Tạp Chí GS Dỏm Việt Nam

Journal of Incompetent Professors in Vietnam – JIPV

Trung tâm lưu trữ

Posted by giaosudom trên Tháng Chín 18, 2010

Giám đốc: Editor Chim_nhon

Chức năng: Lưu lại những comments có giá trị khoa học, có liên quan đến hoạt động khoa học của JIPV.

Quy trình hoạt động: Editors và Độc giả đề nghị những comments cần được lưu trữ từ Phòng tranh luận khoa học.  Các bác chỉ cần post links trực tiếp đến comments được đề nghị, Editor Chim_nhon và JIPV sẽ xem xét. Những comments được chọn sẽ được post trực tiếp trong trang này.

******************************************************************************

Advertisements

4 phản hồi to “Trung tâm lưu trữ”

  1. chim_nhon said

    onlooker đã nói
    Tháng Chín 16, 2010 lúc 6:12 sáng
    Bài viết “hàn lâm”?

    Mấy hôm nay đọc qua JIPV tôi đã biết loáng thoáng về sự hợp tác giữa ông BS và bà TS ở ĐHQGTPHCM. Tôi tìm ngay một “bản tin Trung tâm Khảo thí & Đánh giá Chất lượng Đào tạo” để biết sự việc. Bản tin do bà TS làm “tổng biên tập” cùng một danh sách 14 người khác với đủ thứ bằng cấp thạc sĩ, tiến sĩ tham gia. Trong số danh sách cộng tác viên có cả ông BS. Nếu chỉ nhìn qua danh sách những người học cao như thế ai cũng nghĩ đây là bản tin có chất lượng. Nhưng như người ta nói đừng bao giờ đánh giá tạp chí qua cái bìa, Bản tin của bà TS có nhiều hạt sạn lắm.

    Những hạt sạn về cách hành văn, chính tả, lạm dùng tu từ … đầy rẫy trong 22 trang giấy. Ví dụ: lúc thì viết là “Hoa Kỳ”, nhưng ngay dưới đó vài hàng thì viết là “Hoa Kì”, bài dịch không đề nguồn gốc, cộng với những rhetoric như làm tôi phân vân không hiểu tác giả đang viết tiểu thuyết hay học thuật luận? Ngay từ dòng đầu của Bản tin đã viết sai tên. Bản tin viết “ASEAN University National – AUN” đọc lên đã thấy buồn cười. University National là gi? Thật ra, trong thực tế thì chỉ có “ASEAN University Network” (AUN). Chất lượng văn chương của bà TS là thế?

    Thành phần ban biên tập và hứa hẹn của họ tạo ấn tượng rằng bạn đọc sẽ có một nội dung tốt. Họ hứa hẹn rằng “Bản tin … gồm những bài viết của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, những chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực giáo dục”. Nhưng Bản tin số 1/2010 chỉ có 2 bài, một bài dịch “Toàn cầu hóa, xếp hạng quốc tế và mô hình Hoa Kì: một cái nhìn lại” và một bài của tác giả Hồ Văn Hải “Một vài suy nghĩ về mục tiêu giáo dục đại học Việt Nam đến năm 2020” trong mục “Thời sự & Suy nghĩ”. Tôi đoán tác giả chính là ông BS. Trong entry này, tôi chỉ bàn qua bài của ông BS, vì ông cho đó là một bài mang tính học thuật, hàn lâm. Tuy nhiên bà TS cho rằng bài đó không mang tính học thuật và cũng chẳng hàn lâm. Vậy ai đúng?

    Có nhiều điểm tôi thấy còn lấn cấn trong bài của ông BS. Vấn đề nội dung và cấu trúc logic là vấn đề lớn vì nguyên bài viết không có những “support statements”. Phải đọc đến gần cuối mới biết mục đích bài viết là gì. Nhưng đọc xong cũng chẳng hiểu! Bài viết cũng chẳng có tài liệu tham khảo, vốn không thể thiếu được cho một bài viết học thuật. Ngoài ra, còn có 2 điểm nổi cộm mà tôi thấy cần phải bàn thêm như sau.

    Điểm thứ nhất là cách hiểu của ông về xếp hạng đại học. Ông viết rằng chủ yếu có 3 loại xếp hạng: “Loại thứ nhất dành cho đại học nghiên cứu (ví dụ: bảng xếp hạng của Đại học Giao thông Thượng Hải). Loại thứ 2 tập trung vào chất lượng giảng dạy và danh tiếng của trường (ví dụ: bảng xếp hạng của THES). Loại thứ 3 đo lường sự hiện diện của trường đại học trên mạng điện tử (ví dụ: bảng xếp hạng của Webometrics)”.

    Tôi e rằng cách hiểu này không ổn. Không phải là “loại” xếp hạng, mà là “tiêu chí” xếp hạng. Tất cả các tổ chức xếp hạng không phân biệt “đại học nghiên cứu” hay đại học “giảng dạy”. Đã là “đại học” đúng nghĩa thì phải vừa đào tạo (chứ không phải giảng dạy) và nghiên cứu khoa học. Cùng là một đại học, nhưng có tổ chức xếp vào hạng 1, có tổ chức xếp vào hạng 10, vì mỗi tổ chức dùng tiêu chí xếp hạng khác nhau. Trung tâm xếp hạng của ĐH Giao thông Thượng hải đặt nặng tiêu chí giải Nobel và giải Field hơn là đào tạo. Nhưng THES thì củ yếu dựa vào đánh giá của đồng nghiệp để đánh giá xếp hạng (chứ không phải “giảng dạy”). Bởi thế, tôi nghĩ các hiểu của ông BS về các bảng xếp hạng chưa chính xác.

    Điểm thứ hai là ông đưa nhiều con số mang tính xác định nhưng không đề nguồn. Ví dụ như ông viết rằng “Đầu tiên là trong số 8.000 trường đại học trên thế giới thì chiếm gần một nửa”. Chú ý câu văn không chuẩn. Theo tôi hiểu ông viết rằng “Mỹ chiếm gần một nửa”. Nhưng vấn đề ở đây là dựa vào cơ sở nào mà ông khẳng định con số tròn trĩnh 8.000 đại học trên thế giới? Cơ sở nào để ông BS nói rằng Mỹ có gần 4.000 trường đại học? Theo tôi thì chẳng có cơ sở nào cả.

    Tôi tò mò google thì thấy một trang web nói rằng theo International Journal of Scientometrics, infometrics and bibliometrics, trên thế giới có 17036 trường đại học. Họ còn cho trang web http://www.webometrics.info/methodology.html nhưng tôi không thể kiểm tra độ tin cậy của con số này. Tuy nhiên, con số này cũng cao hơn 2 lần con số của ông BS.

    Mỹ có bao nhiêu đại học? Câu hỏi này khó trả lời, bởi vì Mỹ có hệ 2 năm (cao đẳng cộng đồng) và 4 năm (đại học). Tôi tra trang web thống kê giáo dục của Mỹ thì thấy năm 2009, có 2.719 trường đại học và 1.690 trường cao đẳng cộng đồng. Như vậy, tôi nghĩ con số 4.000 của ông cũng không đúng.

    Ông viết “dù ở bảng xếp hạng nào thì trong 100 hạng đầu của các trường đại học trên thế giới, các trường đại học Mỹ chiếm khoảng 40%”. Một lần nữa ông không cho chứng cứ, không dẫn nguồn. Thật ra, theo phân tích của ĐH Giao thông Thượng hải thì trong số đại học top 100 trên thế giới, Mỹ chiếm 54 trường (54%), còn nếu tính top 500 thì đại học Mỹ chiếm khoảng 31%. Nguồn ở đây: http://www.arwu.org/ARWUAnalysis2010.jsp. Một lần nữa ông lại viết sai.

    Chẳng những sai về con số đại học của Mỹ, tôi thấy ông cũng sai về con số thống kê giáo dục Việt Nam. Ông cho biết “Chúng ta có gần 87 triệu dân và hơn 450 trường đại học” và “mỗi năm chúng ta có hơn 220.000 sinh viên ra lò”, nhưng cũng không đề nguồn. Theo thống kê của Bộ GDĐT, Việt Nam ta có 160 trường đại học, 120 trường công lập và 40 tư thục. Cũng theo thống kê của Bộ GDĐT http://moet.gov.vn/?page=11.5&view=930, năm 2007-2008, có 152.272 sinh viên tốt nghiệp. Do đó, những con số của ông BS đưa ra đều sai.

    Chẳng những sai về fact, ông còn rất “vô tư” trong những so sánh. Ví dụ, ở một đoạn ông viết đúng rằng nếu so sánh giáo dục đại học của Mỹ và Việt Nam thì sẽ rất “khập khiễng”, ấy thế mà ngay trong đoạn văn phía dưới ông viết “Nước Mỹ sinh sau đẻ muộn, chỉ cần hai thế kỷ, họ đã vươn mình đứng dậy, thành cường quốc số 1 thế giới. Họ làm được sao ta không làm được”. Ông tự mình mâu thuẫn. Còn nhiều câu văn “rất vui”, rất rhetoric trong bài viết mà ông cho là “hàn lâm”.

    Mới đây, ông BS đặt câu hỏi “Vì ISI không phải là duy nhất để đánh giá về khoa học của một cá nhân nào. Vấn đề là ISI có đủ tầm để đánh giá hết tất cả các tạp chí chuyên ngành không”. Tôi e rằng ông nhầm lẫn vấn đề nữa. ISI có dịch vụ đánh giá cá nhân đấy, nhưng phải là những cá nhân xuất chúng. Thử nhìn qua trang http://www.isihighlycited.com thì biết. Trong danh sách nhà khoa học “highly cited” có ít nhất là một Việt kiều đấy. Còn ông hỏi ISI có đủ tầm để đánh giá các tạp chí chuyên môn hay không thì lại là một câu hỏi không nên có, và nó chứng tỏ ông không biết ISI. Xin nói cho ông rõ, ISI là trung tâm phân tích bài báo khoa học toàn cầu. Các tạp chí khoa học được ISI đưa vào danh sách là một “phần thưởng” và xem như là được công nhận. Bởi thế, phân tích của ISI được các trung tâm xếp hạng đại học dùng. Không có tạp chí nào của VN được đưa vào ISI. Có lẽ theo cách hỏi của ông, ISI không đủ khả năng đánh giá tạp chí của Việt Nam?

    Ông BS tự hào rằng bài viết của ông là “hàn lâm”. Nhưng dựa vào cơ sở thực tế trên tôi vừa trình bày, tôi đồng ý với bà TS rằng bài viết của ông BS chẳng mang tính học thuật và hai chữ “hàn lâm” còn quá xa để ông BS có thể với tay tới. Tôi cũng nói thêm rằng Bản tin của bà TS có quá nhiều hạt sạn.

    Onlooker

    https://giaosudom.wordpress.com/2010/09/07/trường/comment-page-1/#comment-1064

  2. chim_nhon said

    Onlooker đã nói
    Tháng Chín 16, 2010 lúc 10:57 sáng
    “JIPV có bình luận gì về the so-called “hồi cứu, tiền cứu” của ông chưa”?

    Tôi nghĩ ông BS phàn nàn chuyện tôi bình luận về hồi cứu và tiền cứu, nên tôi muốn có vài lời bàn thêm để mua vui. Xin nhắc lại ông BS dịch chữ retrospective là “hồi cứu” và prospective là “tiền cứu”.

    Trước hết là background câu chuyện để các bạn nắm vấn đề. Tôi tỏ vẻ ngạc nhiên khi ông giảng dạy sinh viên của bà TS về hồi cứu và tiền cứu. Tôi viết:

    “Tôi ngạc nhiên khi thấy ông BS giảng dạy khái niệm retrospective và prospective cho nghiên cứu sinh giáo dục của bà TS. Theo tôi hiểu khái niệm retrospective và prospective là của bên y khoa chứ không phải bên khoa học giáo dục. Có thể bên giáo dục cũng có những nghiên cứu retrospective, nhưng rất hiếm. Trong khoa học giáo dục, người ta quan tâm đến phương pháp phân tích dữ liệu nhiều hơn là thiết kế nghiên cứu. Chỉ cần nhìn qua vài tạp chí như Journal of Educational Measurement, American Educational Research Journal, International Journal of Educational Research … sẽ thấy điều đó. Vì thế, việc bà TS không hiểu khái niệm retrospective và prospective cũng không có gì đáng ngạc nhiên. Điều đó không phản ảnh trình độ chuyên môn của bà”.

    Trả lời bình luận trên, ông BS phê tôi như sau: “Bây giờ mới rảnh và đọc kỹ bàn luận của bạn Onlooker thì ra mới hiểu bạn Onlooker hiểu tiền cứu và hồi cứu đơn giản thế à? Thế thì hỏng rồi”. Tôi tạm thời chấp nhận kiến thức của mình “hỏng”. Tôi chờ ông giải thích nên có viết “Vậy thì tôi phải chờ bác giải thích về tiền cứu với hồi cứu thôi. Nếu bác cho reference thì càng tốt để tôi còn học hỏi. Xin cám ơn bác trước nhé”.

    Nhưng thay vì giải thích thì ông viết một cách … vu khống như sau: “Khi bàn NCKH tớ nói về tiền cứu và hồi cứu thì có bạn lại bảo không cần trong khoa học xã hội thì tớ hiểu các bạn như thế nào về khả năng hiểu biết về NCKH”. Các bạn thử đọc lại trong đoạn trên tôi nhấn mạnh rằng “Có thể bên giáo dục cũng có những nghiên cứu retrospective, nhưng rất hiếm”, chứ tôi đâu có nói là trong khoa học xã hội “không cần” như ông gán ghép cho tôi. Thế này là ông BS gấp lửa bỏ vào miệng người nhé! Đó là thái độ không thể chấp nhận được của một người có học.

    Bây giờ tôi bàn về hai chữ mà ông BS đã giải thích. Tôi sẽ trích dẫn và bình luận để các bạn dễ theo dõi nhé.

    Ông BS hiểu như thế nào về hồi cứu và tiền cứu? Đây là giải thích của ông: “Nghiên cứu hồi cứu là nghiên cứu để định hướng 1 hay nhiều vấn đề. Nghiên cứu tiền cứu là để tìm ra và khẳng định hay lọai bỏ một giả thuyết được đặt ra”. Tôi không hiểu “nghiên cứu để định hướng một hay nhiều vấn đề” có nghĩa gì cả. Định hướng vấn đề? Có nghĩa là gì? Có lẽ ông BS có vấn đề trong việc diễn giải ý tưởng bằng tiếng Việt chăng? Còn chữ “khẳng định hay loại bỏ một giả thuyết” thì tôi nghĩ ông dịch từ tiếng Anh “accept a hypothesis” và “reject a hypothesis”, nhưng ông dịch không đúng. Accept là chấp nhận; còn reject là “bác bỏ”, chứ không phải loại bỏ (exclude). Nhưng có vấn đề trong cách hiểu này mà tôi sẽ nói dưới đây.

    Tôi cũng e rằng ông hiều sai về retrospective và prospective research. Nghiên cứu hồi cứu hay tiền cứu đều nhằm kiểm định một giả thuyết. Xin nhấn mạnh là “kiểm định” (test) nhé, chứ không phải “khẳng định” (determination). Hai khái niệm này khác nhau lớn trong khoa học luận. Từ giả thuyết tôi mới phát biểu được mục đích. Nếu giả thuyết của tôi là thu nhập gia đình thấp dẫn đến học sinh bỏ học, thì mục đích của tôi sẽ là tìm hiểu mối tương quan giữa thu nhập gia đình và tỷ lệ bỏ học. Tôi không thể khẳng định giả thuyết của tôi, nhưng tôi có thể kiểm định giả thuyết đó bằng dữ liệu nghiên cứu.

    Bây giờ tôi sẽ giải thích tại sao ông hiểu sai. Cái sai lầm của ông BS là ông nhầm lẫn giữa mục đích nghiên cứu và thiết kế nghiên cứu. Thiết kế nghiên cứu (experimental design) là phương pháp. Tôi có thể dùng phương pháp A hay phương pháp B hay cả hai để đáp ứng một mục đích. Ví dụ, nếu tôi muốn nghiên cứu về ảnh hưởng của thu nhập gia đình đến việc bỏ học, tôi có thể thiết kế theo hai hướng như sau.

    Hướng thứ nhất, tôi sẽ chọn một nhóm học sinh lớp 1, tôi thu thập thông tin về thu nhập của gia đình các em, sau đó tôi theo dõi đến năm lớp 12 để xem có bao nhiêu em còn theo học và bao nhiêu em bỏ học. Tôi có thể phân tích mối tương quan giữa thu nhập gia đình và xác suất các em bỏ học. Ở đây, cái yếu tố tôi quan tâm là thu nhập gia đình (exposure) và cái chỉ tiêu tôi quan tâm là hiện tượng bỏ học, còn gọi là “endpoint”. Endpoint này được ghi nhận SAU KHI tôi thu thập dữ liệu về exposure. Đó là cách thiết kế mà người ta từng gọi là prospective. Gọi là prospective bởi vì tiếp vĩ ngữ pro có nghĩa là tương lai. Trong y khoa RCT là một nghiên cứu prospective. Một cách hình tượng, “nghiên cứu tiền cứu” là:

    Exposure —-> Endpoint

    Hướng thư hai, tôi sẽ chọn một nhóm học sinh lớp 12, tôi ghi nhận bao nhiêu em còn theo học và bao nhiêu em bỏ học. Sau đó tôi hỏi về thu nhập gia đình của các em lúc năm lớp 1. Ở đây, cái exposure được thu thập SAU KHI tôi có endpoint. Tôi đi ngược về quá khứ. Bởi thế người ta gọi là retrospective, tức đi ngược thời gian để hỏi về exposure. Tôi vẫn có thể phân tích mối tương quan giữa endpoint và exposure, nhưng phương pháp sẽ khác một chút so với thiết kế prospective. Theo tôi biết, bên y khoa người ta gọi nghiên cứu bệnh chứng (case control study) là một dạng của retrospective đấy. Một cách hình tượng, “nghiên cứu hồi cứu” là:

    Exposure <—- Endpoint

    Cả 2 cách thiết kế hay phương pháp đều hợp lý. Nhưng mỗi phương pháp có cái hay và cái dở của nó. Mỗi phương pháp có tốn kém riêng. Nếu chọn prospective design tôi phải tốn công theo dõi học sinh qua nhiều năm, rất đắt tiền. Nếu chọn retrospective design tôi có thể làm ngay bây giờ, tốn ít tiền hơn. Tuy nhiên, giá trị khoa học của 2 thiết kế này không tương đương nhau nhưng tôi không muốn bàn ở đây. Tôi chỉ muốn qua ví dụ trên để chứng minh rằng có thể dùng 2 hoặc nhiều phương pháp để đạt được một mục đích.

    Các bạn có thể xem qua trang http://en.wikipedia.org/wiki/Retrospective_cohort_study và trang http://en.wikipedia.org/wiki/Prospective_cohort_study để có thêm thông tin và để kiểm tra những bình luận trên của tôi. Hay có thể đến đây http://www.vetmed.wsu.edu/courses-jmgay/glossclinstudy.htm để biết thêm:

    Retrospective Study (Data): All events of interest have already occurred and data are generated from historical records (secondary data) and from recall (which may result in the presence of significant recall bias). Retrospective data is relatively inexpensive compared to prospective studies because of the use of available information and is typically used in case-control studies. Retrospective studies of rare conditions are much more efficient than prospective studies because individuals experiencing the rare outcome can be found in patient records rather than following a large number of individuals to find a few cases.

    Prospective Study (Data): Data collection and the events of interest occur after individuals are enrolled (e.g. clinical trials and cohort studies). This prospective collection enables the use of more solid, consistent criteria and avoids the potential biases of retrospective recall. Prospective studies are limited to those conditions that occur relatively frequently and to studies with relatively short follow-up periods so that sufficient numbers of eligible individuals can be enrolled and followed within a reasonable period.

    Sau cùng, tôi có thể nói thẳng luôn là ông BS chưa am hiểu về dịch tễ học. Nếu am hiểu biết về phương pháp dịch tễ học thì chắc ông chẳng nói đến chuyện này. Ngày nay, bất cứ ai cập nhật hóa dịch tễ học, thì chuyện phân biệt retrospective study với prospective là không cần thiết! Nếu ông muốn biết tại sao thì hãy tìm đọc bài bình luận của giáo sư Alvan Feinstein sẽ biết ngay. Nếu tìm không được bài của ông giáo sư thì cũng có thể tìm trong Medline vài bài trên BMJ để đọc qua cho biết thêm.

    Vậy mà ông phê bình bà TS rằng “Là tiến sĩ mà không biết tiền cứu (prospactive study) và hồi cứu (retrospective study) thì có phải là tiến sĩ không”! Bỏ qua việc đánh vần tiếng Anh sai, qua trình bày trên, tôi tự hỏi không biết ông BS có tư cách khoa học để đặt câu hỏi đó cho bà TS? Đến bây giờ thì các bạn có thể đánh giá câu nói của ông BS “Khi bàn NCKH tớ nói về tiền cứu và hồi cứu thì có bạn lại bảo không cần trong khoa học xã hội thì tớ hiểu các bạn như thế nào về khả năng hiểu biết về NCKH, nên tớ không tham gia bàn luận nữa” thấy hài hước như thế nào! Có lẽ JIPV nên kính cẩn trao trả câu này cho ông BS kính mến.

    Onlooker

    https://giaosudom.wordpress.com/2010/09/07/tr%c6%b0%e1%bb%9dng/comment-page-1/#comment-1094

  3. chim_nhon said

    onlooker đã nói
    Tháng Chín 17, 2010 lúc 2:02 sáng
    Về chuyện ”sản phẩm khoa học” thì tôi không có gì để thêm bác ơi. Tôi chỉ là người đứng ngoài nhìn vào cuộc chơi của các bác. Tôi cũng chỉ học lỏm từ các GS Tuấn, GS Chính, GS Hiển, GS Tụy … Những người này, nhất là GS Tuấn và GS Chính, đã kêu gọi công bố ISI từ hơn chục năm qua và họ đã hứng chịu rất nhiều chỉ trích. Các bác phải dự các cuộc họp nội bộ trong đại học mới thấy người ta chỉ trích hai bác GS này như thế nào. Đủ thứ mũ nón được tung ra. Nhưng trong số đó vẫn có những người tốt và cấp tiến. Việc bà TS ”tố” GS Tuấn ”áp đặt” còn hơi muộn đó! Và có phần mâu thuẫn nữa. Trong Bản tin 1/2010, bà viết rằng ”Đã ra ’sân chơi’ cùng với người thì phải chơi chung ’luật chơi’”, nhưng hình như lời nói không đi đôi với việc làm.

    Tôi đã chỉ ra rằng trong môi trường đại học (không nói đến doanh nghiệp), dù làm trong lĩnh vực khoa học xã hội & nhân văn hay khoa học tự nhiên thì việc nghiên cứu khoa học là chuyện đương nhiên. Khoa học xã hội & nhân văn tôi nói ở đây bao gồm kinh tế học, xã hội học, giáo dục, tâm lý học. Nghiên cứu giáo dục cũng có liên quan đến tâm lý học và sử dụng nhiều phương pháp của tâm lý học. Chẳng nói đâu xa, ngay trong trang nhà trung tâm của bà TS vẫn có mục ”nghiên cứu” cơ mà!

    Nghiên cứu khoa học không hẳn là một cái nghề. Người bác sĩ lâm sàng điều trị bệnh nhân vẫn làm nghiên cứu. Tương tự, người làm về kiểm định chất lượng giáo dục hay khảo thí vẫn cần nghiên cứu. Tại sao? Tại vì làm nghiên cứu khoa học là một cơ hội để giải thích cái mình quan sát. Gặp một ca bệnh đặc biệt là cả một cơ hội vàng để nghiên cứu thêm, để tìm hiểu thêm. Tại sao học sinh có điểm cao thích vào các ngành thương mại và y khoa? Giải thích được những câu hỏi như thế là một đóng góp tri thức cho xã hội.
    Tôi nghĩ nghiên cứu cũng là một cơ hội học hỏi người khác, để cập nhật hóa kiến thức, để tiếp cận với thực tế, và để tự nâng cao tay nghề của chính mình. Thử tượng tượng một người đứng lớp giảng dạy mà không làm nghiên cứu thì anh ta chỉ là ”thợ giảng”. Bởi thế, nghiên cứu không nên hiểu như là một cái nghề, mà có thể hiểu như là một phương tiện để trao dồi kiến thức và tự khẳng định mình trong chuyên ngành.

    Kiểm định chất lượng giáo dục tôi xem là một bộ môn của khoa học xã hội. Kiểm định chất lượng giáo dục là vấn đề bức thiết ở nước ta hiện nay. Kiểm định chất lượng đòi hỏi nghiên cứu định lượng và định tính. Đòi hỏi rất nhiều. Rất nhiều câu hỏi trước mắt, ví dụ như ở VN dùng những chỉ tiêu nào để đánh giá chất lượng, những chỉ tiêu đó đo lường bằng phương pháp gì, độ chính xác ra sao, trọng số cho từng chỉ tiêu chí xác định như thế nào, cách xếp hạng của nước ngoài có hợp lý không, yếu tố nào dẫn đến học sinh thành công ở đại học, vân vân. Những câu hỏi cấp thiết này đòi hỏi nghiên cứu nghiêm túc. Kết quả nghiên cứu có thể dùng để cố vấn lãnh đạo và định hướng cho chuyên ngành.

    Đã nghiên cứu thì phải có sản phẩm. Sản phẩm có thể là bài báo khoa học có peer review, hay dưới một hình thức khác như bằng sáng chế, hay qua hình thức đào tạo. Trong trường hợp nghiên cứu giáo dục thì không có bằng sáng chế, nhưng vẫn phải có sản phẩm bài báo khoa học. Những bài báo trên báo chí đại chúng như Tuổi Trẻ, Thanh Niên, hay tạp chí như Tia Sáng, hay thậm chí tạp chí khoa học xã hội của VN không thể xem là bài báo khoa học được, vì những bài báo đó chưa qua peer review và những tạp chí đó không được đồng nghiệp quốc tế công nhận. Cần phải có công bố trên các tạp chí ISI hay SCI chuyên ngành.

    Tôi đã nói trên rằng công bố nghiên cứu trên tạp chí ISI cũng là một cách khẳng định tư cách khoa học của mình. Lấy gì để chứng minh bạn là chuyên gia? Lấy gì để đánh giá bạn có trình độ cao hơn đồng nghiệp? Dựa vào cái gì để phân biệt một tiến sĩ xoàng với một tiến sĩ đẳng cấp? Tại sao Ngô Bảo Châu chiếm giải Fields mà không là một tiến sĩ khác? Tại sao cũng ra trường cùng năm, nhưng tiến sĩ A trở thành giáo sư còn tiến sĩ B thì phó giáo sư trong cùng trường? Trả lời: công trình nghiên cứu khoa học chính là một thước đo khách quan, là cơ sở thực tế nhất, là tiêu chí phân biệt thấp cao. Dĩ nhiên, còn có thước đo khác nữa, nhưng trong học thuật thì bài báo khoa học là thước đo quan trọng nhất. Không thể biện minh cách khác được.

    Theo tôi thấy, vấn nạn học thuật ở nước ta bắt đầu từ những người đề ra qui chế học hàm giáo sư. Trong cái qui chế đó người ta đánh đồng một bài báo trên tạp chí ISI với bài báo trên tạp chí VN không có peer review. Theo qui chế đó, bạn công bố 1 bài báo trên Nature hay Science, bạn có 2 điểm, tương đương với điểm của một bài báo trên tạp chí y học của đại học y dược TPHCM! Nhưng ai cũng biết công trình trên Nature hay Science có giá trị gấp nhiều vạn lần công trình trên tạp chí y học TPHCM. Với cách tính điểm như thế, các ứng viên chức danh GS hay PGS không có động cơ để làm nghiên cứu có chất lượng, không cần nghĩ đến tạp chí ISI, thay vào đó họ đua nhau sống trong cái ao làng, đó là công bố trên tạp chí VN nơi mà bài của họ chắc chắn được chấp nhận. Với cách tính điểm đó, bà TS khả kính của chúng ta sẽ trở thành GS nay mai. Xin lỗi bà nếu tôi nói vậy không công bằng cho bà, nhưng xin hiểu cho đó chỉ là một ví dụ thôi.

    Tôi nghĩ thật là đáng tiếc khi bà TS hỏi nghiên cứu khoa học là gì hay “sản phẩm khoa học” là gì. Đáng lẽ bà phải hỏi ”sản phẩm của nghiên cứu khoa học là gì” mới hợp lý chứ! Nhưng tôi không thể nào thử tưởng tượng được một tiến sĩ thật mà hỏi câu đó! Có lẽ bà nên hỏi lại: học vị tiến sĩ là gì? Cái này thì GS Tuấn đã trả lời trên Vietnamnet. Lại xin lỗi giáo sư vì tôi lại ”lôi” tên ông ra đây!

    http://www.tuanvietnam.net/2010-07-06-tien-si-la-gi-va-khong-la-gi-

    Đẳng cấp của đại học tùy thuộc một phần vào nghiên cứu khoa học. Thước đo của nghiên cứu khoa học là bài báo khoa học trên tạp chí ISI hay SCI. Việt Nam chúng ta hay nói đến việc đại học VN lọt vào danh sách top 200 vào năm 2020. Nhưng ngay cả các chuyên gia kiểm định chất lượng giáo dục đại học chưa từng có kinh nghiệm công bố ISI, chưa am hiểu thế nào là bài báo khoa học thì chúng ta trông mong gì.

    Nói đến nghiên cứu là phải đề cập đến tạp chí khoa học. Tôi mới đọc thấy ông BS bình luận về tạp chí khoa học như thế này: “Vì bên y khoa của tớ khi đã trở thành specialist rồi thì mấy cái tạp chí như Lancet hay New England Journal of Medicine,… không còn là sự quan tâm nữa, mà chỉ quan tâm khi kiểm định lại các luận án, bài báo mà thôi. Ở mỗi mức hiểu biết khác nhau người ta chọn 1 tạp chí đễ quan tâm.” Tôi thật sự thấy lấn cấn trong câu này …

    Một lần nữa, ông BS cố tình đánh tráo chủ đề và nhập nhằng. Cái việc trở thành specialist (BS chuyên khoa) và tạp chí y khoa có liên quan gì với nhau? Trong y khoa, theo tôi biết từ chị sinh viên trường y đến BS chuyên khoa đến giáo sư khoa trưởng đều phải cập nhật hóa thông tin và kiến thức. Những tạp chí y khoa như NEJM và Lancet là phương tiện chuyển tải thông tin. Do đó, bất cứ ai làm trong ngành y không phân biệt đẳng cấp đều phải đọc các tạp chí đó.

    “BS chuyên khoa quan tâm đến kiểm định lại các luận án, bài báo”? Để làm gì? Luận án của ai? Bài báo nào? Câu này thật ra chẳng có ý nghĩa gì cả. Bài báo nào mà không cần kiểm định? Một phát hiện được công bố hôm nay sẽ là đề tài nghiên cứu và kiểm định của nhiều thế hệ kế tiếp. Chẳng cần phải BS chuyên khoa mới kiểm định, sinh viên y khoa đã học kiểm định từ những năm ngồi ghế đại học.

    “Ở mỗi mức hiểu biết khác nhau người ta chọn 1 tạp chí đễ quan tâm”. Làm BS chuyên khoa mà chỉ chọn 1 tạp chí thôi sao? Chẳng lẽ làm giải phẫu lồng ngực chỉ quan tâm đến Annals of Thoracic and Cardiovascular Surgery? Không quan tâm đến Annals of Surgery sao? Không cần đọc JAMA à? Thật ngạc nhiên! Câu này cũng nói lên một phần trình độ và khả năng của ông BS!

    Các bác JIPV vinh danh ông BS chống dỏm, khôi phục đạo đức học thuật. Nhưng tôi ngạc nhiên khi thấy ông tuyên bố rằng “Thời kỳ tôi làm việc ở nhà nước, tôi chỉ biết “cầm cu chó đái” nên tôi không thể đăng ISI. Hầu hết các công trình của tôi nghiên cứu rồi báo cáo trong nước là tôi tặng cho ai đó lấy thạc sĩ, CKII, phó GS, và TS khi họ cần”. Nếu thật, đây là một vi phạm đạo đức của người làm khoa học. Người nào dùng kết quả của ông BS không xứng đáng được chức GS hay TS. Trong y khoa, hiện tượng này gọi là “tác giả ma” hay ghost author. Các bác có thể google để biết hiện tượng ghost authorship ra sao. Ông là tác giả ma của những luận văn và công trình nghiên cứu. Hiện tượng tác giả ma thể hiện một vi phạm đạo đức khoa học.

    Do vậy, tôi thấy bác TomTom có một bình luận rất thích hợp: “Bác đã tỏ ra nhiệt tình chống vấn nạn bằng cấp dỏm qua rất rất nhiều bài. Trong khi đó cũng chính bác thông đồng với những người thân, người bạn của bác sử dụng kiến thức vay mượn (trường hợp này là của bác) để “lấy thạc sĩ, CKII, phó GS, và TS khi họ cần”. Hành động này là Plagiarism bác ạ; và bác chống dỏm ở đâu khi bác tiếp tay cho những người nghiên cứu giả mạo ăn cắp công trình nghiên cứu của người khác làm của mình nhằm tiến thân và đạt được những bằng cấp “dỏm””.

    Comment của TomTom cực kỳ quan trọng và có ý nghĩa, nhưng chẳng ai quan tâm! Cái comment đó vạch trần cái “đạo đức giả” của ông BS. Một mặt ông hô hào chống dỏm, chống đạo đức giả, nhưng ông lại chính là người dự phần làm nên cái dỏm. Thật là đáng tiếc.

    Nhưng ở đây cũng có thể có 2 trường hợp, hoặc là ông nói không thật, hoặc là ông nói thật. Nếu ông nói thật thì ông cũng vi phạm đạo đức y nghiệp, đạo đức khoa học. Nếu ông nói không thật và chỉ có ý khoa trương thì tôi không có gì bàn thêm. Chẳng có công bố ISI thì ai mà kiểm chứng được những gì ông nói?!

    Tôi chỉ là người qua đường thấy chuyện vui nên bàn vài ba câu, chứ không có hàn lâm gì cả. Tôi cũng như phần đông các bác ở đây, xuất hiện với cái nick ảo. Ảo khác với thật, dù trong thực tế ở mức độ nào đó, ảo cũng là thật. Bởi thế, tôi nghĩ chúng ta phải cẩn thận với nói với người thật việc thật như bà TS.

    Tôi e rằng bà TS lại có tư duy hơn thua. Không! Tôi không tìm cách hơn thua ai cả. Tôi chỉ giải thích những gì tôi biết, cũng giống như bà đã nhã nhặn giải thích những việc bà làm. Tôi không chấp nhận rằng những nhận xét về retrospective và prospective của tôi là bằng chứng tôi hơn bà về cái gì đó. Ngàn lần không. Thế giới này có nhiều cái chúng ta học lẫn nhau, kể cả học những người không có học vấn cao. Xin nhắc lại rằng không có chuyện hơn thua ở đây.

    Thôi, tôi đã dừng lại ở đây khá lâu, đã làm mất thì giờ của các bác và gây xáo trộn chút đỉnh.

    Onlooker

    https://giaosudom.wordpress.com/2010/09/07/tr%c6%b0%e1%bb%9dng/comment-page-1/#comment-1125

  4. chim_nhon said

    CucDat đã nói
    Tháng Chín 17, 2010 lúc 2:35 chiều
    Dear JIPV,

    Các bác dùng chuẩn ISI làm nền để phân loại cũng là 1 cách “dùng được”. Tuy vậy, chính ISI cũng gặp phải trở ngại lớn bởi:

    (1) Văn hóa trích dẫn phụ thuộc rất nhiều vào lĩnh vực chuyên môn hẹp, văn hóa địa phương( người Nga thường không thích trích dẫn nhiều);

    (2) Tiêu chí của tạp chí. Chẳng hạn, các tạp chí chỉ đăng các bài ngắn 5-10 trang thường có IF khá cao (bài ra nhanh, nội dung dễ đọc, kết quả dễ tiếp cận và sử dụng, người đọc được nhiều, trích dẫn cũng có thể nhiều…)

    Nếu dùng chuẩn ISI để phong các danh hiệu GS, PGS DỞM, KÉM, RẤT KÉM v.v. tôi e rằng hơi “góc cạnh” và dễ phát sinh các hiệu ứng về ngôn từ, nhất là đối với những người không làm nghiên cứu.

    Giả định cực đoan, 1 PGS có 1 bài ISI, được phong PGS rất kém. Ông ấy mang danh hiệu JIPV tặng cho đến khi nhắm mất xuôi tay. Rồi mươi năm sau khi ông ấy mất, cái định lý ông ấy tìm ra mới được nhắc đến, được gắn tên ông ta, được đưa vào các sách kinh điển của chuyên ngành ông ta đeo đuổi khi sống. JIPV sẽ nghĩ gì? đính chính, sửa chữa chăng? có kịp không? Các bạn chắc sẽ thấy có lỗi, đau lòng, trước người đã mất.

    Xuất phát từ giả định trên, tôi xin góp ý cách gọi các chức danh của JIPV nên chỉ đơn giản như sau:

    HỌC HÀM+SỐ BÀI ISI

    và một số thông tin cốt yếu khác

    Ví dụ: Tên/Sinh năm nào/ chuyên nghành/học vị gì, năm nào/Học hàm gì, năm nào/số bài ISI, bài ISI gần đây nhất năm nào(để biết họ gác kiếm từ bao giờ-thông tin này rất quan trọng).

    Sau đó ỊPV có thể xếp thành danh sách phân loại. Chẳng hạn: danh sách GS 0 ISI, GS 1-3 ISI, GS >10 ISI, GS đã gác kiếm >10 năm, v.v.

    Cũng có thể tượng trưng mỗi bài ISI là 1 ngôi sao * và chúng ta có thể gọi ai đó là ông GS 5 sao hay chưa có sao cũng thấy vui vẻ.

    Cũng vậy, để biết ông GS nào đó thế nào, JIPV sẽ tư vấn ” à, ông này là GS 5 sao, còn muốn biết sâu hơn nữa mời bạn vào net đọc kỹ xem: ông ấy làm được gì, họ bình kết quả ông ấy thế nào, họ trích dẫn ông ấy bao nhiêu…”

    Theo cách này chúng ta sẽ có các danh sách “lạnh lùng như ISI” và tránh được tất cả các phát sinh khác không cần thiết, dễ gây hiểu lầm.

    Cục Đất có đôi lời vậy thôi. Chuc IJPV khỏe.

    Trả lời

    chim_nhon đã nói
    Tháng Chín 17, 2010 lúc 5:26 chiều
    Xin trân trọng cảm ơn bác đã góp ý cho JIPV. Góp ý của bác liên quan đến phong dỏm, yếu, kém, như vậy comment này nên ở “Phòng Thảo Luận Khoa Học” mới phải.

    Giả định của bác về một ông PGS có 01 bài ISI, sau đó không có thêm bài nào cho đến khi mất, rồi cái định lý của ông được công nhận gắn tên ông tôi thấy nó kỳ kỳ thế nào ấy, tức nhiên chuyện gì cũng có thể xảy ra, vì:
    – Nếu ông ấy có 1 bài, sau định lý đấy được công nhận thì chắc là phải tạp chí TOP rồi. Chúng tôi không phong dỏm, yếu, kém cho bất kỳ GS/PGS nào có bài đăng ở tạp chí TOP10. Bác phát hiện ra ai bị phong oan thì báo cho chúng tôi biết nhé.
    – Nếu ông ấy có định lý đã đăng báo, phong PGS. Như vậy ông ấy chừng 40-50 tuổi. Từ lúc đó đến khi ông ấy mất mà không có bài nào, nếu là nghiên cứu nghiêm tục là một điều rất lạ, trừ khi đột tử thì chịu rồi.
    Bình luận vui với bác thế thôi, vì đã là giả định thì mọi thứ đều có thể. Nhưng xác suất bác nêu, đối với nghiên cứu nghiêm túc là hiếm.

    Ngoài ra, bác yêu cầu lập danh sách phân loại yêu cầu các thông tin cá nhân như: Sinh năm nào, năm nào/Học hàm gì, vv… là quá khó đối với chúng tôi. Bác có biết khi chúng tôi xét dỏm, một loạt các vị dỏm đã đóng trang Web cá nhân, xoá ảnh, vv… không? Chúng tôi thực chất đang “ăn cơm nhà (nước ta/tây), vác tù và hàng tổng” nên yêu cầu như thế quả thực quá sức của chúng tôi đó. Chúng tôi còn phải làm nghiên cứu nữa chứ.

    Ngoài ra, cân nhắc đến GS/PGS đã gác kiếm chúng tôi cũng có cân nhắc để chiếu cố khi vinh danh cũng như phong dỏm. Cả trích dẫn cũng vậy.

    Đây là ý kiến cá nhân của tôi. Có thể nay mai, vấn đề bác nêu sẽ được Editorial board thảo luận thêm.

    Cảm ơn bác và chúc bác một cuối tuần vui vẻ!

    Trả lời

    CucDat đã nói
    Tháng Chín 18, 2010 lúc 3:14 sáng
    Cục Đất lăn vào nhầm ruộng, Chim_non xá lỗi nhé. Tiện thì ta trao đổi tiếp ở đây.

    1) Giả định tôi đưa ra là một ngoại lệ. Ở Việt mình, đã là ngoại lệ thì rất rất hiếm. Tuy vậy, chưa chắc kết quả ISI duy nhất của ông GS đó được đăng ở TOP đâu. Chuyện này liên quan đến chữ “chuyên nghiệp”, cái mà các bác nghiên cứu nhà mình ngày nay phải có gắng nhiều, có các thế hệ trước thì thật khó nói. Chư tính đến ảnh hưởng của cách ứng sử “nước nhớn, nước bé”. Kết cục trong giả định, chắc các bạn, cũng như tôi, đều cảm thấy ĐAU LÒNG.

    Một giả định cực đoan khác. Một ông GS/PGS có vài chục bài ISI. Theo phong trào ISI, trong vài ba năm gần đây có ông ấy ra tới 10-15 ISI. Ghê không, giỏi không? N/c khoa học mà cứ như là MÁY CÁI thì mọi người có nên theo không ? Nếu tôi định làm nghiên cứu sinh thì chắc tôi sẽ không chọn ông ấy (Sáng tạo K/H có phần giống như sáng tạo Nghệ thuật).

    Vậy, tôi nghĩ, “LẠNH LÙNG NHƯ ISI” có thể là một tiêu chí hợp lý cho JIPV.

    HỌC HÀM+HỌC VỊ+số ISI+số TOP

    Phong Dởm cũng vậy, Vinh danh cũng vậy. Các thông tin phụ như [Sinh năm nào/ chuyên nghành/học vị gì, năm nào/Học hàm gì, năm nào] bác nào giới thiệu thì có trách nhiệm đưa vào. JIPV check [ISI/TOP/bài cuối] rồi đưa vào các list tương ứng, bỏ các tính từ KÉM, DỞM, …, và thay vào đó là thông số ISI/TOP/lastdate. Bạn đọc còm hay recom thế nào là việc của bạn đọc. Nếu còm nào “quá đà” JIPV cảnh cáo và không post nữa. Như thế khéo lại hay, vừa lạnh lùng, vừa khách quan như Thomson Reuters, mà cũng không kém phần lịch thiệp vui vẻ.

    “LẠNH LÙNG NHƯ ISI” có thể giúp tránh được hiện tượng lạm dụng JIPV theo màu sắc cá nhân của bất cứ AI.

    2) Về tham số “gác kiếm”. Một GS/PGS chưa đến tuổi về hưu k/h, có bài cuối cùng đăng ở tạp chí tầm quốc tế cách đây 8-10 năm, ông này nên gọi là “đương GS/PGS” hay là “cựu GS/PGS” ? (Andrey Wile không ra bài trong 3-4 năm đã chút nữa thì mất job) Các sv có nên ngưỡng mộ ông ta, theo ông ta làm NCS không? Các vị này thường hay chiếm high position, tên tuổi cũng cồm cộm, thích sống trong hào quang của quá khứ và có vẻ ngoài đủ hấp dẫn để các bạn trẻ thần tượng “nhầm”!

    Cục Đất trao đổi vài điều thế thôi. Chào Chim_non.

    Trả lời

    chim_nhon đã nói
    Tháng Chín 18, 2010 lúc 5:48 sáng
    Không sao bác ạ. Thời gian này Viện Vinh Danh của tôi cũng ít việc, bác vào chơi cũng vui cửa vui nhà.

    Theo tiêu chí bác nói: HỌC HÀM+HỌC VỊ+số ISI+số TOP, JIPV đã và đang làm với Viện Vinh Danh rồi. Còn xét dỏm cũng theo, nhưng dĩ nhiên đã bị phong dỏm thì không có TOP, còn số ISI thì khiêm tốn hoặc 0 hoặc 1-2 bài, nói chung là chưa đạt yêu cầu tối thiểu để thành một GS/PGS trung bình.

    Tiêu chí [ISI/TOP/bài cuối] có lẽ phù hợp với vinh danh hơn là xét dỏm. Tiêu chí này để tránh vinh danh nhầm. Còn nếu xét dỏm dùng tiêu chí này thì e rằng không có tác dụng cảnh tỉnh xã hội. Nếu liệt kê như thế thì nhẹ nhàng quá. Việc một ông GS/PGS không có ISI, đã được góp ý nhẹ nhàng qua những phát biêu trên báo chí hoặc hội nghị của các bác dấn thân như: PGS Phạm Đức Chính, GS. Hoàng Tụy, vv… nhưng kết quả hơn 10 năm nói “sa sả” cũng không thay đổi nhiều nhận thức của giới “sư sãi” trong nước. JIPV sử dụng những tính từ RẤT DỎM, DỞM, KÉM, YẾU, vv … là một liệu pháp sốc, hy vọng góp phần thay đổi tình hình.

    Việc sử dụng chỉ số gác kiếm thỉnh thoảng tôi cũng dùng để không chấp nhận những bác đã bỏ nghiên cứu chục năm nay rồi. Tôi rất hiểu việc con người ta càng lớn tuổi, sức ỳ càng lớn, mức độ nhiệt tình cũng giảm đi, nên cũng không trông mong nhiều các bác lớn tuổi có thể sắn tay vào làm thực nghiệm, lấy số liệu, vv… như một anh NCS. Nhưng, các bác lớn tuổi vẫn có thể có báo là main author bằng cách hướng dẫn NCS và cấp dưới hoàn thiện ý tưởng, tháo gỡ khó khăn, vv… Khi đó, bác GS/PGS đó sẽ là corresponding author, và tức nhiên vẫn được tính main author.

    Vấn đề bây giờ là ở cấp quản lý khoa học của các trường, các viện nghiên cứu làm sao hàng tuần, hàng tháng qua các faculty meeting gây sức ép, kết hợp với khen thưởng hợp lý để các bác GS/PSG phải vận động, phải làm việc, phải “đẻ” ISI đều đặn.

    Trả lời

    giaosudom4 đã nói
    Tháng Chín 18, 2010 lúc 6:18 sáng
    Thưa bác cục đất, cái phương pháp nêu thông tin kiểu “lạnh lùng như ISI” mà bác đề xuất có khác gì với chính trang thông tin ISI không bác? Nếu không khác thì JIPV sinh ra đời để làm gì? Có tác dụng gì nữa?
    Còn giả định của bác về trường hợp có 1 bài rồi vài chục năm sau tung hê ông có 1 bài ấy, đưa vào sách giáo khoa gì gì thì bác có thể nêu trường hợp ví dụ một số người nào như vậy tồn tại trên đời không? Hay là bác dựng lên một người rơm rồi bác đấm vào đấy?
    Đa số các bác PGS/GS nhà ta xem cái danh đó như là một phần thưởng, một bổng lộc hơn là trách nhiệm, nghĩa vụ. Ừ thì các bác ấy xem là bổng lộc, phần thưởng đi cũng được. Nhưng phải xứng đáng với nó, không xứng đáng với nó thì có khác gì “lừa đảo” đâu bác?
    Việc một người có mười mấy bài trong vòng một vài năm cũng chẳng có gì nghi ngờ cả bác à. Người ta không nhất thiết phải viết từ đầu đến cuối mà người ta thường đứng trong một group cũng được mà. Ông giáo của tôi một năm có khoảng mười mấy bài. Vậy sao nhiều thế? Vì ổng có một group mạnh có nhiều PhDs, PhD candidates, Master Students …

    Theo tôi biết trong ngành y có nhiều phương pháp điều trị cũng gây những rủi ro thương tật, chết người nhưng người ta vẫn sử dụng phương pháp ấy vì phương pháp ấy cứu nhiều người hơn là giết người. Trong khi mà không có một phương pháp tốt hơn thì những liệu pháp sốc như vậy là cần thiết. Không thể vì những phản ứng phụ nhỏ đó mà phủ nhận cái tốt, cái ưu điểm của phương pháp ấy.

    Trả lời

    CucDat đã nói
    Tháng Chín 18, 2010 lúc 9:47 sáng
    To Chim_non và GSdom

    1-”Việc một người có mười mấy bài trong vòng một vài năm cũng chẳng có gì nghi ngờ cả bác à. Người ta không nhất thiết phải viết từ đầu đến cuối mà người ta thường đứng trong một group cũng được mà. Ông giáo của tôi một năm có khoảng mười mấy bài. Vậy sao nhiều thế? Vì ổng có một group mạnh có nhiều PhDs, PhD candidates, Master Students …”

    Có vài dạng GS/PGS có rất nhiều bài/năm. Làm leader of group như bạn nói, làm v/d dễ kiểu như mức của ph.D trung bình sòn sòn ra bài, làm CAI THẦU KH. Loại 2 thì cũng tặc lưỡi chấp nhận được, nhưng không bao giờ trở thành cái gót của NBC. Loại thứ 3 thì cả trời tây đất ta đều không ít. cái loại này hình như chưa ai đụng được vào họ. Họ có tiền (project), có quyền, đứng tên tất cả các sản phẩm, mà lại là main author, nhưng có khi họ lại không hiểu nổi 1 proof nào trong bài. Hãy CẢNH GIÁC với loại 3 này!

    2- Tớ hiểu các bạn dùng biện pháp SOCK chứ. Biện pháp này xem ra có hiệu qủ hiện tại chấp nhận được. Bà con ủng hộ nhiều. Nhưng đúng là SOCK, nên cung góc cạnh, đổ vỡ, gây tổn thương phát sinh. Và quan trọng hơn, rất dễ bị dùng theo màu sắc cá nhân. Ông bác sĩ ở xứ USA làm chết người, có khi bị treo mất bằng cả đời. Ở Việt mình có dễ dãi hơn. JIPV xác định trách nhiệm của mình ở mức nào trong các trường hợp cực đoan ?

    3- Thay vì dùng các kiểu YẾU, KÉM, DỞM,… hay là ta dùng hệ thông cấp bậc như kiểu nhà binh. Binh nhì= 0 ISI, binh nhất=1 ISI, Thượng sĩ = 4 ISI, rồi cao hơn là các cấp TÁ, TỨƠNG, SOÁI.

    Cũng có thể dùng ” MẦM NON”, “MẦM GIÀ”, “HẠT GIỐNG LÂU NĂM”, “ĐẠI THỤ”, “CỔ THỤ”, v.v.

    Cái ông GS có 3 ISI mà gọi là GS “HẠT GIỐNG LÂU NĂM” nghe cũng tếu tếu và cũng đủ để nhắc nhở cái vị đó.

    Kể cũng khó để xây dựng cách gọi sao cho VUI VẺ, LỊCH SỰ, KHÔNG GAI GÓC, mà vẫn bao hàm tác dụng cảnh báo, nhắc nhở … Nhưng các hàm YẾU, KÉM, DỞM … thì rất nên thay thế.

    Lạnh lùng như ISI + 1 chút hài hước tếu tếu là đủ đấy.

    Nice Weekend!

    Trả lời

    chim_nhon đã nói
    Tháng Chín 18, 2010 lúc 6:30 chiều
    Chào bác CucDat,

    1. Tôi không ủng hộ cho cai thầu khoa học, càng không ủng hộ cho loại 3 tức là không hiểu gì về khoa học nhưng vì có tiền, có project đứng tên mọi sản phẩm. Vì lẽ đó, 2 loại này không nên tồn tại trong khoa học nghiêm túc, và chúng ta cố gắng loại bỏ chúng nhé.

    2. Bác dùng từ “cực đoan” là không chuẩn rồi. Cực đoan như “cải cách ruộng đất”, hay “cách mạng văn hoá”, vv… tức là có oan, có sai. Nhưng ơn Trời, từ khi JIPV thành lập, chúng tôi không xét oan, sai cho ai cả.

    Tôi nhớ không nhầm có 2 trường hợp được xoá dỏm như PSG. NVN, Đại học BK TPHCM; và PSG. NAD Đại học TN. Cả 2 trường hợp này đều xoá dỏm nhờ nhờ vào nỗ lực bản thân 2 bác, vì mới có journal; vì thế, khi biết tin chúng tôi xoá dỏm ngay.

    Lưu ý với bác là chúng tôi chỉ xét dỏm vì không hoàn thành trách nhiệm nghiên cứu của một vị GS/PGS. Chúng tôi không xét vị đó dạy hay không, quan hệ bạn bè đồng nghiệp có chan hoà không, trả lời phỏng vấn hóm hỉnh, đáng yêu vv… Những cái đó ngoài khả năng, kiểm chứng của JIPV nên chúng tôi không xét.

    Và một điều nữa rất quan trọng đó là người VN dường như “thương người” quá. Một vị dỏm mà chỉ làm hời hợt, nhắc nhở qua loa, vv… để rồi nghiên cứu khoa học của VN bây giờ ra nông nỗi này. Đã là dỏm thì phải hoặc là loại bỏ, hoặc là bản thân các vị dỏm phải phấn đấu nghiên cứu nghiêm túc để xoá dỏm. Tôi thấy không còn cách nào cả nếu muốn vực dậy khoa học nước nhà.

    3. Bác khuyên chúng tôi đổi tên các vị dỏm theo lĩnh vưc: công an/quân đội bằng các danh như binh nhất, binh nhì, vv…; hoặc sinh vật như hạt, mầm, vv … Rồi nay mai mốt có bác ngành khác vào bảo đổi tên cho ngành bác ấy ví dụ như bác làm giao thông chẳng hạn: xe đạp, @, xe ba bánh, xe bốn bánh, … Như thế thì ngoài khả năng của chúng tôi rồi.

    Tại sao chúng ta không nói đúng bản chất của vị GS/PGS dỏm đó mà phải nói lái đi như thế? Chúng ta sợ hay ngại những tính từ mà bản thân nó nói đến thực chất của vấn đề? Đã dỏm là không thật, là giả, là không nghiêm túc; còn nghiêm túc là thật cần được công nhận.

    Ngoài ra, chúng tôi thành lập JIPV để làm nghiêm túc, chứ không phải cho vui, để giết thời gian vô bổ ở đây. Thế nên không thể đặt tên các vị dỏm theo kiểu hài hước, hóm hỉnh, rồi tất cả các dỏm cùng vui vẻ được. Chúng tôi hy vọng qua cách làm này cảnh tỉnh xã hội, báo động cho các vị dỏm có 2 con đường: hoặc là từ bỏ để nhường đường cho thế hệ trẻ, hoặc là quay về hoặc bắt đầu nghiên cứu nghiêm túc thôi. Có như thế khoa học của VN mới phát triển, và cũng là góp phần cho xã hội phát triển, văn minh hơn.

    Xin cảm ơn bác đã lắng nghe.

    Trả lời

    Tuan Ngoc@ đã nói
    Tháng Chín 18, 2010 lúc 6:59 chiều
    Mấy hôm này thấy bác Chim_nhon đối đáp hay quá. Đúng là Admin chọn người không lầm. Nhân tôi tôi xin phép bác cho tôi post bài của bác trong Phòng của tôi nhé.

    Làm “công tác tư tưởng” như tôi mà thấy hổ thẹn quá. Chưa viết được bài nào hay như bác, cũng nghiên cứu chút ít nhưng vừa rồi tôi bị lừa ê chề. Cũng cảm thấy xấu hỗ lắm lắm luôn. Mấy hôm nay k dám “nổ” như lúc trước

    Trả lời

    chim_nhon đã nói
    Tháng Chín 18, 2010 lúc 7:49 chiều
    Vâng, bác có thể post bài của tôi trong phòng của bác, nếu bác không chê. Thanks!

    Trả lời

    https://giaosudom.wordpress.com/vi%e1%bb%87n-vinh-danh-nha-khoa-h%e1%bb%8dc/comment-page-1/#comment-1162

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: