Tạp Chí GS Dỏm Việt Nam

Journal of Incompetent Professors in Vietnam – JIPV

(ứng viên) PGS rất dỏm và phản cảm Phạm Hồng Tung – ĐH QG Hà Nội – Đạo văn, NCKH dỏm = gián tiếp cướp tiền của dân

Posted by giaosudom trên Tháng Năm 30, 2011

Trường hợp có tiếng nên không cần theo Qui trình như thường lệ (JIPV có chính sách khuyến tài và bài dỏm nên bỏ qua những thủ tục hành chánh, dù rất cần thiết ….). Kính mời các bác tham gia public review ngay.

Tên: PHẠM HỒNG TUNG, http://ussh.vnu.edu.vn/ts-pham-hong-tung/405

Học vị: TS

Học hàm VN: PGS

Quy trình đánh giá dỏm: xem

  1. Bước 1: Xét 1.1, 1.2, 1.3:  ứng viên không đạt,  sang bước 2.
  2. Bước 2: Dùng ISI để đánh giá như đã nêu –  ISI = 0 (30.05.2011)

Trình độ NCKH: PGS rất dỏm

———————————————————————————————————————–

“Thành tích” NCKH của PHẠM HỒNG TUNG

TIN ĐẶC BIỆT: “TÀI NĂNG VÀ ĐẮC DỤNG” LÀ CUỐN SÁCH ĐẠO VĂN

 

Thưa chư vị,
Cuốn sách “Tài năng và đắc dụng” do GS.TSKH. Nguyễn Hoàng Lương và PGS.TS. Phạm Hồng Tung đồng chủ biên gây sốc cho dư luận suốt mấy tuần qua, tưởng chừng đã lắng xuống. Nay lại tiếp tục gây nên cuồng phong dư luận về nền khoa học và giới trí thức nước nhà.
Đây là công trình được gọi là công trình khoa học, vì nó là đề tài nhánh của một đề tài khoa học cấp Nhà nước do GS. TSKH Đào Trọng Thi chủ trì. Và đã được in ấn, phát hành tại Nhà xuất bản Chính trị quốc gia từ năm 2008.
Tin mới nhất mà chúng tôi nhận được, đồng thời với lời đề nghị tôi thẩm định, thì cuốn sách này đã ăn cắp từ 3 cuốn sách khác. Chúng tôi sẽ thông tin về vấn đề này vào lúc 10h sáng mai (31 tháng 5 năm 2011)

Nguyễn Xuân Diện – Blog kính báo!
========================================
“Tài năng và đắc dụng”: lượng và chất

Định không bàn luận gì về những lùm xùm chung quanh cuốn sách Tài năng và đắc dụng, nhưng đọc qua các ý kiến của các vị khoa bảng, tôi cũng đành phải nói vài ba câu cho gọi là “có đóng góp”.  Theo tôi, chuyện so sánh số trang sách để lượng giá tầm cỡ nhân vật là một cách tự nô lệ hóa vào lượng mà bỏ qua phần phẩm chất.

Có thể nói rằng cuốn sách Tài năng và đắc dụng do GS Nguyễn Hoàng Lương và PGS Phạm Hồng Tung làm chủ biên đã không mấy may mắn. Ngay sau khi cuốn sách ấn hành, hàng loạt bài báo chỉ trích khá gay gắt.  Dẫn đầu làn sóng chỉ trích và phê phán có lẽ là Sài Gòn Giải PhóngNgười lao động.  Những bài báo với những tựa đề không thân thiện chút nào, như Sách về nhân tàiChoáng!, Tài năng và đắc dụng: Cuốn sách phản cảm, Không phải công trình khoa học!, Sách ‘Tài năng và đắc dụng‘: Khập khiễng và tùy tiện, v.v.  Hai vị chủ biên chắc hoặc là cười mỉm (vì sẽ có dịp bán sách), hoặc là thiếu ngủ (vì dư luận báo chí chỉ trích).  Tôi thì nghĩ rằng nhiều phê phán và chỉ trích của các vị khoa bảng hoặc là không có cơ sở khoa học, hoặc là thiếu công bằng.  Thiếu công bằng đối với ông Đặng Lê Nguyên Vũ.  Trong bài này, tôi không bàn về nội dung cuốn sách (vì chưa đọc), mà chỉ bàn qua vài khía cạnh phương pháp học (methodology) và cách tiếp cận (approach). 

 

Nhưng trước khi trình bày ý kiến, tôi trích vài ý kiến của các vị khoa bảng như sau:

 

Tác giả Trần Hữu Tá: “Thật là kỳ cục, khi sự nghiệp mới ở chặng đầu của nhà doanh nghiệp trẻ này đã được kể lể tỉ mỉ (42 trang in), nhiều gấp ba lần Trần Quốc Tuấn, thậm chí gấp hơn bốn lần bài viết về nhà mưu lược thiên tài Nguyễn Trãi (10 trang) và dài gần gấp đôi danh nhân văn hóa nhân loại Hồ Chí Minh (25 trang).”  (Ăn nói làm sao bây giờ, Tuổi Trẻ, 15/5/2011)

Gs Đào Trọng Thi: “Tự thuật là một tư liệu quá thô, không có giá trị khoa học. Cũng như một mẫu thiết kế thôi, vải chỉ là một nguyên liệu, muốn may thành cái váy, cái áo thì phải có nhà thiết kế, phải có may đo […] Không những cuốn sách không có giá trị khoa học với đề tài của ĐH Quốc gia Hà Nội mà tôi còn có thể khẳng định nó không phải là một công trình khoa học.”

và:

Tôi cũng muốn nói thêm về nhân vật được lựa chọn. Việc anh Vũ tự thuật đã gây phản cảm với độc giả. Tự mình viết về mình như một nhân tài đặt cạnh những nhân vật quá nổi tiếng là một cách làm rất không nên.”  (Không phải công trình khoa học! Người lao động 13/5/2011)

TS Nguyễn Văn Vịnh, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế – Xã hội và Phát triển, nói việc lựa chọn doanh nhân Đặng Lê Nguyên Vũ thể hiện một thái độ hết sức hồ đồ và những người làm sách quá thiếu cảm quan khi chọn nhân vật. (Tài năng và đắc dụng: Cuốn sách phản cảm, Người lao động 12/5/2011)

Ts Chu Hảo: “Bản thân cái bài tự thuật của anh Đặng Lê Nguyên Vũ viết ở đó thì về nội dung cũng như hình thức thể hiện qua cái bài đó theo tôi nghĩ là bình thường có thể chấp nhận được. Cũng có thể nhiều người cho rằng anh ấy hơi lãng mạn và hơi khuếch trương những ý tưởng của mình nhưng tôi nghĩ rằng anh ấy có quyền làm như vậy. Anh ấy nhận thức vấn đề và phát biểu ý kiến riêng của mình. Anh ấy kể lại cuộc đời của anh ấy với tất cả những khó khăn … phấn đầu từ ban đầu theo tôi nghĩ là nhiều cái đáng trân trọng. Tuy nhiên cái bài đó mà xếp vào trong cuốn sách đó thì lại là việc khác.”

Thế nhưng bản thân của những người chủ biên làm cuốn sách đó đã có những nhận thức nếu mà chân thành thì cũng rất là thô thiển. Nếu là chân thành thì cũng không nghiêm túc.” (Sách “Tài năng và đắc dụng” bị phê bình, RFA 15/5/2011)

Tác giả Lê Văn Nghệ: Nếu là một con người bình thường, không hoang tưởng, không có triệu chứng về trí não, khi ai đó vì lẽ gì đó ca ngợi mình, xếp mình “ngồi” chung với các danh nhân thì vì sự tự trọng và liêm sỉ cũng nên biết cách thoái thác, rút lui. Nếu không, sự háo danh ở đây chỉ có thể gọi là “xú danh”. Có đúng vậy không? Chúng tôi xin dành câu trả lời cho ông Đặng Lê Nguyên Vũ.”  (Từ háo danh đến xú danh, Phụ Nữ 13/5/2011)

 

 

 

Nặng nề quá!

 

Những ý kiến trên đây có một mẫu số chung: không có bằng chứng.  Thật vậy, tất cả những ý kiến về so sánh số trang giấy cho đối tượng Đặng Lê Nguyên Vũ, Hồ Chí Minh, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, v.v. đều mang tính một chiều và mang màu sắc cảm tính. Chúng ta thử điểm qua những vấn đề nêu: về số trang sách và cách nghiên cứu.

 

Về số trang sách

 

Cuốn sách gồm có 3 phần và 14 nhân vật.  Phần I là những nhân tài trong lĩnh vực lãnh đạo, quản lý, bao gồm 5 nhân vật: Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, Đào Duy Từ, Hồ Chí Minh, và Chulalongkorn.  Phần II là những nhân tài trong lĩnh vực khoa học – công nghệ, và chủ biên chọn 4 người: Lê Quý Đôn, Trần Văn Giàu, Albert Einstein, và Thomas Edison.  Phần III nhân tài trong lĩnh vực kinh tế, kinh doanh, và chủ biên chọn ra 5 người tiêu biểu: Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Trường Tộ, Bạch Thái Bưởi, Đặng Lê Nguyên Vũ, và Bill Gates.

 

Để trả lời câu hỏi này chúng ta cần phải sách có bao nhiêu trang.  Theo một nguồn tin trên Tuổi Trẻ thì sách dày 328 trang, nhưng nếu trừ các trang bìa, mục lục, cảm tạ, tổng quan thì có lẽ sách có 300 trang dành cho nội dung chính.  Sách có 14 nhân vật. Và, theo giả định đặt ra ở trên, nếu không có bias, thì mỗi người có khoảng 21.4 trang.  Ông Đặng Lê Nguyên Vũ “chiếm” 42 trang, tức cao gấp 2 lần trung bình.  Với số liệu đó, chúng ta có thể dùng phương pháp thống kê để trả lời câu hỏi trên đây.  Kết quả phân tích cho thấy quả thật số trang dành cho đối tượng Đặng Lê Nguyên Vũ cao hơn các đối tượng khác một cách có ý nghĩa thống kê (trị số P < 0.0001).

 

Nhưng “câu chuyện” không dừng ở đó.  Kết quả phân tích thống kê còn cho thấy số trang dành cho chủ tịch Hồ Chí Minh cũng cao hơn so với số trang dành cho cụ Nguyễn Trãi và Trần Quốc Tuấn.

 

Do đó, nếu phàn nàn rằng số trang dành cho đối tượng Đặng Lê Nguyên Vũ quá nhiều, thì cũng có thể có lí do để phàn nàn số trang dành cho hai vị anh hùng dân tộc (Nguyễn Trãi và Trần Quốc Tuấn) quá ít so với số trang dành cho cụ Hồ Chí Minh!

 

Tuy nhiên, một điều khá thú vị là người ta chỉ phàn nàn về số trang dành cho ông Đặng Lê Nguyên Vũ, nhưng hình như người ta không xem xét đến một sự thật khác (có lẽ ít ai để ý).  Đó là số từ cho mỗi mục từ trong Từ điển Bách khoa Toàn thư.  Trong cuốn Từ điển này, mục từ về cụ Hồ Chí Minh có 1308 từ, cao nhất so với các nhân vật khác như Trần Hưng Đạo (459 từ), Nguyễn Trãi (562 từ).  Thậm chí, số từ trong mục từ Võ Nguyên Giáp (560) còn cao hơn cả số từ dành cho Trần Hưng Đạo (xem bảng dưới đây).  Cả hai ông tướng (Võ Nguyên Giáp và Trần Hưng Đạo) đều nổi danh trên thế giới, vậy chúng ta kì vọng hai vị tướng này có cùng số từ?  Câu trả lời dĩ nhiên là không.  Tôi đoán không ai ngớ ngẩn đến nổi đòi hỏi phải cân đo tầm cỡ một nhân vật bằng số từ vựng hay trang sách.

 

 

 

Nhân vật Số từ
Hồ Chí Minh

1308

Trần Hưng Đạo

459

Nguyễn Trãi

562

Lê Duẩn

520

Võ Nguyên Giáp

560

Trường Chinh

570

Lý Thái Tổ

176

Trần Nhân Tông

295

Ngô Quyền

175

Lý Thường Kiệt

275

Nguyễn Huệ

442

Gia Long

314

Nguyễn Văn Thiệu

128

Ngô Đình Diệm

292

 

Nguồn: http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn

 

Lượng và phẩm

 

Xin nhắc lại: không có ai cho rằng cách trình bày qua số lượng từ vựng như thế là tỏ lòng thất kính với các tiền nhân như Nguyễn Trãi và Trần Hưng Đạo, và tôi nghĩ cũng chẳng có ai dùng số lượng từ vựng để nói rằng các danh tướng và nhà văn hóa trong lịch sử có tầm cỡ thấp hơn cụ Hồ Chí Minh.  Mọi so sánh đều khập khiễng.

 

Tại sao trường hợp ông Đặng Lê Nguyên Vũ chiếm nhiều trang sách?  Đây không phải là câu hỏi bài này muốn trả lời, nhưng hình như người chủ biên cũng chưa giải thích một cách thuyết phục.  Có thể chỉ là ngẫu nhiên, nhưng cũng không loại trừ khả năng có thiên vị (vì sự khác biệt có ý nghĩa thống kê).  Cũng có thể ông Đặng Lê Nguyên Vũ cung cấp nhiều thông tin hơn những người đã qua đời (và nếu như thế thì người chấp bút viết về các nhân vật khác còn nợ một lời giải thích).  Nói tóm lại, chúng ta chưa biết.  Nhưng căn cứ vào số trang sách để so sánh ai đáng trân trọng hơn ai, theo tôi là quá cảm tính.

   

Thế nào là nghiên cứu khoa học?

 

Như tôi trích ở phần trên, Gs Đào Trọng Thi cho rằng tự thuật là một tư liệu thô (raw data), không có giá trị khoa học, và ông khẳng định rằng cuốn sách không phải là một công trình khoa học.  Tôi không đồng ý với nhận định này.  Nghiên cứu khoa học không phải chỉ là vật lí hay khoa học thực nghiệm.  Khoa học xã hội có những mô hình nghiên cứu rất khác với nghiên cứu vật lí như Gs Đào Trọng Thi từng biết.  Trong Khoa học xã hội, nhà nghiên cứu có thể chọn mô hình case study (nghiên cứu trường hợp) bằng cách làm phỏng vấn theo chủ đề (focus interview), và những phát biểu sẽ phải qua một phân tích định lượng, hoặc là tổng quan mang tính định chất.  Mô hình case study chính là mô hình hai giáo sư chủ biên chọn, và họ hoàn toàn có lí do để chọn mô hình này.  Những dữ liệu mà ông Đặng Lê Nguyên Vũ cung cấp là fact, và fact có giá trị khoa học vì có thể sử dụng trong phân tích.  Còn phân tích như thế nào là chuyện khác.

 

Tôi rất ngạc nhiên về phát biểu của Gs Đào Trọng Thi.  Xin nhắc lại rằng case study là những nghiên cứu mà (a) phương pháp mang tính định tính (qualitative method) với số lượng cỡ mẫu nhỏ; (b) mục tiêu của nghiên cứu mang tính bao quát, dầy đặc (kiểu như cung cấp một bức tranh tổng quát của một vấn đề); (c) sử dụng một loại chứng cứ cụ thể như lâm sàng, quan sát cá nhân, lịch sử, văn bản học, v.v.; (d) phương pháp thu thập chứng cứ mang tính “tự nhiên” như quan sát quá trình phát triển của cá nhân ; (e) chủ đề hòa quyện với nhau; (f) sử dụng nhiều nguồn dữ liệu ; (g) điều tra những đặc điểm của một sự kiện, một vấn đề.  Do đó, trong bối cảnh đặt ra, tôi nghĩ nhóm nghiên cứu chọn mô hình case study cũng hợp lí.  Một người cầm trịch về khoa học trong Quốc hội mà tuyên bố như thế thì quả là đáng tiếc.

 

Trong case study, nhà nghiên cứu có thể chọn bất cứ ai mà họ cảm thấy có thông tin.  Không nên quá cảm tính khi phê bình tại sao chọn người này mà không là người khác (cảm tính đó nên dành cho văn học, chứ không phải khoa học). Nhưng tiêu chuẩn chọn là vấn đề cần bàn.  Theo nguyên lí của nghiên cứu trường hợp, nhà nghiên cứu có thể chọn 1 đối tượng hay một nhóm đối tượng miễn là họ hội đủ tiêu chuẩn (inclusion criteria). Những tiêu chuẩn chọn có thể là tính tiêu biểu, tính đa dạng, tính deviation, tầm ảnh hưởng, con đường tiến thân, tấm gương, v.v. Công bằng mà nói, ông Đặng Lê Nguyên Vũ hội đủ những tiêu chuẩn này. (Người ta có thể làm luận án tiến sĩ về sự thành đạt của cà phê Trung Nguyên, và chuyện đó cũng bình thường). Cố nhiên, nhiều doanh nhân khác có lẽ cũng đáp ứng những tiêu chuẩn vừa đề cập. Nhưng trong số những người có thể lựa chọn cho nghiên cứu, còn có yếu tố tiếp cận hay gọi là convenience.  Có thể ông Nguyên Vũ sẵn sàng hợp tác, nên các vị nghiên cứu sử dụng trường hợp của ông ấy như là một đối tượng.  Hoàn toàn chẳng có gì sai sót ở đây.

 

Có người nói ông còn quá trẻ, thành tích chưa có gì. Tôi nghĩ nếu nói về tuổi tác thì chúng ta phải cần đến định lượng. Tuổi trung bình của 14 đối tượng là 63. Ông Đặng Lê Nguyên Vũ tuổi 41, và người cao tuổi nhất là ông Trần Văn Giàu (100 tuổi). Đứng trên phương diện định lượng, không có lí do để nói ông Nguyên Vũ còn trẻ, nhưng có thể có lí do nói ông Trần Văn Giàu … quá già. Thật ra, chẳng có lí do gì để nói hai trường hợp này là cá biệt cả.

 Người Việt chúng ta hình như có “ác cảm” với doanh nhân, xem họ như những người gian manh, điêu ngoa, làm lời bất chính.  Ngược lại, người Việt có xu hướng ca ngợi các danh nhân quân sự, văn học, và ca ngợi … cái nghèo.  Vậy thì tại sao trong thế kỉ 21 chúng ta không vinh danh một doanh nhân thành đạt, mà doanh nhân này có xu hướng trân trọng văn hóa nữa.  Do đó, đối chiếu với những lĩnh vực và mục tiêu nghiên cứu, tôi tôi nghĩ mô hình nghiên trường hợp là hoàn toàn có thể chấp nhận được.

 

 

Tự thuật là xấu ?

 

Một phát biểu khác của Gs Đào Trọng Thi cũng cần phải xem xét lại.  Ông nói: “Tôi cũng muốn nói thêm về nhân vật được lựa chọn. Việc anh Vũ tự thuật đã gây phản cảm với độc giả. Tự mình viết về mình như một nhân tài đặt cạnh những nhân vật quá nổi tiếng là một cách làm rất không nên.”  (Người lao động 13/5/2011).  Nếu tôi là ông Đặng Lê Nguyên Vũ, có lẽ tôi cũng thấy ngại khi làm như thế.  Rất khó mà viết về mình, về cái tôi đáng ghét.  Thế nhưng chúng ta phải khách quan ở đây.  Ở các nước phương Tây, tự thuật về mình, tự đánh giá thành tích của mình là một chuyện hết sức bình thường.  Trong các buổi phỏng vấn đề bạt chức danh giáo sư, hội đồng khoa bảng lúc nào cũng yêu cầu ứng viên tự viết và nói về mình, tự đánh giá mình đứng ở đâu trên thế giới.  Không biết tự mình sell là sẽ chuốc lấy thất bại não nề trong thế giới hiện đại này.  Muốn hay không muốn thì đó là sự thật. Thoạt đầu người Á châu rất ngại với “văn hóa tự khoe” này, nhưng dần dần rồi cũng quen đi.  Chuyện ông Đặng Lê Nguyên Vũ, một doanh nhân từng tiếp xúc đồng nghiệp quốc tế, nếu có viết về mình tuy thoạt đầu mới nghe qua cũng là lạ, nhưng tôi thì không thấy có gì bất bình thường ở đây.

 

Cần nhắc lại rằng 50 năm trước (1961), bác Hồ — kí tên dưới bút danh T. Lan — cũng từng tự viết về mình qua tác phẩm“Vừa đi đường vừa kể chuyện”.  Trong cuốn này, bác Hồ cũng thỉnh thoảng … tự khen mình đó chứ.  Xin trích vài câu trong cuốn sách này để biết ngày xưa bác viết như thế nào:

 

Đi theo Bác có: một tiểu đội bảo vệ, một thầy thuốc – Bác sĩ Chân, đồng chí Thành với tôi, T. Lan. Muốn đi nhanh Bác cho đội bảo vệ đi trước vài mươi phút, rồi Bác và ba anh em chúng tôi đi sau.

Trên đường đi, Bác thường ghé thăm một cách bất thình lình đồng bào các bản làng và các đơn vị bộ đội. Anh em chiến sĩ và cán bộ thấy Bác đến một cách đột ngột, lúc đầu thì ngơ ngác rồi thì mừng quýnh lên, reo hò nhảy nhót, quây quần lấy Bác, có khi quên cả trật tự. Sau khi xem tận nơi bếp nấu, chỗ ở, công tác vệ sinh, Bác thân mật hỏi han thăm sắc khỏe mọi người, dặn dò, phê bình, khuyến khích mấy lời như cha nói với đàn con, rồi lại tiếp tục đi.

Một hôm, trời hửng sáng, Bác ghé thăm một xóm ở gần đường. Ngoài đồng ruộng thấy mấy trăm chị em dân công, Kinh có, Tày có, Nùng có, Mán có… Người thì vừa nhóm bếp nấu cơm, vừa nói chuyện vui vẻ. Người thì chụm năm chụm ba, đang ngồi dựa lưng vào nhau mà ngủ. Bác hỏi mấy chị đang nhóm lửa: “Các cô cả đêm ngồi ngủ ngoài trời như vậy cả sao?”

Các chị trả lời: “Vâng ạ, nhà đồng bào chật, chỉ đủ chỗ để chứa lương thực của bộ đội khỏi ướt. Các cháu ngủ ngoài đồng thế này càng vui…”.

Bác ôn tồn khen ngợi chị em, rồi bảo chúng tôi: “Bộ đội ta dũng cảm như vậy, nhân dân ta dũng cảm như vậy, ta nhất định thắng, địch nhất định thua”.

 

 

 

Do đó, tôi nghĩ những gì bác Đào Trọng Thi phê bình ông Đặng Lê Nguyên Vũ xem ra thiếu công bằng và không phù hợp với xu thế của thời đại.

 

Nhưng ở đây còn có vấn đề của nhà nghiên cứu, của nhóm chủ biên.  Vấn đề là tại sao ông Đặng Lê Nguyên Vũ xuất hiện như là một đối tượng nghiên cứu nhưng cũng đồng thời là một tác giả?  Ngoài ra, chúng ta thấy có sự nhập nhằng trong vai trò của người thực hiện.  Sách đề tên 2 chủ biên là GS Nguyễn Hoàng Lương và PGS Phạm Hồng Tung, nhưng phía trong bìa lại có 8 tác giả.  Tám tác giả (bao gồm cả 2 người chủ biên là Nguyễn Hoàng Lương, Phạm Hồng Tung, Nguyễn Hoàng Hải, Đinh Thị Thúy Hiên, Lê Thị Lan, Nguyễn Ngọc Thắng, Phạm Minh Thế, và Đặng Lê Nguyên Vũ.  Cần nói thêm rằng sách còn có người biên tập (Phạm Thị Thinh).  Vấn đề đặt ra là vai trò của những chủ biên, tác giả, và biên tập viên ra sao.  Ai là người thu thập dữ liệu, ai phân tích dữ liệu, và ai là người thật sự viết sách?

 

 

 

 

Tuy nhiên, luật sư của ông Đặng Lê Nguyên Vũ đã chính thức có yêu cầu đính chính rằng “Doanh nhân Đặng Lê Nguyên Vũ không phải là đồng tác giả của nhóm chủ biên quyển sách’Tài năng và đắc dụng’).  Nhưng đính chính này không phù hợp với những gì in trong sách, mà trong đó tên ông được ghi là tác giả (xem hình trên)!

 

Có hai khả năng xảy ra: một là nhóm chủ biên tự ý đưa tên ông Đặng Lê Nguyên Vũ vào sách mà không cho ông hay biết; hai là ông … quên. Nếu trường hợp thứ nhất xảy ra, thì đó là một biểu hiện của sự tắc trách trong nghiên cứu khoa học, và có thể nói là một vi phạm đạo đức khoa học (vì đó là hiện tượng tác giả danh dự).  Nếu trường hợp thứ hai xảy ra, thì đây là một trường hợp mâu thuẫn lợi ích (conflict of interest).  Mâu thuẫn quyền lợi có thể xảy ra trong nghiên cứu khoa học, và điều đó không có nghĩa là sẽ ảnh hưởng đến chất lượng nghiên cứu, nhưng đương sự phải tuyên bố ngay từ đầu là sự hiện diện của đương sự là một mâu thuẫn quyền lợi.  Dù trường hợp này đi nữa, thì sự việc là một tín hiệu có vấn đề về vai trò tác giả và đối tượng nghiên cứu trong công trình cấp Nhà nước này.

 

Tóm lại, các phân tích bán định lượng vừa trình bày trên đây cho thấy không có bằng chứng để kết luận rằng việc chọn ông Đặng Lê Nguyên Vũ là một bất bình thường.  Có bằng chứng cho thấy số trang sách dành cho các đối tượng nghiên cứu rất khác nhau, và sự khác biệt không chỉ xảy ra trong trường hợp ông  Đặng Lê Nguyên Vũ mà còn trong nhiều trường hợp khác.  Nhưng sự khác biệt về lượng (số trang) không thể là chứng cứ để kết luận có sự thiên vị, và càng không phải là một thước đo về phẩm chất của thông tin.  Nhưng qua công trình nghiên cứu này, có thể nói rẳng cách làm nghiên cứu khoa học xã hội ở nước ta còn nhiều bất cập.

 

PS.

 

(1) Về chi tiết phân tích dữ liệu và tính toán có thể xem bên trang statistics.vn

(2) Có thể đọc một phiên bản khác [đơn giản hơn] của bài này trên Tuần Việt Nam với cái tựa đề giật gân 🙂 không phải tôi đặt nhé. 

 

 

Advertisements

14 phản hồi to “(ứng viên) PGS rất dỏm và phản cảm Phạm Hồng Tung – ĐH QG Hà Nội – Đạo văn, NCKH dỏm = gián tiếp cướp tiền của dân”

  1. Thuykieu said

    Chợ chiều của tri thức dỏm Việt Nam: Thời gian gần đây, các tri thức dỏm với học vị cao đang dần dần bị lột mặt nạ. Tôi hoan nghênh những ngừời như bác Nguyễn Xuân Diện, bác Nguyễn Văn Tuấn đang góp phần quan trọng trong công cuộc này. Tôi xin hỏi: Sao các GS, TS, VS, NGUT, NGND ít khi lên tiếng? Hay là…..?

    Tôi cho rằng thời gian tới, trí thức rởm, nghiên cứu rởm sẽ không còn trên đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta. Bọn rởm sẽ phải sống chui rút như côn trùng mà thôi bởi chúng chính là bọn phá hoại đất nước, bọn cướp cạn đã bòn rút không biết bao nhiêu tiền của của tôi, của mấy chục triệu dân. Đã đến lúc chúng ta bắt chúng lại trả lại những gì chúng đã cướp, hay ít ra chúng ta phải ngăn chặn chúng.

  2. Tuan Ngoc@ said

    Nhìn mặt ông này sao thấy sợ quá nên không dám bình. Trích từ Blog Nguyễn Xuân Diện một bình khá hay:

    Nguyễn Hữu Quý nói…

    Những đề tài dỏm sinh ra GS-TS dỏm; rồi những GS-TS dỏm lại sinh ra đề tài dỏm…, đó là vòng luân hồi của giới khoa bảng dỏm Việt Nam đương đại; nhục thay cho “Đề tài khoa học cấp nhà nước”.

    Bởi những GS-TS dỏm nghĩ ra chỉ để tiêu tiền và có cơ hội lấy tiền của kẻ háo danh.

    http://nguyenxuandien.blogspot.com/2011/05/tin-ac-biet.html

    Té ra thì giờ thiên hạ đã hiểu “giá trị đích thực” của GS, PGS dỏm.

  3. Thuykieu said

    http://xuandienhannom.blogspot.com/2011/06/sung-sot-nhan-tai-va-ac-dung-ao-van.html

    Cuốn “Tài năng và đắc dụng”, được chia ra làm 3 phần, phần 1, giới thiệu nhân tài trong lĩnh vực lãnh đạo, quản lý (gồm 5 nhân vật); phần 2, giới thiệu nhân tài trong lĩnh vực khoa học và công nghệ (gồm 4 nhân vật); phần 3 giới thiệu nhân tài trong lĩnh vực kinh tế, kinh doanh (gồm 5 nhân vật).

    Cuốn sách này chính là một công trình nhánh của một công trình khoa học cấp nhà nước. Và như vậy, tính khoa học phải rất cao. Hơn nữa, để phân tích cho được quá trình hình thành và phát triển nhân cách tài năng, sự nghiệp của những nhân vật góp phần thay đổi lịch sử đất nước và thế giới, chắc chắn đòi hỏi những nghiên cứu công phu, nghiêm túc và những phát hiện khoa học đáng kể.

    Tuy nhiên, trong số 4 bài viết nhân vật tiêu biểu trên thế giới, nếu ai hay đọc sách báo đều có thể nhận ra, có đến 3 bài viết nhiều đoạn copy nguyên văn từng câu từng chữ. Đặc biệt, bài viết về nhà vật lý học được tổng hợp từ chương 1, chương 2 của cuốn sách “Vũ trụ trong một vỏ hạt” của tác giả Stephen Hawking được dịch ra tiếng Việt bởi dịch giả Dạ Trạch, xuất bản tại Việt Nam năm 2001 và bài viết về doanh nhân tài ba Bill Gates được tổng hợp từ loạt bài “Bill Gates – đằng sau một ngai vàng”.

    Đó là 10 trang (từ trang 126 đến trang 135) của “tài năng và đắc dụng” giống y hệt bài viết trong cuốn “Vũ trụ trong một vỏ hạt” (do tác giả Dạ Trạch dịch cách đây 8 năm đã được đưa lên mạng internet). Suốt 10 trang này, tác giả “Tài năng và đắc dụng” chỉ viết khác cuốn sách dịch kia ở vài chữ như ête và ê-te, “giả thiết” và “định đề” và một số từ bị cắt bớt trong chương 1 cuốn sách “Vũ trụ trong một vỏ hạt”.

    Chưa hết, trang 134 đến trang 136 trong cuốn sách “Tài năng và đắc dụng” cũng copy nguyên bản trong chương 1 của cuốn sách “Vũ trụ trong một vỏ hạt” trang 19-20-21.

    Còn một số đoạn khác cũng được chép nguyên văn, không thay đổi từ một dấu chấm câu, trong khuôn khổ bài viết, chúng tôi không thể đưa ra hết được. Chỉ có thể nhận xét rằng, cả bài viết về Albert Einstein trong cuốn sách “Tài năng và đắc dụng” đều tổng hợp và cắt gọt từ trong chương 1, chương 2 của cuốn sách “Vũ trụ trong một vỏ hạt”.

    http://giaoduc.net.vn/xa-hoi/40-tin-nong/3590-xem-nhung-doan-dao-van-cua-tai-nang-va-dac-dung.html

    Xem những đoạn đạo văn của “Tài năng và đắc dụng”
    Thứ tư, 01 Tháng 6 2011 10:28

    (GDVN) – Dưới đây là những đoạn đạo văn hầu như nguyên văn ở các tác phẩm khác. Đôi chỗ, các tác giả “Tài năng và đắc dụng” có trích dẫn, nhưng lại trích dẫn kiểu copy toàn bộ bài viết ở một nơi khác và của tác giả khác.

    – Đó là 10 trang (từ trang 126 đến trang 135) trong bài “Albert Eintein- Người thay đổi tư duy của cả nhân loại” trong cuốn sách “Tài năng và đắc dụng” giống y hệt bài viết trong cuốn “Vũ trụ trong một vỏ hạt”, chỉ khác nhau ở chữ ête và ê-te, “giả thiết” và “định đề” và một số từ bị cắt bớt trong chương 1 cuốn sách “Vũ trụ trong một vỏ hạt”: “Gần cuối thế kỷ thứ 19, các nhà khoa học tin rằng họ gần như đã mô tả vũ trụ một cách toàn vẹn. Họ cho rằng không gian được lấp đầy bởi một loại vật chất liên tục gọi là ête (ether). Ánh sáng và các tín hiệu vô tuyến là các sóng lan truyền trong ête giống như sóng âm lan truyền trong không khí. Và tất cả các điều cần làm cho một lý thuyết hoàn thiện là phép đo chính xác để xác định tính đàn hồi của ête. Thực ra, dự liệu trước các phép đo như thế phòng thí nghiệm Jefferson ở trường đại học Harvard đã được xây dựng mà không dùng đến một cái đinh sắt nào để tránh làm nhiễu các phép đo từ tính tinh tế. Tuy vậy những người xây dựng hệ đo đã quên rằng các viên gạch nâu đỏ xây nên phòng thí nghiệm và phần lớn các tòa nhà ở Harvard đều chứa một lượng lớn sắt. Ngày nay các tòa nhà đó vẫn được sử dụng. Vào cuối thế kỷ XIX, các ý tưởng trái ngược nhau về sự có mặt của ête bắt đầu xuất hiện. Người ta tin rằng ánh sáng chuyển động với một tốc độ xác định so với ête và nếu bạn chuyển động cùng hướng với ánh sáng trong ête thì bạn sẽ thấy ánh sáng chuyển động chậm hơn, và nếu bạn chuyển động ngược hướng với ánh sáng thì bạn sẽ thấy ánh sáng di chuyển nhanh hơn.

    Một loạt các thí nghiệm để chứng minh điều đó đã thất bại. Albert Michelson và Edward Morley của trường khoa học ứng dụng ở Cleveland, bang Ohio đã thực hiện các thí nghiệm cẩn thận và chính xác nhất vào năm 1887. Họ so sánh tốc độ ánh sáng của hai chùm sáng vuông góc với nhau. Vì trái đất tự quay quanh mình và quay quanh mặt trời nên dụng cụ thí nghiệm sẽ di chuyển trong ête với tốc độ và hướng thay đổi. Nhưng Michelson và Morley cho thấy rằng không có sự khác biệt giữa hai chùm sáng đó.

    Hình như là ánh sáng truyền với tốc độ như nhau đối với người quan sát, không phụ thuộc vào tốc độ và hướng của người chuyển động.

    Dựa trên thí nghiệm Michelson-Morley, một nhà vật lý người Ai-len tên là George Fitzgerald và nhà vật lý người Hà Lan tên là Hendrik Lorentz giả thiết rằng các vật thể chuyển động trong ête sẽ co lại và thời gian sẽ bị chậm đi. Sự co và sự chậm lại của đồng hồ làm cho tất cả mọi người sẽ đo được một tốc độ ánh sáng như nhau không phụ thuộc vào việc họ chuyển động như thế nào đối với ête (George Fitzgerald và Hendrik Lorentz vẫn coi ête là một loại vật chất có thực).

    Suốt trong 5 năm trường, từ năm 1901 đến năm 1905, các cố gắng tư tưởng của Einstein đã mang lại kết quả. Vào một buổi sáng tháng 6-1905, viên chủ nhiệm Tạp chí Ânnlen der Physik tại Munich tiếp một thanh niên tóc đen không chải, quần áo cũ kỹ. Thanh niên đó đưa viên chủ nhiệm một cuộn giấy 30 trang và yêu cầu đăng trên tạp chí khoa học.

    Bài báo chỉ ra rằng nếu người ta không thể biết được người ta chuyển động trong không gian hay không thì khái niệm ête không còn cần thiết nữa. Thay vào đó, ông bắt đầu bằng một giả thuyết rằng các định luật khoa học xuất hiện như nhau đối với tất cả những người quan sát chuyển động tự do. Đặc biệt là họ sẽ đo được tốc độ ánh sánh như nhau không phụ thuộc vào tốc độ chuyển động của họ. Tốc độ của ánh sáng độc lập với chuyển động của người quan sát và như nhau theo tất cả các hướng. Ý tưởng này đòi hỏi phải từ bỏ ý nghĩ cho rằng tồn tại một đại lượng phổ quát được gọi là thời gian có thể đo được bằng tất cả các đồng hồ. Thay vào đó, mỗi người có một thời gian riêng của họ. Thời gian của hai người sẽ giống nhau nếu hai người đó đứng yên tương đối với nhau, nhưng thời gian sẽ khác nhau nếu hai người đó chuyển động tương đối với nhau. Giả thuyết này được khẳng định bằng rất nhiều thí nghiệm, trong đó có một thí nghiệm gồm hai đồng hồ chính xác bay theo hướng ngược nhau vòng quanh trái đất và quay lại cho thấy thời gian có sai lệch chút ít. Điều này gợi ý rằng nếu ai đó muốn sống lâu hơn thì người đó nên bay về hướng đông vì như thế thì tốc độ của máy bay sẽ cộng thêm vào tốc độ quay của trái đất.

    Định đề của Einstein cho rằng các định luật khoa học xuất hiện như nhau đối với tất cả các người quan sát chuyển động tự do là cơ sở của thuyết tương đối. Gọi như vậy vì nó ngụ ý rằng chỉ có chuyển động tương đối là quan trọng. Vẻ đẹp và sự đơn giản của giả thuyết này đã thuyết phục rất nhiều các nhà tư tưởng, tuy nhiên, vẫn có rất nhiều các ý kiến trái ngược. Einstein đã vứt bỏ hai khái niệm tuyệt đối của khoa học thế kỷ XIX: đứng yên tuyệt đối – đại diện là ête và thời gian tuyệt đối và phổ quát mà tất cả các đồng hồ đo được. Rất nhiều người thấy rằng đây là một khái niệm không bình thường. Họ hỏi, giả thuyết ngụ ý rằng tất cả mọi thứ đều tương đối, rằng không có một tiêu chuẩn đạo đức tuyệt đối? Sự bứt rứt này tiếp diễn trong suốt những năm 20 và 30 của thế kỷ XX. Einstein được trao giải Nobel vào năm 1921 về một công trình kém quan trọng hơn cũng được ông cho ra đời vào năm 1905. Lúc đó, thuyết tương đối không được nhắc đến vì nó vẫn còn gây nhiều tranh cãi. Tuy vậy, hiện nay, các nhà vật lý hoàn toàn chấp nhận thuyết tương đối, và các tiên đoán của nó đã được kiểm chứng trong vô vàn ứng dụng.

    Một hệ quả quan trọng của thuyết tương đối là hệ thức giữa khối lượng và năng lượng. Giả thiết của Einstein về tốc độ của ánh sáng là như nhau đối với tất cả các người quan sát ngụ ý rằng không có gì có thể chuyển động nhanh hơn ánh sáng. Nếu ta dùng năng lượng để gia tốc một vật nào đó, dù là một hạt hay một tàu vũ trụ, thì khối lượng của vật đó sẽ gia tăng cùng với tốc độ và do đó sẽ khó có thể gia tốc thêm được nữa. Ta không thể gia tốc một hạt đến tốc độ ánh sáng vì ta cần một năng lượng lớn vô cùng để làm điều đó. Khối lượng và năng lượng là tương đương và điều đó được tổng kết trong một phương trình nổi tiếng E = mc2. Nói một cách đại cương, phương trình trên có nghĩa là năng lượng của vật chất bằng khối lượng nhân với bình phương tốc độ ánh sáng. Một trong số các hệ quả của phương trình trên là hạt nhân của nguyên tử Uranium phân rã thành 2 hạt nhân nhỏ hơn có tổng khối lượng nhỏ hơn khối lượng của hạt nhân ban đầu, việc này sẽ giải tỏa một năng lượng vô cùng lớn.”

    – Đó là trang 134 đến trang 136 trong cuốn sách “Tài năng và đắc dụng” cũng coppy nguyên bản trong chương 1 của cuốn sách “Vũ trụ trong một vỏ hạt” trang 19-20-21:
    “Lý thuyết mới về sự cong của không thời gian được gọi là thuyết tương đối rộng để phân biệt với lý thuyết ban đầu không có lực hấp dẫn được mọi người biết đến với cái tên là thuyết tương đối hẹp. Lý thuyết này được khẳng định trong một thí nghiệm rất ấn tượng vào năm 1919, trong một cuộc thám hiểm của các nhà khoa học người Anh về phía Tây châu Phi đã quan sát được độ lệch rất nhỏ của ánh sáng đến từ một ngôi sao đi gần mặt trời trong quá trình nhật thực. Đây là một bằng chứng trực tiếp cho thấy rằng không thời gian bị bẻ cong, và nó đã khích lệ sự thay đổi lớn nhất của con người trong nhận thức của chúng ta về vũ trụ mà chúng ta đang sống từ khi Euclid viết cuốn sách Hình học cơ sở vào khoảng 300 năm trước Công nguyên.

    Thuyết tương đối rộng của Einstein đã biến không thời gian từ vai trò là một khung nền thụ động trong đó các hiện tượng xảy ra trở thành một tác nhân chủ động trong chuyển động của vũ trụ. Điều đó dẫn tới một bài toán rất lớn và là mối quan tâm hàng đầu của vật lý ở thế kỷ 20. Vũ trụ tràn đầy vật chất và vật chất bẻ cong không thời gian theo một cách làm cho các vật thể rơi vào nhau. Einstein thấy rằng các phương trình của ông không có nghiệm mô tả một vũ trũ tĩnh tại và không thay đổi theo thời gian. Thay vì việc từ bỏ một vũ trụ vĩnh cửu mà ông và phần lớn những người khác tin, ông đã thêm vào một số hạng gọi là hằng số vũ trụ một cách khiên cưỡng.

    Hằng số này làm cong không thời gian theo hướng ngược lại, do đó, các vật thể sẽ chuyển động ra xa nhau. Hiệu ứng đẩy của hằng số vũ trụ có thể cân bằng với hiệu ứng hút của vật chất, cho phép ông thu được một vũ trụ tĩnh tại. Đây là một trong những cơ may bị mất đáng tiếc nhất trong vật lý thuyết. Nếu Einstein dừng lại ở các phương trình ban đầu của ông, ông có thể tiên đoán rằng vũ trụ sẽ giãn nở hoặc co lại. Khả năng vũ trụ thay đổi theo thời gian chỉ được xem xét một cách nghiêm túc cho đến khi có được những quan sát thu được từ kính thiên văn 2,5 m đặt trên đỉnh Wilson vào những năm 1920.

    Những quan sát này cho thấy rằng các thiên hà ở càng xa nhau thì chuyển động ra xa nhau càng nhanh. Vũ trụ đang giãn nở với khoảng cách giữa 2 thiên hà tăng dần theo thời gian.

    Phát hiện này đã loại bỏ sự có mặt của hằng số vũ trụ để có được một vũ trụ tĩnh. Sau này Einstein nói rằng hằng số vũ trụ là sai lầm lớn nhất của đời ông. Tuy vậy, ngày nay, người ta thấy rằng hằng số vũ trụ hoàn toàn không phải là một sai lầm: những quan sát gần đây sẽ được mô tả trong chương 3 gợi ý rằng thực ra là có một hằng số vũ trụ có giá trị rất nhỏ.”

    – Đó là bài viết: “Bill Gates, biểu tượng của thời đại kinh tế tri thức” của “Tài năng và đắc dụng”, từ trang 291 đến trang 293 hoàn toàn giống bài 4 của loạt bài “Bill Gates – Đằng sau một ngai vàng” đăng trên trang web: http://tuoitre.vn/The-gioi/Ho-so/55536/Bill-Gates—dang-sau-mot-ngai-vang-ky-4-Duoi-theo-uoc-mo.html:

    “Khi cả hai đã vững vàng ở New Mexico, Gates và Allen tuyển mộ các thành viên cũ của nhóm lập trình Lakeside (và một số bạn bè khác), tên Micro-soft xuất hiện trong tiến trình đó. Khoảng thời gian họ chuyển địa điểm đến Seattle, dấu nối đã bị bỏ đi để trở thành Microsoft.

    Mặc dù tỉ lệ hợp tác giữa Gates-Allen được thỏa thuận ban đầu là 50/50, sau đó Gates đã đề nghị tỉ lệ chia phần mới là 60/40 nghiêng về phía anh. Gates cho rằng như vậy là công bằng vì ngoài công việc từ các hợp đồng phụ, Allen còn được hưởng tiền lương từ MITS. Như một nhân viên của Microsoft, Gates làm việc chỉ trông vào tiền bản quyền.

    Trong những năm mới thành lập, cách quản lý của Microsoft không được chặt chẽ. Cả Gates và Allen cùng làm tất cả mọi việc, mỗi việc một ít. Tuy nhiên, nhìn chung thì Allen tập trung vào công nghệ mới và sản phẩm, trong khi Gates thường dành sự quan tâm cho công việc làm ăn mới, các cuộc đàm phán và các hợp đồng kinh tế. Trong vòng 18 tháng, họ đã kiếm được cho công ty mới của mình hàng trăm nghìn đôla Mỹ qua việc viết chương trình cho Công ty Apple Computer Inc. và Commodore.

    Một trong những điều làm Gates bực mình khi trở thành một ông chủ trẻ là anh không thể thuê ôtô vì chưa đủ 21 tuổi. Khi có việc phải đến liên hệ với Applied Digital Data Systems, công ty sản xuất các thiết bị đầu cuối ở Hauppauge, New York, Gates đã phải nhờ khách hàng cho người đưa xe đến sân bay để đón anh.

    Allen, Gates và những người bạn trong nhóm lập trình cũ được thành lập lại vẫn tiếp tục sống và làm việc khác với lề thói bình thường, khác với những mô hình công ty khác. Đầu tiên, họ sống tại khách sạn ven đường Tumbleweed Motel bụi bặm, rồi để giảm chi phí, họ đã thuê một căn hộ ở chung với nhau.

    Phần lớn thời gian họ dành cho việc lập trình, ăn bánh pizza, đi xem phim hoặc phóng xe vun vút trên sa mạc vào lúc nửa đêm trên chiếc xe Porsche của Gates. “Vâng, cuộc sống của chúng tôi là làm việc và có thể là đi xem phim, rồi lại về tiếp tục làm việc. Đôi khi khách hàng cũng đến tận nơi làm việc, và có lúc do quá mệt mỏi chúng tôi thường ngủ ngay trước mặt họ”.

    Khoảng một tuần sau khi Miriam Lubow được thuê vào làm quản lý văn phòng, cô thấy một cậu bé tự động đi vào phòng của Gates mà Gates lúc ấy đang đi công tác xa. Đã được dặn trước rằng không ai có quyền bước vào căn phòng đó nếu không được phép, cô vội vàng chạy đi báo cho đồng nghiệp là Steve Wood biết. Và cô ta đã thật sự kinh ngạc khi biết rằng cậu bé đó chính là ông chủ của mình.

    Có lẽ để cảnh báo một cách tế nhị cho các khách hàng về ông chủ trẻ của mình, Công ty Microsoft khi đăng quảng cáo trên các tạp chí điện tử thường dùng hình vẽ một nhân vật trẻ, Micro Kid, tuy nhỏ bé nhưng rất quyền năng.

    Đến năm 1980, khi Microsoft lần đầu tiên được IBM – ông vua của ngành công nghiệp máy tính – đến tiếp xúc thì Gates mới 25 tuổi và nhân viên của Microsoft chỉ có 32
    người.

    Gates trông còn quá trẻ để có thể được ưng thuận, “Nhưng đây là một chàng trai khôn ngoan hơn tuổi đời của anh ta – một thiên tài trong lĩnh vực lập trình, một tài năng bẩm sinh trong kinh doanh, điều đó được thể hiện khi anh điều khiển được mối quan hệ của Microsoft với IBM sao cho có lợi nhất cho công ty” – một ủy viên ban quản trị IBM nói.”

    – Đó là phần “Từ thiện” ở mục 5 của cuốn sách “Tài năng và đắc dụng” hầu như được chép lại nguyên trong bài “Tiểu sử Chủ tịch tập đoàn Microsoft” đăng tải trên trang web Vietbao.vn ngày 25/3/2006 (lấy lại từ Microsoft Việt Nam), chỉ rút gọn lại ở một số câu từ và chỉ khác có 2 số liệu là số tiền được quyên góp làm từ thiện của vợ chồng Bill Gates:

    “Năm 1999, Gates viết cuốn sách Kinh doanh nhanh bằng tốc độ của tư duy (Business @ the Speed of Thought). Cuốn sách nói lên sức mạnh của công nghệ máy tính có thể giải quyết các vấn đề kinh doanh theo những cách mới hoàn toàn. Cuốn sách được xuất bản trên 25 ngôn ngữ ở trên 60 nước trên thế giới. Nó nhận được nhiều ý kiến phê bình, trở thành một trong những cuốn sách bán chạy nhất của tờ Thời báo New York, Nước Mỹ ngày nay, Tạp chí phố Wall và hãng bán lẻ trực tuyến lớn nhất trên thế giới Amazon. Trước đó, vào năm 1995, Gates đã viết cuốn sách Con đường phía trước (The Road Ahead), cũng đã giữ vị trí số một trong danh sách những cuốn sách bán chạy nhất của tờ Thời báo New York trong vòng 7 tuần liên tiếp. Gates đã tặng số tiền bán được từ 2 cuốn sách trên cho một tổ chức phi lợi nhuận, khuyến khích việc sử dụng công nghệ đào tạo và phát triển các kỹ năng.

    Ngoài tình yêu máy tính và phần mềm, năm 1989, Gates còn sáng lập ra công ty Corbis, nhằm phát triển một trong những nguồn thông tin hình ảnh lớn nhất thế giới – đó chính là nơi lưu trữ nghệ thuật và nhiếp ảnh số lấy từ các bộ sưu tập công cộng và cá nhân trên toàn thế giới. Ông còn là thành của Ban giám đốc của công ty Berkshire Hathaway Inc., đầu tư vào những công ty có các hoạt động kinh doanh khác nhau.

    Nhắc đến Gates thì không thể nhắc đến từ thiện. Hai vợ chồng Gates còn quyên tặng số tiền là 27 tỷ USD (3-2004) để ủng hộ các sáng kiến từ thiện trong lĩnh vực sức khỏe và học tập toàn cầu với hy vọng rằng vào thế kỷ XXI, các tiến bộ quan trọng trong lĩnh vực này sẽ có thể đến tất cả mọi người trên thế giới. Quỹ Bill và Melinda Gates đã đóng góp hơn 3.2 tỷ USD cho các tổ chức làm việc trong lĩnh vực sức khỏe khỏe toàn cầu; đóng góp hơn 2 tỷ Đô la để tạo thêm cơ học tập cho mọi người gồm Thư Viện Gates mạng máy tính, Internet cho các thư viện công cộng ở những nơi có thu nhập thấp ở Hoa Kỳ và Canada; 477 triệu USD cho các dự án cộng đồng cho khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương và hơn 488 triệu USD cho các dự án đặc biệt.

    Gates lập gia đình vào ngày 1-1-1994. Vợ ông là Melinda French Gates. Họ có 3 người con: Jennifer Gates (1996), Rory Gates (1999) và Phoebe Gates (2002).”

    – Đó là phần cuối cùng ở mục 6: Đối đầu với pháp luật tại trang 299 của cuốn sách “Tài năng và đắc dụng”, tác giả có ghi rõ nguồn trích dẫn được lấy trên báo Tuổi trẻ online từ năm 2004. Dù ghi rõ như vậy, nhưng câu hỏi ở đây là: Trích dẫn gần như toàn bộ như vậy thì tính nghiên cứu của một công trình khoa học ở đâu? Hay chỉ là động tác copy? Hãy đọc đoạn từ đầu đến cuối trong bài thứ 9 của loạt bài “Bill Gates – Đằng sau một ngai vàng được đăng trên báo Tuổi trẻ. (Chỉ có một vài động từ được các tác giả trong cuốn sách “Tài năng và đắc dụng” dùng từ nhẹ nhàng hơn, văn viết hơn mà thôi).

    Ngoài ra, còn một số đoạn trong bài “Bill Gates, biểu tượng của thời đại kinh tế tri thức” cũng được tổng hợp, biên tập lại, trích ý từ loạt bài “Bill Gates – đằng sau một ngai vàng”.

    – Đó là bên cạnh việc lấy từ câu chữ đến ý tứ của những tác phẩm trên, bài viết về “Thomas Ava Edison – Nhà phát minh vĩ đại của thế kỷ XIX”, dù tài liệu tham khảo được trích dẫn từ trang web: Thomas Edison, http://vietscien…org, nhưng rất nhiều đoạn dài, tác giả đã bê nguyên văn phong trong http://vietscien…org mà không hề chỉnh sửa hay biên tập lại, hoặc có đoạn chỉ thêm thắt vào một vài câu. Đoạn từ trang 142 đến trang 145 là một ví dụ: “Al cũng được cha mẹ cho đi học tại một ngôi trường độc nhất. Trường chỉ có một lớp với khoảng 40 học sinh, lớn có, nhỏ có, học một ông giáo theo các trình độ khác nhau. Trong phòng học những chỗ ngồi gần ông thầy chỉ để dành cho các trẻ em ngu đần. Tại lớp học, Al đặt rất nhiều câu hỏi hắc búa mà lại không chịu trả lời các câu hỏi của thầy. Al thường đội sổ, khiến cho các bạn cậu chế riễu cậu là đần độn.

    Một hôm, nhân có viên thành tra vào thăm lớp học, thầy giáo đã chỉ vào Al và nói: “trò này điên khùng, không đáng ngồi học lâu hơn”. Al rất căm hận về hai chữ “điên khùng” và đem câu chuyện này kể lại với mẹ. Bà Nancy khi nghe kể xong, liền nổi giận, bà dẫn ngay Al đến trường và bảo ông giáo : “ông bảo con tôi điên khùng hả? Tôi nói thật cho ông rõ, trí óc của nó còn hơn ông đấy. Tôi sẽ giữ nó tại nhà và dạy lấy, vì tôi đã là giáo viên, để ông thấy rằng sau này nó sẽ ra sao!”. Một giai thoại nữa…

    Từ đó, Alva không đến trường nữa mà học với mẹ tại nhà trong suốt sáu năm trường. Nhờ mẹ, Al học dần các môn Lịch Sử của Hy Lạp, La Mã và Sử Thế Giới. Al cũng được làm quen với Thánh Kinh, với các tác phẩm của Shakespeare và của các văn sĩ, thi sĩ, sử gia danh tiếng khác. Nhưng đặc biệt nhất, Al ưa thích Khoa Học. Cậu có thể kể lại rành mạch các phát minh, các thí nghiệm và tiểu sử của các đại bác học như Newton, Galileo. . . Chỉ trong vòng 6 năm, bà Nancy đã truyền lại cho con tất cả kiến thức của mình, từ môn Địa Dư với những tên núi sông, tới môn Toán Học chính xác. Bà Nancy không những dạy con về học vấn mà còn huấn luyện Al về hạnh kiểm. Al được mẹ nhắc nhở các đức tính thật thà, ngay thẳng, tự tin và cần cù, cộng với lòng ái quốc và tình yêu nhân loại…

    Al học hành tiến bộ rất nhanh chóng khiến cho cha rất hài lòng. Ông Samuel thường cho con các món tiền nhỏ đủ mua dần từng cuốn sách hữu ích, nhờ thế Al đã say sưa với các tác phẩm như Ivanho của Scott, Robinson Crusoe của Defoe và Oliver Twist của Dickens. Nhưng tác giả mà Al ưa thích nhất là Victor Hugo và cậu thường kể lại cho các bạn nghe các câu chuyên đã đọc qua…

    Năm 10 tuổi, Al được cha cho cuốn sách toát yếu về Khoa Học của soạn giả Parker (School Compendium of Natural and Experimental Philosophy by Richard Green Paker). Trong cuốn sách toát yếu này, Paker đã giảng giải về máy hơi nước, máy điện báo, cột thu lôi, pin Volta… Cuốn sách đã trả lời Al rất nhiều điều mà từ trước, Al vẫn thường thắc mắc. Cuốn sách này đã dẫn đường cho Al tới phạm vi rộng lớn của Khoa Học và khiến cho cậu yêu thích môn Hóa Học”.

    Còn rất nhiều đoạn dài trong bài viết “Thomas Alva Edison, Nhà phát minh vĩ đại của thế kỷ XIX” của “Tài năng và đắc dụng” đã có công copy nguyên bản hoặc cắt ngắn lại từ trang http://vietscien…org, như những đoạn “phát minh ra máy hát”, “Phát minh ra đèn điện”, “Phát minh ra máy chiếu bóng”…

    Mai Khôi – Thanh Nguyên

  4. Thuykieu said

    Đây là hậu quả của việc xem nhẹ công bố quốc tế. Cứ “mẹ hát con khen” thì chỉ có thế là cùng, không thể khá hơn.

    Âu cũng là “hợp lí” bởi vì chủ nhiệm đề tài cấp nhà nước (mấy trăm triệu? mấy tỷ?) là

    GS kém cấp 6 – chưa giải được bài toán Pờ-La-To tổng quát-dùng kết quả sai về bài toán Pờ-La-To để được vinh danh (= gian dối) Đào Trọng Thi, Chủ nhiệm UB Quốc hội, Ủy Viên Hội Đồng Học Hàm Ngành Toán, nguyên hiệu trưởng, Gíam đốc ĐHQG, ….

    https://giaosudom.wordpress.com/2010/08/10/gs-kem-c%E1%BA%A5p-6-ch%C6%B0a-gi%E1%BA%A3i-d%C6%B0%E1%BB%A3c-bai-toan-p%E1%BB%9D-la-to-t%E1%BB%95ng-quat-dung-k%E1%BA%BFt-qu%E1%BA%A3-sai-v%E1%BB%81-bai-toan-p%E1%BB%9D-la-to-d%E1%BB%83-d%C6%B0/

    Chắc bây giờ nhiều người sẽ hiểu rõ hơn sự “lợi hại” của JIPV 😉

  5. Thuykieu said

    Tại sao phải đạo văn? He he he! Đạo văn sẽ nhanh chóng được các quyền lợi sau

    1/ Lấy tiền của dân một cách nhanh chóng, chả cần mất thời gian nghiên cứu gì cả, chỉ cần cắt dán là xong. Có bạc trăm, bạc tỷ và thời gian thì mặc sức mà ăn chơi. Tội gì nghiên cứu nghiêm túc chi cho mệt.

    2/ Có sách sẽ dễ xét lên GS hơn, tội gì k đạo. HĐHH đa số ỏm thì biết quái gì. Ta cứ đạo thoải mái!

    3/ Có sách đạo thì ai biết, nhưng tên ta sẽ được lưu truyền

    …..

    Ta phải đạo thui…

  6. Tuan Ngoc@ said

    “Tài năng và đắc dụng” đạo văn: PGS.TS Tung đổ cho GS.TS Lương
    Thứ tư, 01 Tháng 6 2011 14:01

    (GDVN) – PGS.TS Phạm Hồng Tung đồng chủ biên cuốn sách “Tài năng và đắc dụng” khẳng định, toàn bộ nội dung viết về những nhân vật như Bill Gates, Thomas Ava Edison…do vị Phó hiệu trưởng trường ĐHKH Tự Nhiên – GS Nguyễn Hoàng Lương phụ trách nghiên cứu và viết.

    Tin liên quan:

    *
    Sửng sốt: “Tài năng và đắc dụng” đạo văn trắng trợn
    *
    Xem những đoạn đạo văn của “Tài năng và đắc dụng”

    Liên quan đến việc cuốn sách “Tài năng và đắc dụng” được coi là nhánh của công trình khoa học cấp Nhà nước đã đạo văn hàng chục trang, sáng 1/6, phóng viên Báo Giáo dục Việt Nam đã có cuộc trao đổi với PGS.TS Phạm Hồng Tung, đồng chủ biên của cuốn sách. Ông Tung nhấn mạnh: “Về cuốn sách, bây giờ tôi không trao đổi bất cứ vấn đề gì với bạn. Và tôi cũng không quan tâm đến chuyện này nữa, tôi đang còn rất nhiều việc khác, người ta thích hiểu thế nào thì hiểu…”.
    PGS.TS Bùi Duy Cam, Hiệu trưởng trường ĐH KH Tự Nhiên: Trong nghiên cứu khoa học: Các cá nhân thực hiện phải chịu trách nhiệm.

    PGS.TS Bùi Duy Cam, Hiệu trưởng trường ĐHKH Tự Nhiên: “Trong nghiên cứu khoa học: Các cá nhân thực hiện phải chịu trách nhiệm”.

    GS.TSKH Mai Trọng Nhuận cũng khẳng định: Tôi đồng ý với quan điểm của GS.TSKH Đào Trọng Thi

    GS.TSKH Mai Trọng Nhuận cũng khẳng định: “Tôi đồng ý với quan điểm của GS.TSKH Đào Trọng Thi”

    PGS.TS Phạm Hồng Tung cũng cho biết thêm, toàn bộ nội dung viết về những nhân vật như Bill Gates, Thomas Ava Edison…do GS Nguyễn Hoàng Lương phụ trách nghiên cứu và viết. “Tôi không phụ trách phần này”, PGS.TS Tung nói.

    Sau khi được phóng viên báo Giáo dục Việt Nam cung cấp những văn bản, chứng cứ liên quan đến việc có nhiều người cho rằng nội dung trong cuốn “Tài năng và đắc dụng” đã đạo văn ở các cuốn sách khác, TS Tung vẫn khẳng định: “Tôi không có ý kiến gì thêm. Và cần thiết thì cứ hỏi GS.TSKH Nguyễn Hoàng Lương. Ai viết cái gì, phụ trách cái gì thì trách nhiệm của người đó…”.

    Trao đổi về vấn đề này, PGS.TS Bùi Duy Cam, Hiệu trưởng trường ĐH KH Tự Nhiên cho biết: GS Nguyễn Hoàng Lương về nhận công tác ở trường ĐH KH Tự Nhiên vào năm 2007. GS.TSKH Nguyễn Hoàng Lương hiện đang là Phó hiệu trưởng trường ĐHKH Tự Nhiên phụ trách các vấn đề về khoa học. Từ khi về công tác tại trường, GS.TSKH Nguyễn Hoàng Lương đã tham gia nghiên cứu nhiều đề tài khoa học ở trường.

    Trả lời câu hỏi của phóng viên về việc: các cán bộ, giảng viên đang công tác ở trường, nếu tham gia các công trình nghiên cứu khoa học, hoặc thực hiện các đề tài nghiêm cứu thì có phải báo cáo lên Ban lãnh đạo trường hay không? Và thầy Lương thực hiện đề tài nhánh của ĐH QG có báo cáo lên lãnh đạo ĐHKH Tự Nhiên không?, PGS.TS Bùi Duy Cam cho biết: “Có những công việc không nhất thiết phải báo cáo, và chuyện tham gia công tác nghiên cứu và thực hiện các đề tài khoa học là bình thường”.

    PGS.TS Bùi Duy Cam cũng khẳng định: “Những nội dung về nghiên cứu khoa học thì các cá nhân người thực hiện phải chịu trách nhiệm chứ cơ quan không chịu trách nhiệm ở trong những việc này”.

    Đánh giá về việc trong cuốn sách tài năng và đắc dụng có xếp Đặng Lê Nguyên vũ bên cạnh các vĩ nhân, PGS.TS Bùi Duy Cam đánh giá: “Việc các tác giải viết như thế này là hơi nhạy cảm, bởi đề tài như vấn đề này khó thực hiện, không đơn giản chút nào”.

    Báo Giáo dục Việt Nam cũng có buổi làm việc với GS-TSKH Mai Trọng Nhuận, Giám đốc ĐH QG Hà Nội. GS Nhuận cho biết: Hiện tại ông vẫn chưa gặp được 2 tác giả của cuốn sách nên chưa có thông tin chính thức. “Về tư cách là chủ nhiệm đề tài, Giám đốc ĐH QG ở thời điểm thực hiện đề tài là GS-TSKH Đào Trọng Thi, và GS Đào Trọng thi đã trả lời báo chí rồi, tôi đồng tình với quan điểm của GS-TSKH Đào Trọng Thi”_GS Nhuận cho biết thêm.

    GS.TSKH Mai Trọng Nhuận cũng khẳng định: “Từ trước đến nay, ở ĐHQG, tất cả các đề tài của các tác giả đem xuất bản cuốn sách nào, việc đúng sai thế nào thì cá nhân người đó hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước dư luận xã hội. ĐHQG không đứng ra bảo lãnh những trường hợp cá nhân như vậy.

    “Ở trường hợp này, ĐH QG không có trách nhiệm gì về việc 2 tác giải xuất bản cuốn sách “tài năng và đắc dụng” cả. ĐH QG chỉ chịu trách nhiệm đối với những tác phẩm mà chính mình xuất bản hoặc là những điều mình cam kết chịu trách nhiệm…”, GS.TSKH Mai Trọng Nhuận nói.

    Trong cuộc trao đổi với phóng viên báo Giáo dục Việt Nam trước đó, GS-TSKH Đào Trọng Thi đánh giá: “Ở đây có 2 vấn đề mà chúng ta cần phải phân biệt rõ và nhóm tác giả phải rút kinh nghiệm: Các tác giả đã chọn lựa ở đề tài nhánh và viết thành 1 cuốn sách có chủ đề mà nó không phù hợp với chủ đề chung của cái đề tài lớn. Nếu chỉ dừng lại ở từng tư liệu riêng lẻ thì nó là chuyện khác, thậm chí chẳng phải là những nhà doanh nhân mà một người bất kỳ nào đó trong xã hội, họ cũng đạt được một số những thành tựu, kể cả những em học sinh, những người nông dân bình thường thì chũng ta cũng có thể nghiên cứu được.

    Đề tài nghiên cứu của ĐH Quốc gia không đặt ra chủ đề là chọn ra 14 gương mặt tiêu biểu nhất thời hiện đại đâu?!. Bởi vậy, ở đây chắc là các tác giả đã lúng túng và bắt đầu “dựa dẫm”, mập mờ, “đánh tráo khái niệm”. Trong đề tài nghiên cứu của ĐH Quốc gia nó chẳng liên quan gì đến việc họ tự lọc ra một vài nhân vật rồi giới thiệu như là những nhân vật xuất chúng”.

    “Chúng tôi chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu những trường hợp riêng lẻ, thậm chí không hề đề cập đến con người cụ thể, nếu có đưa ra các ví dụ, dẫn chứng thì chúng tôi cũng chọn đưa ra những con người xuất chúng như Bác Hồ, Nguyễn Trãi… hoặc là trích dẫn những quan điểm của các nhân vật đó.

    Về phạm vi của đề tài, chúng tôi chỉ thực hiện những tiêu chí chung như: Khái niệm về nhân tài, lịch sử phát triển, quan điểm về nhân tài của Việt Nam, tiêu chí lựa chọn, phương thức, quy trình, các khái niệm người tài… một cách chung nhất chứ đâu có đi vào cụ thể các trường hợp được giới thiệu trong cuốn sách “Tài năng và đắc dụng

    “Việc nhóm tác giả này lại đi chọn ra một số người, rồi giới thiệu trong một cuốn sách mà bản thân các nhân vật được giới thiệu có sự khập khiễng trong tương quan. Như vậy có thể gây một sự phản cảm cho dư luận. Tôi cho rằng dư luận lên tiếng trong trường hợp này là phản ứng rất xác đáng…”_GS-TSKH Đào Trọng Thi nhấn mạnh.

    “Nếu các tác giả ấy là những người dũng cảm thì nên đứng ra chịu trách nhiệm về những chuyện đó, đừng có trốn chạy trách nhiệm và tìm chỗ nọ chỗ kia để “đánh tráo khái niệm”. Đó không phải là sự dũng cảm của những người làm khoa học. Mình có thể có những sai sót, có sự không chuẩn xác nhất định thì có thể cải chính và sửa chữa lại…”_ GSTSKH Đào Trọng Thi bức xúc.

    Bùi Khương

    http://giaoduc.net.vn/xa-hoi/40-tin-nong/3625-trong-nghien-cu-khoa-hc-cac-ca-nhan-thc-hin-phi-chu-trach-nhim.html

    http://xuandienhannom.blogspot.com/2011/06/luong-tung-lung-tung.html

    • Tuan Ngoc@ said

      Liên quan đến việc cuốn sách “Tài năng và đắc dụng” được coi là nhánh của công trình khoa học cấp Nhà nước đã đạo văn hàng chục trang, sáng 1/6, phóng viên Báo Giáo dục Việt Nam đã có cuộc trao đổi với PGS.TS Phạm Hồng Tung, đồng chủ biên của cuốn sách. Ông Tung nhấn mạnh: “Về cuốn sách, bây giờ tôi không trao đổi bất cứ vấn đề gì với bạn. Và tôi cũng không quan tâm đến chuyện này nữa, tôi đang còn rất nhiều việc khác, người ta thích hiểu thế nào thì hiểu…”.

    • Tuan Ngoc@ said

      Hoan nghênh Lâm Khang chủ nhân đã cập nhật tin tức về vụ “đạo văn” này! Thật xấu hổ khi GS.TS Nguyễn Hoàng Lương và PGS. TS Phạm Hồng Tung lại hiện nguyên hình là một phường ĂN CẮP CHỮ NGHĨA. Mà những công trình kiểu “Tài năng và đắc dụng” của Phạm Hồng Tung thì nhiều lắm. Cách đây vài năm, Tung từng ra cuốn sách “Khảo lược về kinh nghiệm phát hiện, đào tạo và sử dụng nhân tài trong lịch sử Việt Nam (nxb ĐHQG, Hà Nội, 2005), 178 trang. Nhiều người đã từng lên tiếng về trình độ và nhân cách không ra gì của Phạm Hồng Tung, nay qua cách trả lời của y, càng có thêm dẫn chứng sinh động: cùng là đồng chủ biên, sách lại không ghi trách nhiệm biên soạn của từng người – nghĩa là trước hết, tung phải cùng chịu trách nhiệm với ông Lương… thế mà khi sách bị vạch mặt đạo văn, Tung làm như vô can, kiểu tất cả là do ông Lương. Thật trơ trẽn và lố bịch. Các bác phụ trách trang web “Giáo sư dỏm Việt Nam” và “Viện Nghiên cứu đạo văn” nên đưa ngay Tung vào danh sách “Phó giáo sư dỏm và phản cảm”. Tung xứng đáng được “tôn vinh” như thế!

      http://xuandienhannom.blogspot.com/2011/06/luong-tung-lung-tung.html?showComment=1306975038419#c3504314276625695415

  7. vuhuy said

    http://giaoduc.net.vn/xa-hoi/40-tin-nong/4326-tai-nang-va-dac-dung-dam-xin-loi-thi-ho-con-co-long-tu-trong.html

    (GDVN)-“Khi bị lật tẩy đạo văn thì họ chỉ hy vọng là dư luận sẽ lắng xuống, lãng quên, để chờ mong thoát tội. Bởi trong sự việc này, các tác giả lên tiếng để thanh minh, để xin lỗi thì cũng chỉ là hình thức” – TS. Trịnh Hòa Bình (Viện Xã Hội học) đã đánh giá về sự im lặng của các tác giả là PGS.TS Phạm Hồng Tung và GS-TSKH Nguyễn Hoàng Lương, chủ biên cuốn Tài năng và đắc dụng

  8. Tuan Ngoc@ said

    “Tài năng và đắc dụng” đạo văn: Lãnh đạo ĐHQG né trách nhiệm?
    Thứ ba, 07 Tháng 6 2011 06:32

    (GDVN) – Xung quanh vấn đề trách nhiệm kiểm tra và xử lý vi phạm trong vụ việc cuốn sách “Tài năng và đắc dụng” của hai đồng tác giải là GS.TSKH Nguyễn Hoàng Lương và PGS.TS Phạm Hồng Tung bị phát hiện “đạo văn”, GS-TSKH Mai Trọng Nhuận, Giám đốc ĐHQG đã từ chối cung cấp thông tin và đề nghị: “phóng viên tự tìm hiểu”.

    Tin liên quan:

    “Tài năng và đắc dụng” đạo văn: “ĐHQG phải có trách nhiệm xử lý”
    Đạo văn có thể bị phạt tù đến 3 năm
    Thứ trưởng Bộ GD&ĐT: “Nếu đúng là đạo văn thì phải xử lý nghiêm”
    NXB Chính trị Quốc gia ‘đá bóng trách nhiệm’ sang tác giả đạo văn
    ‘Phải xem xét đạo văn như một tội phạm kinh tế’
    ‘Tài năng và đắc dụng’: ‘Đích thị là đạo văn rồi, chạy đâu cho thoát’
    “Tài năng và đắc dụng” đạo văn: PGS.TS Tung đổ cho GS.TS Lương
    Sửng sốt: “Tài năng và đắc dụng” đạo văn trắng trợn
    Xem những đoạn đạo văn của “Tài năng và đắc dụng”
    Đạo văn luận án tiến sĩ, phó chủ tịch Nghị viện châu Âu từ chức

    Nhưng cho đến thời điểm hiện tại, phía phía cơ quan quản lý các cán bộ này là ĐHQG vẫn chưa có bất cứ một động động thái nào để kiểm tra, xác minh, xử lý sự việc. Độc giải đang đặt ra các nghi ngờ rằng: Dường như Ban Giám đốc ĐHQG cố tình né tránh trách nhiệm giải quyết sự việc hay có ý bao che cho các cán bộ vi phạm đạo đức nghề nghiệp?
    Phó Giám đốc ĐHQG, PGS.TS Phạm Trọng Quát: Trách nhiệm kiểm tra, xử lý vụ việc là của ĐHQG

    Phó Giám đốc ĐHQG, PGS.TS Phạm Trọng Quát
    Sau rất nhiều lần liên hệ làm việc với Ban Giám đốc ĐHQG, phải đến chiều ngày 6/6, phóng viên Báo Giáo dục Việt Nam mới có buổi làm việc chính thức với Phó Giám đốc ĐHQG, PGS.TS Phạm Trọng Quát người phụ trách công tác chính trị – tư tưởng, hành chính, thi đua, thanh tra, kỷ luật cán bộ, sinh viên.

    Khi được hỏi về thông tin sự việc: phát hiện cuốn sách “Tài năng và đắc dụng” của hai đồng tác giải là GS.TSKH Nguyễn Hoàng Lương (Hiệu phó trường ĐHKH Tự Nhiên) và PGS.TS Phạm Hồng Tung (Phó Ban Công nghệ – ĐHQG) bị phát hiện “đạo văn”, PGS.TS Phạm Trọng Quát đã khẳng định rằng việc này thuộc trách nhiệm của ĐHQG. “Nhưng trong lĩnh vực này, có thể Ban Giám đốc ĐHQG sẽ phân công cho cụ thể một đồng chí lãnh đạo trong Ban giám đốc phụ trách giải quyết”.

    PGS.TS Quát cũng nhấn mạnh: “Sự việc này đã xảy ra được báo chí phát hiện thì chắc chắn ĐHQG phải giải quyết và làm rõ. Bản thân tôi cũng mới được nghe phản ánh về sự việc này…Nhưng hiện tại tôi cũng không biết là bên Ban giám đốc đã phân công cho cụ thể đồng chí nào trực tiếp giải quyết sự việc này chưa?”.

    Ngay sau đó, phóng viên Báo Giáo dục Việt Nam đã trực tiếp liên hệ với GS-TSKH Mai Trọng Nhuận, Giám đốc ĐHQG để nắm bắt thông tin về tiến trình giải quyết vụ việc. Tuy nhiên, GS-TSKH Mai Trọng Nhuận đã từ chối cung cấp thông tin về sự việc và đề nghị: “phóng viên tự tìm hiểu”.

    Trước đó, trong các cuộc trao đổi với phóng viên Báo Giáo dục Việt Nam, GS-TSKH Trần Văn Nhung, Tổng thư ký Hội đồng chức danh GS nhà nước và Thứ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo Nguyễn Thị Nghĩa đã khẳng định: “Cơ quan quản lý trực tiếp là ĐHQG phải có trách nhiệm xem xét, xử lý sự việc trên. Nếu đúng là có chuyện đạo văn thì phải xử lý kỷ luật nghiêm…

    Sự né tránh của lãnh đạo trường ĐHQG trong thời điểm này khiến cho nhiều người không khỏi nghi ngại về nguy cơ sự việc sẽ bị “chìm xuồng”. Dư luận đặt câu hỏi về trách nhiệm của lãnh đạo trường ĐHQG.

    Tư Khương

    http://giaoduc.net.vn/xa-hoi/40/4051.html

  9. datrach@gmail.com said

    Anh Tung này thì GS bên văn – sử – địa, cần đếch gì ISI, các bố cứ vặn vẹo. Nhưng cái anh Dạ Trạch – Nguyễn Hoàng Hải kia kìa, đồng tác giả cuốn sách đạo văn Tài Năng – ĐẮc dụng ấy, có cái publication list dài dài

    https://sites.google.com/a/hus.edu.vn/nguyenhoanghai/pubications

    em biết nhiều bài trong đó đạo của chỗ khác, nhưng chẳng hơi đâu mà tố cáo với tìm kiếm. Anh chị em nào có time thì cứ xoáy vào đấy là ra ngay mặt chuột thôi mà

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: