, trong khi 3 giáo sư VHV, ĐTS và ĐTC có thành tích khoa học cá nhân đáng ngưỡng mộ, thì việc tham gia của GS HTBao vào hội đồng là một điều đáng thất vọng. Thật ra, xem danh sách công trình của GS HTB ở trên, thành tích khoa học của GS HTB có lẽ chỉ tương đương với thành tích của một PhD kha khá. Về phương diện khoa học, GS HTB không có một dấu ấn nào trong các research communities mà GS tham gia, tuy nhiên GS là một người rất giỏi trong quan hệ và lobby. GS.HTB có lẽ là một ví dụ tiêu biểu cho 1 người không có thành tích khoa học đáng kể nhưng vẫn rất thành công trong sự nghiệp trên phương diện xã hội. Dù việc GS.HTB tham gia hội đồng VTCC có thể không ảnh hưởng gì đến sự phát triển khoa học của Viện ( không lợi/không hại), nhưng với trọng trách và kỳ vọng của xã hội đặt vào VTCC, những người lãnh đạo Viện nên có một lựa chọn cẩn thận và chính xác hơn. Khả năng về quan hệ và lobby không nên được phát huy ở một nơi như VTCC. Trong khi vẫn còn nhiều nhà khoa học Việt kiều khác (như GS NTZ (Pháp), GS PMD (Thái),…) có thành tích khoa học nổi bật được cộng đồng quốc tế công nhận, và có lẽ họ cũng không thiếu nhiệt huyết để đóng góp cho VTCC, xứng đáng được mời tham gia hội đồng. Qua việc này thấy cũng hơi thất vọng đối với Giám đốc khoa học VTCC, Fields medalist GS NBC.

  40. Quynd said

    Chào ban biên tập tạp chí, chào các bạn độc giả!

    Trước đây tôi cũng đã từng nghe nói đến tạp chí này, nhưng cũng nghĩ đó chỉ là một tạp chí nhảm nhí, chẳng đáng mất thời gian quan tâm. Gần đây, được một người bạn khuyến khích, tôi cũng thử vào xem thế nào; và thế là cũng bỏ một số thời gian để đọc các bài viết, thảo luận, đánh giá,… trên tạp chí. Tôi đã thấy rằng đây là một địa chỉ tốt, đáng tin cậy để có thể tham khảo, đánh giá các thành tựu của các nhà khoa học Việt Nam. Tuy rằng không hoàn toàn nhất trí với tiêu chí đánh giá cũng như một số kết quả đánh giá về một số đối tượng, nhưng tôi thấy ở đây một cách làm việc khoa học và khách quan. Và tôi đánh giá cao mục tiêu của tạp chí nhằm nâng cao chất lượng nền khoa học Việt Nam. Xin cảm ơn các bạn về điều đó.

    Tuy nhiên, khi đọc mấy bài thảo luận về GS Hồ Tú Bảo ở trên và bài viết về ông trên báo Tia sáng, tôi cảm thấy bức xúc (bức xúc ghê ghớm nên mới phải viết bài phản hồi này) và hơi buồn. Bức xúc vì ở đây mà cũng đưa tin kiểu “tuyên truyền định hướng” của báo chí Việt Nam mà không có một ý kiến phản biện (không có tức là đồng ý), thể hiện sự nhất trí cao trong nội bộ tạp chí cũng như độc giả. (Hoặc có thể ý kiến phản biện đã bị xóa đi rồi cũng nên.) Buồn vì hóa ra mình đã nhận định sai, ở đây cũng không thực sự trung thực, khách quan, khoa học như mình đã nghĩ 😦

    Tôi chỉ đọc ở đây mới biết về GS Hồ Tú Bảo, không có thêm bất cứ thông tin gì về ông, nên chỉ có ý kiến dựa trên bài báo “GS Hồ Tú Bảo, một cầu nối khoa học Việt Nam – Nhật Bản” của báo Tia sáng mà các bạn dẫn liên kết ở trên; nếu có thiếu sót gì trong nhận thức (“mù”) thì các bạn chỉ giúp cho. Tôi không có ý định bảo vệ GS Bảo, cũng không muốn bàn về những quan điểm của ông, nhưng không thể đồng tình với những ý kiến của các bạn đưa ra phía trên về một số điểm sau:

    1. Bài báo này là một bài phỏng vấn, câu chữ trong bài là của người viết (Ngọc Tú) chứ không phải là của người được phỏng vấn (GS Bảo) nên không thể chụp mũ ngay như vậy. Việc người nói một đằng, người viết một nẻo là chuyện bình thường của báo chí nước ta và hoàn toàn có thể xảy ra (bản thân cũng đã từng gặp). Nếu như là bài do GS Bảo viết thì các bạn có thể kết luận được ngay, còn không thì đừng. (Về cảm nhận cá nhân, tôi thấy bài báo viết khá rõ ràng mạch lạc, có lẽ là đúng ý GS, nhưng vẫn nói với các bạn rằng không nên khẳng định khi chưa có bằng chứng rõ ràng, nhất là nhận xét về một con người).

    2. Về câu nói “Công bố quốc tế không phải là mục đích tối thượng của khoa học” lại có một số vấn đề nhỏ để bàn:

    – Thứ nhất, việc giật tít (gạch chân, in đâm,…) thì đã là công nghệ của báo chí VN rồi, và việc nhấn mạnh này thường chủ yếu phụ thuộc vào chủ quan của người viết chứ không phải người nói. Trưởng phòng Onlooker bê nguyên vào đây rồi lấy đó làm cơ sở đánh giá quan điểm của của GS Bảo, sau đó đưa ra những nhận xét theo tôi là thiếu tính khách quan.

    – Thứ hai, cách trích dẫn không đầy đủ của Onlooker là một cách làm rất chủ quan, phiến diện, có tính “định hướng” dư luận kiểu như VTV1 trích lời ông Ngô Quang Kiệt: “Chúng tôi thấy nhục nhã khi cầm hộ chiếu Việt Nam” vậy.

    Trong bài báo đang bàn về các loại hình nghiên cứu, và có nói rõ rằng “Với hai loại hình nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng, công bố quốc tế là thước đo quan trọng nhất” chứ không phủ nhận việc công bố quốc tế. Còn GS Bảo cho rằng “Công bố quốc tế không phải là mục đích tối thượng của khoa học” là bởi vì theo ông “nghiên cứu phát triển lại không liên quan gì mấy tới “công bố quốc tế”” và “Ở các nước có nền khoa học mạnh, nghiên cứu phát triển thường chiếm chừng hai phần ba ngân sách và phần nhân lực khoa học rất lớn, tức rất nhiều người làm nghiên cứu khoa học và công nghệ không nhằm tới “công bố quốc tế””. (Vẫn như ở trên, theo quan điểm của tôi, ý nhấn mạnh đặt trong ngoặc kép trong bài báo có thể là do chủ quan của người viết chứ chưa chắc đã là của người nói). Như vậy, GS Bảo có cái lý của mình (đúng hay không thì tôi không thể khẳng định vì chưa có cơ sở gì về những số liệu ông đưa ra), vì ông cho rằng trong 3 loại hình nghiên cứu (như được trình bày trong bài báo) thì nghiên cứu phát triển mới là mục tiêu cao nhất, là “mục đích tối thượng”. Tôi phần nào cũng đồng tình với ý kiến này. Tuy nhiên, tôi cũng đồng ý với Chim_nhon về việc không thể ngay lập tức bắt nền khoa học Việt Nam “bay” được. Nhưng đây chỉ là một ý kiến cá nhân mà, ai cấm người ta ước mơ, mà cũng chỉ là đưa ra mục tiêu để mọi người biết mà hướng tới thôi chứ. Nếu các bạn không đồng ý thì có thể phản đối, góp ý, kiến nghị chứ sao lại dè bỉu, hạ thấp và nghi ngờ thành quả lao động của một người mà chính các bạn đã vinh danh. Như thế là các bạn đang tự nghi ngờ chính kết quả của sự làm việc của các bạn, thể hiện sự đánh giá hoặc thang đánh giá không chính xác, khách quan, và phần nào tự hạ thấp mình.

    3. Về “kiểu nghiên cứu” và “cách nghiên cứu”:

    Không biết Onlooker đọc bài không kỹ, vội vàng lấy về để đưa tin nóng, hay đọc xong không hiểu hay cố tình không hiểu??? Trong bài phỏng vấn không giải thích kỹ về “kiểu” và “cách” nhưng đã đưa ra một mô hình về ba khía cạnh của đề tài nghiên cứu: Kiểu – Cách – Cỡ. Tôi không biết mô hình này của ai, thuật ngữ đó do ai đưa ra, có đúng hay không, nhưng phát biểu của GS Bảo là dựa trên mô hình này, trong đó đã có ghi chú rõ ràng ba khía cạnh:

    – Loại hình nghiên cứu (kiểu): gồm 3 loại hình (theo hướng tăng dần): Cơ bản – Ứng dụng – Phát triển.

    – Phương thức nghiên cứu (cách): gồm 4 phương thức: Thực nghiệm – Lý thuyết – Tính toán – Với dữ liệu lớn.

    – Cấp độ nghiên cứu (cỡ): gồm 3 cấp độ: Đề tài nhỏ – Đề tài định hướng cấp nhà nước, bộ, ngành – Chương trình trọng điểm nhà nước.

    Như thế mà còn không hiểu lại mỉa mai người khác thì tôi thấy thật là thất vọng, làm sao có thể làm trưởng phòng để kiểm soát, điều hành phòng tranh luận này? Liệu cái này có thể hiện năng lực của những người quản lý tạp chí này không? Tôi hy vọng chỉ là sai sót nhất thời.

    Vài lời góp ý, mong các bạn để tâm. Tôi vẫn ủng hộ định hướng của các bạn, nhưng không thể làm bừa, làm ẩu như thế này được.

    Trân trọng.
    ======================
    Giaosudom@: JIPV xin cám ơn bác đã góp ý và tranh luận. Xin lưu ý rằng JIPV k xóa những ý kiến trái chiều, nhưng phải có tính xây dựng, phải có lý, có tình. Bác Onlooker và các thành viên khác của JIPV và độc giả đều ngang nhau về quyền tranh luận. JIPV nhận thấy bác Onlooker có đủ năng lực khoa học và trình độ lý luận để làm Trưởng phòng này. JIPV không chấp nhận sự mỉa mai của bác đối với bác Onlooker.

    Bác chưa hiểu đầy đủ về JIPV, cũng như ý nghĩa Viện vinh danh của bác Chim_nhon,… Rất mong bác tìm hiểu kỹ hơn.

    Một lần nữa, xin cám ơn bác.

  41. giaosudom said

    https://giaosudom.wordpress.com/category/nckh-c%E1%BB%A7a-d%E1%BA%A1i-h%E1%BB%8Dc-vi%E1%BB%87n/

    Đây là trang kiểm định NCKH của ĐH, Viện. Bác nào ý kiến về VNCC thì vui lòng sang bên ấy nhé. Thanks.

  42. Tuan Ngoc@ said

    Khoa học Việt Nam có đang đứng trước nguy cơ “tuyệt tự”

    (Dân trí) – Đấy là trăn trở của GS.VS Nguyễn Văn Hiệu trong cuộc trò chuyện thẳng thắn và đầy tâm huyết về những điều thật sự đáng quan tâm trong lĩnh vực hoạt động khoa học và giáo dục. Chúng tôi trân trọng giới thiệu cùng độc giả.

    Kính thưa GS. Nguyễn Văn Hiệu, vào dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám, cũng là dịp tựu trường của năm học mới, xin Giáo sư cho biết cảm nghĩ của mình về những ngày này?

    Xem truyền hình, thấy cảnh các buổi lễ khai trường thật vui vẻ, học sinh mặc đồng phục đẹp, xếp hàng trên sân các ngôi trường khang trang, hồi tưởng lại thời thơ ấu gian khổ, chưa từng dám mơ ước có được một buổi lễ khai trường như thế, tôi cảm thấy rất thấm thía rằng suốt từ khi đất nước ta giành được độc lập cho đến nay nhân dân cả nước lúc nào cũng hết lòng chăm lo cho sự học hành của con cháu.

    Tôi còn nhớ như in lời căn dặn của Bác Hồ kính yêu trong bức thư Người gửi cho học sinh vào năm học đầu tiên sau Cách mạng Tháng Tám. Bác Hồ đã đặt nhiều kỳ vọng vào ý chí phấn đấu học tập của các em học sinh để đưa nước nhà tiến lên sánh vai cùng các cường quốc năm châu.

    Ý kiến của bạn về vấn đề này xin gửi đến Diễn đàn Dân trí qua địa chỉ e-mail:thaolam@dantri.com.vn
    Nhưng cho đến nay ở một số vùng sâu, miền núi còn rất thiếu trường học, trong lúc đó việc sử dụng ngân sách giáo dục còn lãng phí. Tôi mong sao các cấp chính quyền và các cơ quan quản lý giáo dục khắc phục tốt hơn sự lãng phí để có tiền xây dựng trường học cho trẻ em khắp mọi miền đất nước.

    Là một Nhà khoa học trưởng thành từ Cách mạng Tháng Tám, đã gắn bó cả cuộc đời mình với sự nghiệp khoa học, chắc rằng Giáo sư chưa vui và còn những trăn trở về thực trạng nghiên cứu KHCN hiện nay?

    Không hẳn là chưa vui, mà là có buồn, nhưng cũng có vui. Buồn vì thấy sự đầu tư của nhà nước và xã hội còn nhỏ bé so với yêu cầu phát triển khoa học và công nghệ, mà ở nhiều nơi sự đầu tư đó lại không được sử dụng có hiệu quả, nhiều thiết bị quý, có giá trị lớn, rất hiếm khi được sử dụng; hàng loạt đề tài nghiên cứu sau khi được nghiệm thu đúng thủ tục đã chẳng đem lại kết quả gì, bởi vì không có đủ giá trị khoa học để công bố mà cũng không thể áp dụng vào thực tiễn, lại cũng không được coi là một công việc dở dang và được làm tiếp cho đến cùng, cho nên đã chấm dứt không dấu vết.

    Điều rất đáng buồn là nhiều cán bộ khoa học, kể cả các nhà khoa học đầu đàn, cũng không có ý định làm khoa học một cách nghiêm túc, chỉ cốt đăng ký hết đề tài này đến đề tài khác để có kinh phí mà hoạt động và tăng thêm thu nhập nhờ các “khoản chi mềm”.

    Có buồn nhưng cũng có vui vì vẫn còn có những con người đam mê khoa học, khó khăn đến mấy vẫn nghiêm túc nghiên cứu khoa học. Giáo sư Võ Quý và giáo sư Phan Nguyên Hồng là những người đã đi tiên phong nghiên cứu về môi trường ở châu Á. Tiến sĩ Nguyễn Hữu Ninh đã được vinh danh trong Lễ trao Giải thưởng Nobel vì hòa bình vì những đóng góp vào việc nghiên cứu biến đổi khí hậu toàn cầu.

    Trong khoảng thời gian vài năm trở lại đây khoa học tự nhiên nước ta có sự khởi sắc theo hai hướng: một là thực hiện việc đánh giá các kết quả nghiên cứu theo các chuẩn mực quốc tế, hai là quyết tâm tập trung lực lượng nghiên cứu cơ bản theo định hướng nhằm sáng tạo ra những kỹ thuật và công nghệ mới có giá trị khoa học và ý nghĩa thực tiễn lớn. Tôi hy vọng rằng trong thời gian sắp tới khoa học Việt Nam sẽ phát triển nhanh, nỗi buồn sẽ giảm đi, niềm vui sẽ ngày càng tăng.

    GS.VS Nguyễn Văn Hiệu

    Theo Giáo sư, những nguyên nhân chủ yếu nào dẫn tới tình trạng hạn chế việc phát huy động lực phát triển của khoa học đối với đời sống xã hội?

    Hai nguyên nhân sâu xa nhất dẫn đến việc khoa học chậm phát triển và kém hiệu quả là những sai lầm của các cơ quan quản lý và những khuyết điểm của chính những người làm khoa học. Có quá nhiều sai lầm và khuyết điểm, trong một bài phỏng vấn không thể kể ra hết được. Tôi chỉ dẫn ra vài thí dụ.

    Trước hết nói về sự lãng phí trong việc sử dụng vốn đầu tư của nhà nước: nhiều thiết bị quý, thậm chí có cả một phòng thí nghiệm hiếm khi được sử dụng. Có một nguyên nhân là quyết định sai lầm của người lãnh đạo cơ quan chủ đầu tư, nhưng cũng còn một nguyên nhân nữa là chính nhà khoa học lập đơn hàng mua thiết bị đó thiếu tinh thần trách nhiệm.

    Bây giờ nói về việc quá nhiều đề tài nghiên cứu nhằm mục tiêu ứng dụng rất cụ thể sau khi kết thúc tốt đẹp thì lại chẳng ứng dụng vào đâu được. Một nguyên nhân là cơ quan quản lý không có được một Hội đồng khoa học đáng tin cậy và có đủ năng lực đánh giá được rằng với tiềm lực khoa học ở nước ta hiện nay mục tiêu của đề tài có khả thi hay không. Thường là không khả thi. Về phía nhà khoa học nhận nhiệm vụ thực hiện thì dù biết rằng không làm được nhưng cứ đăng ký bừa đi, chẳng mất gì mà lại chỉ được kinh phí thôi. Rất đáng tiếc rằng tình trạng này hiện nay vẫn còn đang tiếp diễn.

    Hai nguyên nhân sâu xa nhất dẫn đến việc khoa học chậm phát triển và kém hiệu quả là những sai lầm của các cơ quan quản lý và những khuyết điểm của chính những người làm khoa học. Có quá nhiều sai lầm và khuyết điểm, trong một bài phỏng vấn không thể kể ra hết được. Tôi chỉ dẫn ra vài thí dụ.
    Còn nói về tình trạng “lạm phát” những năm gần đây các báo cáo tại các Hội nghị khoa học gọi là quốc tế được chấm điểm khi xét công nhận giáo sư hoặc phó giáo sư. Thế là các viện nghiên cứu và các trường đại học đua nhau tổ chức hội nghị. Những đại biểu Việt Nam đến dự Hội nghị sẵn sàng nộp tiền để được đăng báo cáo của mình trong Proceeding. Có trường hợp chất lượng báo cáo quá kém nhưng vì Ban Tổ chức đã nhận tiền Hội nghị phí nên đành phải đăng.

    Có lần khi tham gia xét duyệt các báo cáo để đăng trong Proceeding tôi đã phát hiện ra rằng thường xảy ra trường hợp vài ba báo cáo thực ra chỉ là từng đoạn của cùng một báo cáo, được các tác giả tách ra thành nhiều báo cáo để được nhiều điểm. Cơ sở của việc tính điểm công trình để xét phong giáo sư và phó giáo sư là thế đấy. Vẫn có cả hai nguyên nhân: sự sai lầm của những người quản lý và sự thiếu lòng tự trọng của chính những người khoa học.

    Đại hội lần thứ XI của Đảng một lần nữa nhấn mạnh vai trò quan trọng hàng đầu của giáo dục và đào tạo cũng như khoa học và công nghệ… Vậy để đưa tinh thần đó của Nghị quyết vào cuộc sống, trước mắt, cần tập trung thực hiện những biện pháp gì, theo Giáo sư?

    Thầy Nguyễn Ngọc Hải cùng các học sinh nghiên cứu đề tài “Thu giữ dầu loang bằng thảm vỏ tràm”. (Ảnh: Lao Động)

    Trước hết cần đẩy mạnh hơn nữa việc thực hiện hai biện pháp đã được tiến hành một vài năm gần đây. Để khuyến khích giới khoa học nghiên cứu đạt trình độ quốc tế, Bộ Khoa học và Công nghệ đã thành lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia, đánh giá các kết quả nghiên cứu khoa học theo các chuẩn mực quốc tế và đãi ngộ thỏa đáng những nhà khoa học đạt được các kết quả nghiên cứu trình độ quốc tế. Đó là một biện pháp quyết liệt tạo ra một bước tiến đột phá trong việc nâng cao chất lượng nghiên cứu.

    Tiếp theo việc thành lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ lại vừa có một chủ trương mới rất đúng đắn và kịp thời: Tổ chức thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học đạt trình độ quốc tế quy mô lớn và có triển vọng được ứng dụng để tạo ra tiến bộ vượt bậc trong một số lĩnh vực kỹ thuật và công nghệ ở nước ta.

    Trong bối cảnh hiện nay của các viện nghiên cứu và các trường đại học muốn thực hiện thành công chủ trương này phải tiến hành việc kiểm tra, đôn đốc một cách thường xuyên và kịp thời để khắc phục các khó khăn thiếu sót xảy ra trong quá trình thực hiện các đề tài. Lĩnh vực khoa học đa ngành Khoa học và Công nghệ nanô là một trong các lĩnh vực khoa học được chọn để thực hiện bước đột phá thứ hai này.

    Giới Khoa học vật liệu tiên tiến nước ta đang hăm hở thực hiện chủ trương mới của Bộ Khoa học và Công nghệ với hoài bão sớm làm cho Việt Nam được xếp vào tốp 2 – 3 nước dẫn đầu về Khoa học vật liệu tiên tiến ở Đông Nam Á.

    Để đạt được mục tiêu này còn phải thực hiện quyết liệt một biện pháp đột phá thứ ba: Xây dựng một số Trung tâm xuất sắc và đảm bảo cho những người làm việc trong các Trung tâm xuất sắc có thu nhập đủ sống và nuôi con, để mọi người toàn tâm toàn ý hoàn thành nhiệm vụ chính của mình. Việc xây dựng các Trung tâm xuất sắc nên kết hợp với việc tổ chức sử dụng có hiệu quả các phòng thí nghiệm với các thiết bị hiện đại đã được nhà nước đầu tư xây dựng trong những năm qua. Viện Toán học cao cấp do giáo sư Ngô Bảo Châu đứng đầu là Trung tâm xuất sắc đầu tiên ở nước ta.

    Trên đây mới chỉ là các biện pháp phát triển khoa học. Để đẩy mạnh việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao nhất thiết phải đối mới toàn diện và triệt để giáo dục và đào tạo.

    Là một nhà khoa học đầu đàn, cũng là Người Thầy của nhiều thế hệ sinh viên và nghiên cứu sinh, xin Giáo sư cho những lời khuyên và nhắn nhủ tâm huyết với các thế hệ học trò của mình.

    Tôi vô cùng lo lắng trước nguy cơ “tuyệt tự” của nền khoa học Việt Nam, một nền khoa học đã được nhà nước và nhân dân ta dày công vun đắp hơn sáu mươi năm qua. Vì gần như trong số những thí sinh thi đại học đạt điểm rất cao của khối A không có ai theo học các ngành khoa học tự nhiên.

    Tôi rất mong các em hãy tin rằng 9 năm sau, khi các em có trình độ Tiến sĩ, nước ta sẽ có nhiều Trung tâm xuất sắc giống như Viện Toán học cao cấp của giáo sư Ngô Bảo Châu để đón các em vào làm việc với những điều kiện nghiên cứu khoa học tuyệt vời. Thu nhập của mỗi người trong các Trung tâm xuất sắc cũng sẽ không kém thu nhập của những người đi làm ở các công ty, mà việc nghiên cứu khoa học lại hết sức lý thú và rất vẻ vang.

    Xin cảm ơn Giáo sư!

    Thao Lâm

    (thực hiện)

    http://dantri.com.vn/c673/s673-513852/khoa-hoc-viet-nam-co-dang-dung-truoc-nguy-co-tuyet-tu.htm
    ======================================
    Giaosudom@: “Tôi vô cùng lo lắng trước nguy cơ “tuyệt tự” của nền khoa học Việt Nam”——-> Tới giờ mới biết sao? Hay là sau khi đọc JIPV?

    • Onlooker said

      Tôi chỉ bình luận dựa vào những gì ông HTB phát biểu trên Tia Sáng. Tôi không bàn thêm những gì ông ấy hay ông/bà Quynd “phiên dịch” thêm. Thật ra những gì Quynd phiên dịch đọc cũng hài hước ghê! Nhưng tôi không bàn thêm nữa vì những phát biểu phân biệt khoa học cơ bản với ứng dụng cứ như là sinh viên trả bài cho thầy cô!

  43. Minh Tri said

    Phỏng vấn một đề tài khoa học
    (Dân trí) – GS.VS. Nguyễn Văn Hiệu mới đây trả lời phỏng vấn trên Dân trí với nhiều trăn trở về nền khoa học Việt Nam, trong đó có nhắc tới một “nhân vật” quan trọng là các đề tài khoa học. Dân trí đã tiếp tục phỏng vấn nhân vật này.
    >> Khoa học Việt Nam có đang đứng trước nguy cơ “tuyệt tự”

    (Minh họa: Ngọc Diệp)

    Chào Đề Tài. Dạo này thấy bạn có vẻ trầm lắng, ít xuất hiện?
    – Nghe là biết anh là người ngoại đạo rồi. Tôi vẫn sống khỏe, vẫn được săn đón, vẫn đóng vai trò quan trọng đối với ngành khoa học.

    Bạn có thể nói rõ hơn, được “săn đón” là sao?

    – Anh không hiểu à? Không có tôi thì lấy gì để xin duyệt kinh phí? Không có kinh phí thì nhà khoa học đong gạo bằng gì?

    Bạn nói vậy, phải chăng vai trò “xin kinh phí” của bạn cao hơn vai trò tạo ra hiệu quả khoa học?

    – Đương nhiên, các cụ đã dạy “có thực mới vực được đạo” mà…

    Nhưng hình như nhiều khi có “thực” rồi mà “đạo” vẫn chẳng thấy đâu. Đến nỗi GS.VS. Nguyễn Văn Hiệu phải than: “Điều rất đáng buồn là nhiều cán bộ khoa học, kể cả các nhà khoa học đầu đàn, cũng không có ý định làm khoa học một cách nghiêm túc, chỉ cốt đăng ký hết đề tài này đến đề tài khác để có kinh phí mà hoạt động”…

    – Tôi thấy công việc của tôi là rất nghiêm túc, có mục đích rõ ràng, đấy là để… lấy kinh phí!

    Vậy bạn được thực hiện như thế nào để đạt được mục đích đó? Bật mí cho tôi biết với, khéo mai tôi cũng đi đăng ký một đề tài…

    – Dễ ợt thôi mà. Thứ nhất là phải biết lướt mạng, biết đọc tài liệu khoa học sơ sơ, rồi lên mạng, vào thư viện, đọc một hồi, tổng hợp những cái người ta đã làm rồi “chế biến” ra thành một ý tưởng gì đó nghe thật là phức tạp, hoành tráng vào. Phải nhớ là ý tưởng phải kèm theo yêu cầu về những thiết bị nghiên cứu mà ở ta chưa đâu có, thế mới có cớ để xin duyệt nhập về. Ý tưởng với thiết bị càng kỳ quái, cao siêu càng tốt, vì như thế sau khi làm xong thì cơ quan quản lý cũng không đủ trình độ mà đánh giá đâu. Thứ hai là để làm được thế cho ngon thì cũng phải biết đánh bóng bản thân. Làm báo cáo cho dài, cho rắc rối vào, rồi xé ra thành nhiều đoạn, cứ hễ có hội nghị khoa học nào là “nhảy” vào xin đăng bằng được. Càng đăng nhiều thì càng được cộng nhiều điểm xét phong giáo sư, phó giáo sư.

    Những thiết bị sau khi được nhập về để phục vụ bạn, có ai dùng không?

    – Ôi dào, anh cứ rỗi hơi lo mấy việc con con thế thì khá thế nào được. Đến bản thân tôi sau khi được thực hiện xong thì cũng… xếp vào tủ, dùng làm gì?

    Có bạn đọc Dân trí đã viết: Nhà nước bỏ ra một khoản kinh phí không nhỏ nhưng gần như chẳng thu lại được cái gì hữu ích. Cuối cùng làm ra máy cắt lúa cũng là người nông dân, làm máy bay cũng lại là anh nông dân, xử lý khí thải trong tái chế acquy chì phế liệu cũng lại chị nông dân nốt…

    – Đúng rồi! Việc của họ cần thì họ phải làm. Làm kiểu đấy thì làm sao mà xin được… kinh phí?

    Bạn có gì nhắn nhủ với các bạn đọc của Dân trí?

    – Vâng. GS. Nguyễn Văn Hiệu đang lo lắng nền khoa học Việt Nam đang đứng trước nguy cơ “tuyệt tự”. Cái tôi lo nhất là nếu “tuyệt tự” thì cũng chẳng còn… kinh phí cho tôi sống. Các bạn đọc Dân trí “hiến kế” giúp tôi làm thế nào để có thể tiếp tục sống khỏe nhé?

    Tuấn Anh
    (thực hiện)

    http://dantri.com.vn/c702/s702-515240/phong-van-mot-de-tai-khoa-hoc.htm

    Comments: Bao năm rồi nghiên cứu xong chỉ đóng quyển và … cho vào ngăn kéo, bây giờ các bác nhà ta thi nhau mổ sẻ, kể tội, …

  44. Tuan Ngoc@ said

    Bác Minh Tri có biết tại sao ông Hiệu nói thế không? Đang hối hận đấy thôi, nhất là sau khi đọc JIPV. Chỉ có Mr Nguyễn Lân Dũng là chưa sám hối thôi.

  45. Onlooker said

    Bài phỏng vấn này hay đó chứ. Ông Nguyễn Văn Hiệu lo KHVN “tuyệt tự”, nhưng trong thực tế thì đang tuyệt tự. Tuyệt tự theo tôi hiểu là vì:

    1.- Người ta làm/chạy dự án không phải vì khoa học mà vì có thêm thu nhập. Tham nhũng tràn ngập trong cộng đồng học thuật.

    2.- Những người mang danh “nhà khoa học” làm khoa học dỏm, giả tạo data cốt để có báo cáo láo.

    3.- Thầy cô bất tài, kém đức.

    4.- Đã bất tài mà còn đòi đào tạo nghiên cứu sinh và thế là cho ra lò thêm một thế hệ bất tài vô đức.

    5.- Các bạn có thể thêm lý do.

  46. Minh Tri said

    Các bác JIPV xác minh trường hợp này có phải dỏm không nhỉ? Nếu dỏm thì “vinh danh” thôi!

    Thứ trưởng Bộ Y tế khai gian học vị tiến sĩ
    Trong các bản khai, Thứ trưởng Bộ Y tế Cao Minh Quang cam đoan đạt học vị tiến sĩ tại đại học Uppsala (Thụy Điển) nhưng cơ quan chức năng xác định ông chưa đạt học vị này. Một lãnh đạo Ban Tổ chức trung ương cho biết, nếu đúng vi phạm trên, vị thứ trưởng sẽ bị kỷ luật nặng.
    > Thứ trưởng Bộ Y tế bị kỷ luật

    Thứ trưởng Bộ Y tế Cao Minh Quang. Ảnh: Minh Thùy.
    Cục An ninh Chính trị nội bộ (A83) thuộc Tổng cục An ninh II vừa có văn bản trả lời đơn tố cáo của ông Ngô Minh Nho (đảng viên, cựu chiến binh ở TP HCM) liên quan đến học vị tiến sĩ của Thứ trưởng Bộ Y tế Cao Minh Quang.

    A83 xác định, trường đại học Uppsala Thụy Điển đã cấp chứng chỉ về nghiên cứu Khoa học Dược phẩm tự nhiên cho ông Cao Minh Quang, chứ không phải văn bằng.

    Trao đổi với VnExpress, một lãnh đạo Cục khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo) cho biết, hệ thống văn bằng quốc tế rất phức tạp và tùy thuộc vào từng nước. Cục khảo thí đã xem lại hệ thống văn bằng, liên hệ với trường ĐH Uppsala (Thụy Điển) để biết được thông tin chính xác.

    Theo đó, ĐH Uppsala xác nhận: “Ông Cao Minh Quang, sinh ngày 6/6/1953, đạt chứng chỉ “Licentiatexamen” về nghiên cứu khoa học dược phẩm tự nhiên vào ngày 26/10/1994. Đây là chứng chỉ chứ không phải văn bằng. Theo quy định của trường Uppsala chứng chỉ nói trên cần phải đạt được để tham dự khóa học tiến sĩ”.

    Về thông tin chứng chỉ của ông Quang được một nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục trước khi về hưu xác nhận tương đương với học vị tiến sĩ, lãnh đạo Cục khảo thí cho rằng điều này khó có thể xảy ra bởi từ năm 2007, mọi thứ liên quan đến văn bằng, chứng chỉ đều giao cho Cục khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục phụ trách.

    “Trước khi thứ trưởng muốn xác nhận điều gì về văn bằng thì hồ sơ phải được chuyển qua cho Cục khảo thí nghiên cứu, xem xét, sau đó mới trình thứ trưởng ký. Vậy nên không thể có chuyện thứ trưởng xác nhận cho ông Quang mà Cục không biết”, vị lãnh đạo Cục khảo thí cho hay.

    Theo một lãnh đạo Ban tổ chức trung ương Đảng, nếu đúng ông Quang khai man lý lịch, Ban bí thư trung ương sẽ xem xét kỷ luật. “Ông Quang từng bị kỷ luật ở mức cảnh cáo, do đó nếu xác định vi phạm khai man lý lịch, ông này chắc chắn sẽ nhận mức kỷ luật cao hơn”, vị lãnh đạo trên cho biết.

    Ông Cao Minh Quang 58 tuổi, từng là Cục trưởng Cục Quản lý Dược, trước khi được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Y tế. Trong các bản khai lý lịch, danh thiếp, ông Quang đều ghi học vị tiến sĩ.

    Liên quan đến một số sai phạm trong công tác lãnh đạo, quản lý ngành, cuối năm 2009, Thứ trưởng Cao Minh Quang từng bị Ủy ban Kiểm tra trung ương ra thông báo kỷ luật cảnh cáo.

    Nguyễn Hưng – Hoàng Thùy

    http://vnexpress.net/gl/xa-hoi/2011/09/thu-truong-bo-y-te-khai-gian-hoc-vi-tien-si/

  47. Onlooker said

    Các bác ơi: Thì ra bằng cấp của ông Cao Minh Quang tương đương với phó tiến sĩ.

    http://nguyenvantuan.net/education/3-edu/1343-ve-chuyen-bang-cap-licentiatexamen-tuong-duong-voi-thac-si-hay-tien-si-

    Bộ Y tế cho rằng văn bằng Licentiatexamen (Thụy Điển) của ngài thứ trưởng tương đương với bằng tiến sĩ của Việt Nam. Bộ Giáo dục thì cho rằng bằng này tương đương với bằng thạc sĩ. Tôi nghĩ cả hai đánh giá đều có vấn đề. Có thể giải thích được tại sao hai Bộ lại có đánh giá khác (và lệch) như thế.

    Mấy hôm nay, giới báo chí ồn ào chung quanh câu chuyện bằng cấp của ngài thứ trưởng Bộ Y tế Cao Minh Quang. Tâm điểm của sự ồn ào là câu hỏi văn bằng Licentiatexamen của ông có tương đương với bằng tiến sĩ (PhD) hay không. Báo An Ninh Thủ Đô viện dẫn công văn của Bộ Y tế năm 2001 cho rằng văn bằng Licentiatexamen trong hệ thống đại học Thụy Điển là tương đương với “bằng Tiến sĩ dược học theo hệ thống đào tạo sau đại học của Việt Nam”. Nhưng mới đây, báo Pháp Luật TP dẫn nhận xét của Cục Khảo thí của Bộ GD&ĐT rằng văn bằng Licentiatexamen là văn bằng “trên thạc sĩ hoặc trình độ tiền tiến sĩ, chưa phải là bằng tiến sĩ (Ph.D)”. Chú ý, Cục khảo thí không nói Licentiatexamen là có tương đương với bằng tiến sĩ của Việt Nam hay không, mà chỉ nói chung chung.

    Tại sao hai cơ quan cấp Bộ hiểu khác nhau về văn bằng Licentiatexamen ? Tôi nghĩ tôi có thể trả lời câu hỏi này. Để trả lời câu hỏi, chúng ta cần phải xem qua hệ thống văn bằng đại học của Thụy Điển.

    Thử vào các trang web đại học Lund, Uppsala, v.v. thì biết hệ thống văn bằng của Thụy Điển ra sao, cần gì đến Bộ này hay Bộ kia phải ra văn bản! Hệ thống giáo dục đại học của Thụy Điển xem ra rất đặc thù. Đó là hệ thống dựa vào tín chỉ (credit points). Hoàn tất một tuần học toàn thời gian là tương đương với 1 tín chỉ. Một năm học thường có 40 điểm tín chỉ (dĩ nhiên là phải hoàn tất, chứ không rớt). Văn bằng được cấp dựa vào tín chỉ. Cơ cấu của văn bằng học thuật chia làm 3 cycle (vòng):

    Cycle 1: cấp cử nhân (180 điểm) và diploma (120 điểm);
    Cycle 2: cấp cao học hay thạc sĩ, master (60 hoặc 120 điểm);
    Cycle 3: cấp chuyên môn (professional degree), bao gồm licentiatexamen(120 điểm tín chỉ, tương đương với văn bằng Master of Philosophy hay M.Phil. của Anh), và văn bằng doktorsexamen (PhD, 240 điểm).

    Tôi đã hỏi một postdoc người Thụy Điển (nay là head of department of surgery của Uppsala) từng làm trong lab của tôi về licentiatexamen. Anh ta cũng khẳng định văn bằng này tương đương với M.Phil của Anh. Cần nói thêm rằng văn bằng M.Phil hay licentiatexamen được xem là văn bằng cao hơn Master (thạc sĩ). Để được cấp M. Phil, thí sinh phải làm nghiên cứu chứ không đơn thuần theo học trong lớp (course-work). Trong nhiều trường hợp, M. Phil là một văn bằng “lâm thời” để theo học tiến sĩ.

    Với những thông tin trên, chúng ta đã hiểu tại sao có sự khác biệt về đánh giá văn bằng licentiatexamen của Bộ Y tế và Bộ GD&ĐT. Dựa vào thông tin trên, văn bằng licentiatexamen tương đương với M Phil, nhưng dưới tiến sĩ một bậc, có lẽ tương đương với Kandidat Nauk (phó tiến sĩ) của Liên Xô cũ. Mà, phó tiến sĩ thì nay là tiến sĩ. Do đó, Bộ Y tế nhận định rằng licentiatexamen của ngài thứ trưởng Cao Minh Quang tương đương với văn bằng tiến sĩ của Việt Nam. Nhấn mạnh “của Việt Nam”.

    Nhưng Bộ GD&ĐT cũng có lí do cho nhận định của họ. Trong hệ thống giáo dục Thụy Điển, văn bằng licentiatexamen thấp hơn Ph.D. Mà, thấp hơn Ph.D ở Việt Nam là thạc sĩ. Nhưng tôi e rằng nhận định này không đúng, bởi vì trong thực tế licentiatexamen cao hơn master (= thạc sĩ).

    Tuy nhiên, mọi so sánh đều tương đối và có thể … sai. Trong thực tế, khó có thể nói văn bằng của hai nước nếu hai nước có hệ thống giáo dục đại học khác nhau. Chắc chắn người có bằng tiến sĩ từ Mĩ, Anh, Pháp, v.v. không bao giờ nghĩ rằng văn bằng của họ tương đương với văn bằng tiến sĩ của Việt Nam. Hai hệ thống giáo dục, hai phương cách đào tạo khác nhau một trời một vực thì làm sao đánh giá tương đương được. Tương tự, rất khó nói licentiatexamen tương đương với tiến sĩ hay thạc sĩ của Việt Nam, bởi vì licentiatexamen dựa vào tín chỉ trong khi đó văn bằng Việt Nam không biết dựa vào cái gì. Cố nhiên, không thể dựa vào số năm theo học để đánh giá tương đương hay không.

    Tuy nhiên, một điều chắc chắn là văn bằng licentiatexamen không phải là tiến sĩ hiểu theo nghĩa Ph.D của các nước Âu Mĩ.

    NVT

    • GS.D said

      Chào bác Onlooker,

      Trong bài của GS Tuấn khẳng định bằng của ông Minh tương đương với bằng tiến sĩ (chứ không phải là Tiến sĩ khoa học!) của Nga, theo tôi là không đúng. Ở Nga để có bằng tiến sĩ (và tiến sĩ khoa học – khó hơn rất nhiều) cần phải viết luận án, viết báo đăng ở một số tạp chí được Bộ GD Nga quy định, rồi bảo vệ luận án đàng hoàng chứ không phải là “tích lũy credit”. Nếu theo nghĩa tích lũy thì có chăng ở Nga chỉ là vượt qua kỳ thi minimum và phải học gần chục môn khác để được bảo vệ luận án mà thôi.

      Tôi biết giữa Nga và các nước châu Âu có một hiệp định công nhận bằng cấp lẫn nhau, trong đó master (hoặc chuyên gia – học chương trình 5 năm ở Nga) là master, kandidat Nauk sẽ tương đương với doctor của phương Tây. Còn học vị tiến sĩ khoa học ở Nga mới có, một số nước phương Tây có dạng tương đương nhưng chắc chắn loại đó không thể được coi là tiến sĩ như ở châu Âu (như GS Tuấn nói), mà là cao hơn ít nhất một bậc về đẳng cấp!! Các bác khẳng định thế là hơi chủ quan và thiếu tôn trọng nền khoa học Nga rồi đấy.

      Vài dòng cùng bác.

      Trân trọng.

      • GS.D said

        Cần phải nói thêm. Ở Nga bây giờ để bảo vệ luận án TS không phải khó, chỉ cần có tiền. Tôi biết rất nhiều người từng làm như vậy để có cái bằng TS rồi về VN … lập nghiệp.

        Còn như ở Pháp, theo tôi tình hình cũng không khá gì hơn. Tôi đã từng nói chuyện với một TS bảo vệ ở Pháp về, cái mà GS Tuấn gọi là Doctor ấy, tay này còn không viết nổi một bài báo, toàn là presentations ở conference, thế mà vẫn được bảo vệ.

    • Vuhuy said

      Tôi nghĩ không nên nói PTS ở đây! Nói tương đương như GS Tuấn là có vấn đề! Vụ này có gì đâu mà bàn? Bằng của ông Q. không là TS, đơn giản thế thôi.

  48. Tuan Ngoc@ said

    Đào tạo TS ở VN còn nhiều tệ hại cần cải cách, nhưng không vì cái đó mà xem nhẹ bằng TS Việt Nam. Tôi không đồng ý với Gs Tuấn về chuyện này. Nhưng ai cũng có quyền được nói.

  49. Tuan Ngoc@ said

    Ngay cả TS Nga cũng mua bán tá lã, nhưng cũng không vì thế mà đánh giá kém nó. TS Úc như bà PA có ra trò gì đâu, cở thạc sĩ+ là cùng. TS Mỹ nhiều người cũng ù lì ra đó thui. Tôi nghĩ JIPV không nên tham gia mấy vụ linh tinh này, hãy nhìn cào publications mà nói. Nhưng nếu độc giả có hỏi thì nên trả lời. Tôi được biết giờ thì JIPV là nơi tin cậy để kiểm tra trình của PGS, GS VN

    • GS.D said

      TS ở Nga có 2 loại mua, một loại là đi mua cả cái bằng, chả học hành gì sất, một loại nữa là nộp vài trăm đô để đăng 1 bài báo 1-2 trang ở những tạp chí của các trường vớ vẩn mà vẫn được Bộ GD Nga liệt kê vào danh sách VAK. Loại thứ 2 bây giờ khá nhiều. Nên nếu các bác gặp TS nào ở Nga về mà không biết là nào là “đăng báo miễn phí” cũng đừng có ngạc nhiên, hiii.

    • Tuan Ngoc@ said

      Như vậy thì có tương với ts Việt Nam không bác? TS có bài nhưng mua thì khá tinh vi, coi như “giỏi” hơn ts mua không cần bài ;_)

  50. Thuykieu said

    Sự hiện diện của Việt Nam có thể thông qua số người đăng kí tham dự, nhưng quan trọng hơn là số abstracts cho hội nghị. Hội nghị sẽ thu hút khoảng 1500 khách trên thế giới, chủ yếu là Đông Nam Á. Là người phụ trách mảng khoa học của hội nghị, tôi có thể nói rằng trong số hơn 150 abstracts nhận được, số abstracts từ các tác giả Việt Nam chỉ đếm đầu ngón tay. Đó là một điều rất đáng quan tâm. Chúng ta là nước chủ nhà có vinh dự đứng ra tổ chức, chúng ta cần phải chứng tỏ cho đồng nghiệp ASEAN và thế giới biết được tiềm năng và thực lực khoa học của Việt Nam. Nhưng hiện nay, sự hiện diện của Việt Nam trong phần khoa học còn quá khiêm tốn.
    http://nguyenvantuan.net/health/2-health/1346-hoi-nghi-afes-2011

    =================

    Toàn giáo dỏm, ngồi há miệng ăn chứ làm quái gì? Lộ mặt nạ ra hết!

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: