Tạp Chí GS Dỏm Việt Nam

Journal of Incompetent Professors in Vietnam – JIPV

Phòng giáo dục thường xuyên

Phòng giáo dục thường xuyên dành cho GS, PGS dỏm

Trưởng Phòng: Editor Tuan Ngoc@

view profile

Tạp Chí GS Dỏm Việt Nam - JIPV is a group administrator Tạp Chí GS Dỏm Việt Nam – JIPV says:

Mục đích: Giúp các GS, PGS dỏm trang bị lại những hiểu biết cơ bản về nghiên cứu khoa học, ý thức được thế nào là khoa học dỏm, khoa học nghiêm túc.


Ý kiến của một Nhà khoa học gửi cho JIPV: Tôi thấy “Phòng trưng bày những quà tặng mà Dỏm nhận được” rất hay và rất bổ ích cho GS, PGS dỏm. Hiện nay, thay vì tập trung nghiên cứu khoa học nghiêm túc phục vụ cho sự phát triển của đất nước, phần nhiều GS, PGS dỏm chỉ lo đi buôn: giảng vì tiền (vì tiền, không vì mục đích đào tạo) và chạy đề tài. Một hoạt động buôn bán cực kỳ nguy hiểm đang tiềm ẩn nguy cơ tàn phá đất nước của các GS, PGS dỏm là kiếm tiền thông qua đào tạo tại chức tại các trung tâm giáo dục thường xuyên, dân lập,….Nhằm giúp các GS, PGS dỏm trang bị lại những hiểu biết cơ bản về nghiên cứu khoa học, ý thức được thế nào là khoa học dỏm, khoa học nghiêm túc, tôi đề nghị đổi tên “Phòng trưng bày những quà tặng mà Dỏm nhận được” thành “Phòng giáo dục thường xuyên dành cho GS, PGS dỏm”. Xin cảm ơn. Xin chúc những vị anh hùng JIPV nhiều sức khỏe, tiếp tục giúp những nhà khoa học dỏm và bệnh hoạn của Việt Nam sớm phục hồi khả năng NCKH.
Originally posted at 9:02AM, 8 March 2010 PDT ( permalink )
Tạp Chí GS Dỏm Việt Nam – JIPV edited this topic 4 weeks ago.

view photostream

Tuan Ngoc@ says:

Ý kiến của GS Hồ Tú Bảo về công trình ISI (SCI, SCIE), kỷ yếu hội nghị. GS, PGS và học trò nên học cho biết:

www.sggp.org.vn/giaoduc/2010/1/217139/

Từ loạt bài Đào tạo tiến sĩ – “Chất” và “lượng”: Chất lượng, chất lượng và… không ngoài chất lượng
Thứ năm, 28/01/2010, 00:26 (GMT+7)

Sau khi báo SGGP đăng loạt bài Đào tạo tiến sĩ – “Chất” và “lượng” (ngày 25, 26 và 27-1) đề cập những bất cập trong công tác đào tạo đội ngũ giảng viên có học vị, học hàm cao nhất của hệ thống giáo dục Việt Nam, nhiều bạn đọc, đặc biệt là các nhà khoa học và các cấp quản lý, đã bày tỏ ý kiến ủng hộ quan điểm không thể chạy theo “lượng” mà quên “chất” và tiến sĩ (TS) phải đóng vai trò “đầu tàu” kéo theo sự phát triển khoa học, đào tạo của đất nước. Với nhiều góc nhìn mang tính xây dựng, dường như ai cũng kỳ vọng chất lượng đào tạo TS sẽ được cải thiện và chuẩn hóa theo đúng những tiêu chí quốc tế thông lệ.

Với quy định của Bộ GD-ĐT “Để được công nhận là TS, các nghiên cứu sinh (NCS) phải có ít nhất một bài đăng trên tạp chí khoa học hoặc kỷ yếu của hội nghị khoa học chuyên ngành nước ngoài, một bài đăng trên tạp chí khoa học chuyên ngành có uy tín trong nước do cơ sở đào tạo quy định…”, GS Hồ Tú Bảo (Viện Công nghệ Thông tin) cho rằng, đây là một tiêu chí quan trọng để chuẩn hóa chất lượng.

Tiêu chuẩn tạp chí khoa học

Nhiều nhà khoa học đầu ngành cũng nhấn mạnh, NCS phải có bài đăng tải trên các tạp chí quốc tế của từng lĩnh vực và đây chính là thước đo những kết quả nghiên cứu khoa học thuộc loại “hàng chất lượng cao”.

Theo một khảo sát, ước tính tất cả thầy trò và các nhà nghiên cứu của chúng ta trong 10 năm (1995-2004) đăng được 3.236 bài báo trên các tạp chí quốc tế xếp trong danh sách của ISI, trong đó chừng 800 bài hoàn toàn làm tại Việt Nam, tức khoảng 80 bài/năm. Giả sử mỗi bài báo trong các con số kể trên đều có ít nhất một trong số 5.279 giáo sư, phó giáo sư của cả nước vào năm 2004 là tác giả hay đồng tác giả, thì tính trung bình mỗi giáo sư, phó giáo sư trong 10 năm đó làm được hơn 1/2 bài ở tạp chí quốc tế (tức một bài trong gần 20 năm), và/hoặc khoảng 1/6 bài hoàn toàn làm trong nước.

GS Hồ Tú Bảo nhận định đó là những con số hết sức khiêm tốn so với lực lượng khoa học đông đảo của ta. Điều này nói lên ít nhất một điều, hoặc các nhà khoa học của ta chưa có thói quen viết và gửi bài đến các tạp chí quốc tế, hoặc chất lượng nghiên cứu của chúng ta chưa cao nên các kết quả chưa lọt được vào các tạp chí quốc tế. Trong điều kiện và tình hình nghiên cứu khoa học như vậy, câu hỏi làm sao để các NCS – với số lượng khoảng 1.000 người được nhận vào mỗi năm – có bài đăng ở tạp chí quốc tế thật sự là một thách thức rất lớn, mà theo nhiều ý kiến là một việc chưa có cách gì làm được.

Ngoài ra, theo GS Hồ Tú Bảo, lâu nay, “Hội nghị khoa học quốc tế” là một cụm từ dễ gây nhầm lẫn vì chúng rất… “thượng vàng hạ cám”, từ những hội nghị chất lượng rất cao mà mỗi bài tham luận được nhận đều là công bố của một khám phá quan trọng cho đến những hội nghị ai muốn gửi bài gì cũng được nhận, miễn là nộp đủ hội nghị phí. Do vậy, câu “hoặc có bài ở hội nghị khoa học chuyên ngành nước ngoài” thực sự chưa xác định.

Ngoài ra, chữ “hoặc” trong câu “bài đăng trên tạp chí khoa học hoặc kỷ yếu của hội nghị” cần được đổi thành chữ “và”. Cần khẳng định ngay ta chỉ chấp nhận kết quả nghiên cứu đăng ở các hội nghị quốc tế có chất lượng, và các hội nghị này cần do các chuyên gia trong ngành xác định.

Làm thế nào để nâng cao chất lượng đào tạo tiến sĩ?

Dường như nét nổi bật của đào tạo TS ở ta cho đến nay là một phần, có thể là phần rất lớn, người đã tốt nghiệp TS chưa được rèn luyện và làm nghiên cứu khoa học để đạt các kết quả nghiên cứu theo các chuẩn mực quốc tế thông thường. Vì vậy, chúng ta phải làm nhiều việc để có thể nâng chất lượng đào tạo TS.

GS Hồ Tú Bảo đề nghị, trước hết, cần xác định rõ về bản chất, mục tiêu và yêu cầu của đào tạo TS. Tuyển chọn chặt chẽ để chỉ đào tạo TS cho những người có động lực và khả năng nghiên cứu. Khi được chọn, những người này phải được tạo điều kiện để có thể phấn đấu vươn đến chuẩn mực quốc tế (như phải có bài ở các hội nghị quốc tế uy tín và được cấp ít nhất một lần kinh phí trong thời gian đào tạo để đi dự hội nghị quốc tế). Cần có các điều kiện và quy định thích hợp để chọn người hướng dẫn NCS, không bởi bằng cấp khoa học và chức vụ lãnh đạo mà nhất thiết phải bởi kết quả nghiên cứu khoa học hiện tại, bởi kết quả đã có trong việc hướng dẫn NCS vươn đến chuẩn mực quốc tế. Nếu người hướng dẫn chưa bao giờ công bố ở tạp chí quốc tế sẽ rất khó dẫn dắt NCS làm được điều này.

Để tránh nể nang và tiêu cực khi cho tốt nghiệp những luận án chưa đạt, dự kiến công khai các luận án và đánh giá là một việc khả thi và sẽ có tác dụng tốt. Tuy nhiên, việc đưa lên mạng các luận án đã bảo vệ chỉ là phần sau của việc đào tạo. Quan trọng hơn, cần phải tuân thủ chặt chẽ tiêu chuẩn về chất lượng của các luận án TS, như tiêu chuẩn dự định ban hành của Bộ GD-ĐT.

Có thể tham khảo và học tập một kinh nghiệm từ Trung Quốc. Gần đây phần lớn các trường đại học ở Trung Quốc quy định yêu cầu tối thiểu của một luận án TS các ngành khoa học tự nhiên và công nghệ là 2 bài báo trong các tạp chí hay hội nghị khoa học được xếp loại trong SCI (science citation index) hoặc EI (engeneering index).

Một giáo viên đại học Trung Quốc cho biết Trung Quốc có hàng ngàn tạp chí khoa học nhưng chỉ một vài chục được xếp loại trong SCI hay EI. NCS cứ việc theo các điều kiện cần này mà phấn đấu, chưa đủ thì chưa bảo vệ, và khi bảo vệ cũng tránh được sự nể nang và xuê xoa của những người đánh giá.

Có thể thấy rõ là chất lượng chung của đào tạo TS ở ta còn thấp so với mặt bằng chung của thế giới. Với toàn bộ năng lực đào tạo hiện nay, liệu chúng ta có thể đào tạo “nhanh, rẻ” mà lại “tốt” (theo yêu cầu đã quy định) cho “nhiều” TS (khoảng 10.000 đào tạo trong nước của kế hoạch 20.000 TS) trong 10 năm tới. Rõ ràng là không thể, và ta cần dứt khoát lấy chất lượng của đào tạo TS làm trọng.

Khoa học và nghiên cứu khoa học có những quy luật mà ta không thể quyết tâm một cách duy ý chí. Hậu quả của việc cho ra lò những TS chất lượng thấp là khôn lường. Những TS có chức có quyền nhưng chuyên môn yếu sẽ có nhiều khả năng là mầm mống của điều xấu. Chúng ta sẽ phải trả giá lâu dài nếu tiếp tục đào tạo TS chất lượng thấp như hiện nay hoặc quá nhấn mạnh về số lượng để có nguy cơ chất lượng ngày càng thấp hơn.

LINH AN – TIẾN ĐẠT
Posted 5 months ago. ( permalink )

view photostream

Tuan Ngoc@ says:

Theo ý kiến của GS Bảo thì HĐXHHD yêu cầu tối thiểu 3 bài ISI đối với một PGS bình thường ở Việt Nam là quá bèo, hơi bị xem thường, thậm chí quá bôi bát. Đối với GS thì yêu cầu tối thiểu 5 bài ISI thì khinh thường kinh khủng.

Đã như thế mà vẫn có nhiều dỏm. Đó là lí do tụt hậu của khoa học Việt Nam. Hình như các GS, PGS dỏm của ta tranh thủ hộp son “GS, PGS” để kiếm tiền hay sao ấy? Nếu như vậy thì chỉ biết ăn….

Ai chạm đến miếng ăn thì họ xúm vào bôi bát, nào là không hiểu, nào là ném đá, nào là động cơ chính trị,…… Thật buồn cười cho GS, PGS dỏm và đồng bọn sâu dân, mọt nước.
Originally posted 5 months ago. ( permalink )
Tuan Ngoc@ edited this topic 5 months ago.

view photostream

Tuan Ngoc@ says:

Trong bài
www.sggp.org.vn/giaoduc/2010/1/216813/

có đoạn “Có hay không việc “xã hội đen” can thiệp vào khoa học?”.

Trời! Hèn chi! Ghê quá! GS, PGS dỏm là bọn xã hội đen. Ai nói chúng dỏm, không cẩn thận là bị chúng chém ngay.
Posted 5 months ago. ( permalink )

view photostream

Tuan Ngoc@ says:

Ở đây tôi xin giới thiệu đánh giá của một số Nhà khoa học cũng là các Bloggers về hoạt động của Hội đồng xét học hàm dỏm, để mọi người có cái nhìn khách quan:

Chuong: Tôi thử tìm kiếm thông tin bài viết của tôi trên ISI Web of Knowledge. Tuy nhiên trong kết quả tìm kiếm thì phân nửa là proceedings, mà cái này cũng chỉ là conference paper thôi. Như vậy việc thỏa mãn “số lượng công bố ISI <= 03” vẫn còn quá dể dàng vì tối thiểu chỉ cần có có 3 proceedings được ISI liệt kê là được. Một đề tài với 1 ít cải tiến thì hoàn toàn có thể đăng được trong nhiều conferences, trong khi theo tôi hiểu ý tác giả của Flickr account trên muốn nhấn mạnh đến 3 journal papers.

Muốn có 1 journal paper thì tác giả phải có 1 công trình tương đối mới mẽ trong lãnh vực của mình, mặc dù cũng có nhiều người chỉ có journal papers với kết quả tàm tạm mà thôi. Những công trình tàm tạm như vậy thì cũng không khác gì tốt nghiệp với kết quả học tập đạt điểm 5, nên cũng không có gì là đáng tự hào.

Việc phong tiến sĩ, phó giáo sư và giáo sư dựa trên những tiên chuẫn dễ dàng và không thuộc lãnh vực chuyên môn thì chỉ ngày càng đưa Việt Nam xuống đáy của thế giới chứ làm sao mà lên ngang hàng được. Nhìn vào phân nữa danh sách “đề cử” của Flickr account trên là cũng đủ thấy hết hồn.

weirdo619: Nếu Tài liệu in tiếng Nga không có trên ISI tức là tư liệu đó không có giá trị khoa học, không đáng tham khảo, như tài liệu khoa học in ấn ở VN đó thôi. Đáng tiếc, nhưng đó là một thực tế, phải chấp nhận dù không muốn.

Đông A: Và tôi cũng viết rằng “tiêu chí của hội đồng phong học hàm dỏm này khác với tiêu chí của hội đồng chức danh GS nhà nước”, có nghĩa là theo một nghĩa nào đó thì tiêu chí để được phong chữ “dỏm” này “cao hơn” tiêu chí phong học hàm của hội đồng chức danh GS nhà nước. Nhưng tiêu chí phong chữ “dỏm” này, theo như tôi thấy, là tiêu chí rất thấp, đã tính tới Việt Nam là nước đang phát triển, khoa học và công nghệ còn lạc hậu và tụt hậu so với các nước trên thế giới, đồng thời đó cũng là tiêu chí khả thi trong tình hình hiện tại ở Việt Nam.

Thực sự thì tôi không rõ có ân oán giang hồ gì không giữa PhDVN và Flickr, nhưng tôi cảm thấy PhDVN thì quá “hữu”, còn Flickr thì thiên “tả”. Nhưng bác muốn biết chuyện gì đang xảy ra trong giới hàn lâm VN thì tôi có thể tóm tắt như sau, theo cảm nhận chủ quan của riêng cá nhân tôi, còn thực tế có đúng như cảm nhận của tôi hay không thì tôi không đảm bảo chắc chắn:

Hiện nay trong giới hàn lâm trong nước đang hình thành 2 dòng chính, đấu tranh rất gay gắt và quyết liệt với nhau. Cuộc chiến này không biểu hiện trên truyền thông, bên ngoài nhìn vào dường như rất phẳng lặng hay cùng lắm chỉ nổi vài bong bóng. Một dòng cho rằng khoa học VN vẫn đang OK, không đến nỗi nào, chỉ cần tăng kinh phí và nhân lực là OK, tôi gọi dòng này là A. Dòng kia cho rằng khoa học VN đang be bét, và nỗi be bét này là do văn hóa khoa học lệch chuẩn và xuống cấp, tiền bạc là một phần nhưng không phải là yếu tố quyết định, và văn hóa khoa học lệch chuẩn và xuống cấp đó cũng là một trong những nguyên nhân tạo ra “chảy máu chất xám”, dẫn đến hao hụt nhân lực, có đổ bao nhiêu tiền vào cũng bằng thừa, tôi gọi dòng này là B. Cuộc đấu tranh này đã manh nha từ 10 năm trước. Đến tận năm 2009 dòng B mới chiến thắng ở chương trình nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực khoa học tự nhiên. Trên các phương diện khác như học hàm, hay các chương trình nghiên cứu khác như chương trình KC dòng A vẫn chủ đạo, tuy năm ngoái, 2009, quy định học hàm đã có một nhượng bộ cho dòng B, đó là tăng điểm công trình khoa học trên ISI lên gấp đôi. Đại khái là như vậy. Có nhiều điểm người ngoài không biết, ví dụ trước năm 2007 để trở thành một nghiên cứu viên cao cấp bắt buộc phải là đảng viên (yêu cầu này không tường minh, được thể hiện qua yêu cầu bằng lý luận chính trị cao cấp) hay “lách luật” bằng học hàm GS. Hiện nay yêu cầu bằng lý luận chính trị cao cấp đã bị bãi bỏ, tuy một hình “yếu hơn” vẫn còn tồn tại là bằng quản lý kinh tế chính trị gì đấy. Đây cũng là một thành quả đấu tranh của dòng B.

Khi đã thống nhất được văn hóa khoa học chuẩn thì nảy sinh ra văn hóa ngành. Thực ra chiến thắng của dòng B ở chương trình nghiên cứu cơ bản là tạm thời thống nhất được văn hóa khoa học chuẩn trong lĩnh vực tự nhiên, tức là cũng là một thứ văn hóa ngành, nhưng là ngành rộng. Khoa học xã hội vẫn nằm ngoài cải cách. Một số ngành nhỏ như khoa học máy tính, toán … có đòi hỏi một số lệch chuẩn khỏi văn hóa khoa học tự nhiên chuẩn, và gọi đó là văn hóa ngành. Điều này dẫn đến nguy cơ là mỗi ngành có văn hóa ngành, và ngành nọ nhìn ngành kia, dẫn đến quay về như cũ như dòng A. Hiện tại có một thỏa thuận mỗi ngành có một số điểm văn hóa ngành lệch chuẩn chung, nhưng sự lệch chuẩn này không quá lớn để phá vỡ chuẩn chung và chấp nhận được trong toàn lĩnh vực tự nhiên. Đại loại là như vậy. Nhưng vấn đề học hàm vẫn là vấn đề đang đấu tranh. Tiêu chí học hàm hiện nay theo quan điểm của dòng B là lệch chuẩn, và chính vì vậy mà người xứng đáng được thì bị gạt ra, còn người không xứng đáng thì lại được (một ví dụ điển hình là có một PGS ở Việt Nam có số lượng công bố khoa học trên ISI vào thuộc loại nhiều nhất ở Việt Nam, cỡ 8, 9 chục bài gì đấy, 3 lần nộp đơn làm GS đều bị gạt ra). Tôi nghĩ trang Flickr có lẽ cũng nằm trong cuộc đấu tranh này.

Chắc chắn các bác nhà báo không phải là ngoài cuộc. Tình hình khoa học Việt Nam như vậy (các kiểu vĩ đại, bộ óc thế kỷ…) là có phần đóng góp không nhỏ của các nhà báo. Không chỉ chuyện “nổ” không thôi mà còn cả chuyện PR lấy điểm thăng quan tiến chức nữa. Báo chí đừng có mà tưởng bở là vô can.

Trang Flickr có giải thích về tiêu chí 3 bài cho PGS và 5 bài cho GS. Nhưng tôi có thể nói rằng tiêu chí này là tiêu chí khả thi ở Việt Nam, không có gì là cao. Chương trình nghiên cứu cơ bản đã yêu cầu các đề tài trong 2 năm phải có ít nhất 2 bài báo trong danh sách của ISI. Như vậy trung bình 1 năm 1 bài báo. Như vậy 1 chủ nhiệm đề tài của chương trình nghiên cứu cơ bản chỉ cần 3 năm hay 5 năm là có 3 bài báo hay 5 bài báo.

Về tiêu chí PGS/GS của hội đồng học hàm nhà nước đã từng có ý kiến rằng cần phải yêu cầu 1/2 tổng số điểm cho PGS/GS là công trình trong danh sách ISI. Tiêu chí này còn cao hơn nhiều cái 3 điểm và 5 điểm trên, vì yêu cầu cho PGS/GS kiêm nhiệm là 10 và 20 điểm tương ứng, và 1 bài báo là 1 điểm chia cho tổng số tác giả bài báo (năm 2009, 1 bài báo được 2 điểm). Nếu trung bình 1 bài báo có 2 tác giả, thì ý kiến kể trên yêu cầu để được là PGS/GS là 10 bài và 20 bài tương ứng (tính theo năm 2009 là 5 bài và 10 bài tương ứng).

Việc lập ra danh sách như vậy tôi thấy cũng có tác dụng nếu truyền thông VN đưa tin. Không phải vấn đề ai dỏm, ai dốt, ai kém ở đây, mà thông qua cái danh sách đấy người ta thấy sự lố bịch trong giới học thuật ở VN và đặt câu hỏi về tiêu chí học hàm của hội đồng GS nhà nước. Tiêu chí như thế nào mà để dẫn đến tình thế nực cười như thế? Đấy là một tác dụng. Tác dụng thứ hai, qua danh sách như vậy, những ai còn ủng hộ quan điểm tất cả các kiểu công bố tây, ta, hội nghị, đều như nhau, sẽ phải cảnh tình bởi vì nếu họ cứ tiếp tục ủng hộ như vậy thì có khả năng họ sẽ tiếp tục bị vào cái danh sách dỏm đấy. Bia đá có thể mòn chứ bia miệng thì sống dai lắm.

Về chuyện họ có phớt lờ hay không thì đấy là chuyện của họ, tôi không biết. Nhưng cá nhân tôi có góp ý cho họ ở danh sách công trình của Bùi Thế Duy và họ có chỉnh sửa lại. Về Đào Trọng Thi tôi có góp ý họ thận trọng, nhưng họ vẫn giữ quan điểm của họ và tôi thấy đấy cũng bình thường, nhưng tôi có cho rằng đấy là điều đáng tiếc và không phải. Bác Tiến Dũng có nói là tra trên ISI được 5 bài của Đào Trọng Thi nhưng bác ấy không đưa dẫn chứng nên cũng khó nói lắm, vì tôi có tra công trình của Đào Trọng Thi trên mathnet, tôi không thấy có cơ được cả 5 bài (tôi đã cho các tạp chi Doklady math, Functional analysis vào ISI), cỡ 4 bài thôi.

Gọi là bôi nhọ thì cũng không đúng lắm vì anh có bao nhiêu công bố thì họ tra ra như thế, chứ có phải anh có nhiều công bố mà họ nói anh có ít hay dìm công bố của anh đâu. Điều không phải của Flickr, theo quan điểm của tôi, là họ không tính đến yếu tố lịch sử, xét quá khứ như trong hiện tại. Chính vì vậy mà tôi gọi họ là thiên tả. Bất kể họ có mục tiêu và động cơ như thế nào, việc làm của họ cho mọi người biết những nhân vật của công chúng đấy thực sự có bao nhiêu công bố khoa học, và số lượng những công bố đấy ở mức như thế nào, là điều có ý nghĩa. Ít nhất nhiều người chưa biết, cứ tưởng thế nọ thế kia, như các nhà báo chẳng hạn, những người có thể sẽ viết những bài tụng ca, sẽ có điểm nhìn tham chiếu và thận trọng về bài viết của mình. Việc làm của họ cũng sẽ có tác động về đánh giá các tiêu chí của hội đồng học hàm.

VN đang hội nhập với thế giới, và văn hóa khoa học không thể không hội nhập với thế giới. Xem xét các công bố của Thái Lan chẳng hạn, sẽ thấy không phải toán, lý là các lĩnh vực có số lượng công bố đứng đầu, trái lại là engineering, y sinh. Như vậy công bố trong lĩnh vực engineering hay y sinh không phải là khó hơn công bố trong lĩnh vực toán lý. Khoa học Thái Lan cũng khởi đầu từ con số 0 như Việt Nam. Công bố của VN trong lĩnh vực y sinh cũng lớn hơn công bố của VN trong lĩnh vực toán hay lý. Công bố của VN trong lĩnh vực engineering còn thấp, nhưng những người VN có công bố trong lĩnh vực này có nói là hội nhập được theo công bố trên ISI. Trong cùng 1 lĩnh vực tại sao lại có người có công bố ổn thỏa, còn người không có công bố ổn thỏa thì lại nói là do điều kiện nghiên cứu này nọ? Điều kiện nghiên cứu của VN còn kém, kinh phí hạn chế thì tiêu chí công bố của VN sẽ yêu cầu ít hơn, ví dụ như người ta yêu cầu 3 bài thì mình yêu cầu 1 bài chẳng hạn, nhưng không thể không theo những chuẩn mực như trên thế giới. Tự tạo cho mình những ngoại lệ, đi ngược với chuẩn mực mà thế giới đang vận hành, là tự bóp chết nền khoa học của đất nước.

Linh: Hai cái link của bác Xuân Lê tôi đọc thấy buồn cười.
Link thứ nhất thì viết như sau: ” Các vị đấu tố ai thì đấu tố cho đáng. Đằng này mấy người phụ nữ VN vừa quay cuồng chăm chồng chăm con, bị cả họ nhà chồng xét nét, bị cả xã hội săm soi vừa lo nghiên cứu khoa học, mới được có cái chức danh để động viên thôi mà các vị cũng lôi ra ném đá hằn học quá, thật chả xứng danh nam nhi chút nào.”

Đầy tinh thần 8/3 bất diệt, trịch thượng và sexist. Hóa ra chức danh giáo sư hay PGS cho các nữ khoa học gia là để “động viên” họ “giỏi việc nước, đảm việc nhà”?

Link thứ 2 thì phỏng đoán hàm hồ với tinh thần quy nguồn gốc xuất thân, phát hiện thằng phản động. Trích “Cuối bài viết có một chữ ký lăng mạ ĐCS VN mà tôi đã không copy lại thể hiện một thái độ hết sức hằn học với chế độ hiện tại. Thêm nữa, chuyện trang đó chuyên săn lùng các vị lãnh đạo cấp cao có mác GS cũng góp phần tăng thêm độ chính xác của kết luận này.”

Vấn đề cần phản biện đây là những sai sót, bất hợp lý gì trong việc phong PGS, GS dỏm của nhóm Flickr hay việc này sẽ gây ảnh hưởng tốt hay xấu tới khoa học VN. Đằng này các bạn “phản biện” trên phdvn (trong hai ý kiến bác đưa link) thì tập trung vào việc tấn công xuất xứ một cách rất thiếu cơ sở, suy đoán rằng chúng nó đang tấn công chế độ, bêu xấu Đảng và các vị lãnh đạo cao cấp. Hoặc là vuốt trán kiểu chức danh GS cho cán bộ khoa học nữ là để động viên chị em, mà bọn Flickr còn phê phán phụ nữ chứng tỏ bọn nó hẹp hòi.

PhD mà chỉ tấn công cảm tính, nhìn đâu cũng ra thế lực thù địch, phản biện không dựa vào logic và fact như thế thì cũng hơi buồn cười.

Tất nhiên, nhiều phê bình khác của nhóm Flickr cũng cảm tính và thiếu rõ ràng nhưng đó lại là một việc khác.

Đông A: Việc sử dụng bất cứ một bibliometrics nào để đánh giá năng lực khoa học đều có nhược điểm, bởi vì trong khoa học luôn có những outlier, tức là những trường hợp ngoại lệ đặc biệt. Nhược điểm SCI là điều rất dễ thấy: các tạp chí trong SCI không đồng đều. Đề cao SCI sẽ dẫn đến 2 hiệu ứng: một là tạp chí quốc gia không có cơ hội phát triển, hai là chạy theo số lượng công bố ở những tạp chí làng nhàng trong SCI, hơn là nghiên cứu khoa học theo đúng nghĩa thực sự của nó là đi tìm cái đẹp. Đây là những nhược điểm mà những người ủng hộ chủ trương cải cách văn hóa khoa học ở Việt Nam đều đã biết và đã lường trước. Nhưng hiện trạng của khoa học Việt Nam hiện nay không còn có con đường nào khác tốt hơn sử dụng bibliometrics để chấn chỉnh và chấn hưng văn hóa khoa học vốn đã lệch chuẩn và xuống cấp. Biện pháp này có người gọi là “bá đạo”. Bá đạo là giai đoạn đầu, sau bá đạo sẽ tới giai đoạn vương đạo.

Một số nhà khoa học Trung quốc phê phán SCI bởi vì Trung quốc có 5000 tạp chí mà chỉ có hơn 100 tạp chí có mặt trong SCI. Điểm này dễ hiểu. Tình hình tạp chí khoa học của Việt Nam chưa đạt tới mức cả về chất lượng lẫn số lượng như ở Trung Quốc. Đấy là điểm thứ nhất. Điểm thứ 2, Trung Quốc áp dụng SCI từ thập niên 80, và như vậy đã được hơn 20 năm. Phải thấy rằng trong 20 năm đấy nền khoa học của Trung Quốc đã phát triển rất nhanh và rất mạnh. Thành công của khoa học Trung Quốc có thể có nhiều nguyên nhân, nhưng không thể không thấy trong đấy có vai trò của SCI. Bây giờ nền khoa học lớn mạnh của Trung Quốc đã cảm thấy SCI gò bó hay bộc lộ nhược điểm là điều dễ hiểu. Việt Nam khác Trung Quốc ở chỗ là Việt Nam chưa bao giờ sử dụng SCI. Mãi tận năm 2009, sau gần cả chục năm đấu tranh, SCI mới được áp dụng ở trong duy nhất một chương trình nghiên cứu. Nếu SCI áp dụng rộng rãi ở Việt Nam thì ít nhất phải 20 năm sau mới bộc lộ hạn chế của nó. Mặc dù SCI có nhược điểm và chỉ trích, nhưng nó vẫn được nền khoa học Trung Quốc hiện nay sử dụng, tuy không sử dụng SCI như một công cụ độc tôn. Việt Nam áp dụng SCI sau các nước khác và hoàn toàn có thể học được kinh nghiệm của các nước đi trước.

Đông A: Việc tra cứu công bố của người Việt trong SCI không dễ. Nhưng ở VN có cái lạ là rất ít GS/PGS công khai danh sách công bố khoa học của mình. Hiện tại mới chỉ thấy một số nơi ở Việt Nam công khai danh sách công bố khoa học. Nếu các GS/PGS công khai danh sách công bố khoa học của mình thì việc tra cứu trong danh sách đó có bao nhiêu bài trong SCI không có khó khăn gì.

Tôi thấy trang Flickr cho phép mọi phản biện. Vậy ai thấy trong danh sách đấy có sai sót gì thì cứ nêu ra. Việc sửa sai số lượng công bố khoa học không có khó khăn gì. Vấn đề này không phải là vấn đề nguyên tắc.
Originally posted 5 months ago. ( permalink )
Tuan Ngoc@ edited this topic 5 months ago.

view photostream

Tuan Ngoc@ says:

Tôi rất đồng ý với ý kiến cuối cùng của Nhà vật lí Đông A: Việc tra cứu công bố của người Việt trong SCI không dễ. Nhưng ở VN có cái lạ là rất ít GS/PGS công khai danh sách công bố khoa học của mình. Hiện tại mới chỉ thấy một số nơi ở Việt Nam công khai danh sách công bố khoa học. Nếu các GS/PGS công khai danh sách công bố khoa học của mình thì việc tra cứu trong danh sách đó có bao nhiêu bài trong SCI không có khó khăn gì.

Tôi thấy trang Flickr cho phép mọi phản biện. Vậy ai thấy trong danh sách đấy có sai sót gì thì cứ nêu ra. Việc sửa sai số lượng công bố khoa học không có khó khăn gì. Vấn đề này không phải là vấn đề nguyên tắc.

Mọi việc rõ như ban ngày mà các dỏm và học trò không đồng ý thì không biết họ thuộc dzạng gì?
Posted 5 months ago. ( permalink )

view photostream

sieu_giaosu says:

@ All: Theo ý kiến của bác Tuan Ngoc@ chuyển ý kiến này sang đây. Xin lỗi, đành spam mấy bác hai lần vậy.
Gần đây được một bạn đang công tác ở một trường đại học cho biết tiền NCKH của các trường ĐH ở VN thống kê khoảng chừng 60 -120 tỷ /1 trường trong 15 năm. Kinh phí này không nhỏ, nhưng kết quả chẳng thấy một công bố nào trên tạp chí quốc tế cả, toàn là tự tung hô với nhau và tập trung cho các bác GS va PGS (d và rd). Nghĩ mà thấy tội cho dân VN phải đi đóng thuế để đóng góp cho các bác làm khoa học dỏm này quá đi. Mỗi lần hỏi mấy bác GSrd &PGSd đã có bài nào quốc tế chưa, thì các bác toàn chống chế bảo là nghiên cứu ứng dụng. Thật ra kết quả chẳng thấy ứng dụng gì cả toàn làm lại cái họ đã làm, rồi sửa qua sửa lại một chút và thêm hàng chữ nghiên cứu trong điều kiện VN! (giời ạ)
Với số tiền và kiểu mần ăn như thế, thì thà đừng nghiên cứu gì hết, mà lấy tiền đó đi mua “Bí quyết công nghệ” ở nước ngoài đôi khi còn thấy có ứng dung và có lợi hơn.

@ Cho nên việc các Bác đang làm trên trang này là rất có ý nghĩa đối với những người đang đóng thuế như chúng ta.
Posted 5 months ago. ( permalink )

view photostream

Tạp Chí GS Dỏm Việt Nam - JIPV is a group administrator Tạp Chí GS Dỏm Việt Nam – JIPV says:

sieu_giaosu:

“Gần đây được một bạn đang công tác ở một trường đại học cho biết tiền NCKH của các trường ĐH ở VN thống kê khoảng chừng 60 -120 tỷ /1 trường trong 15 năm. Kinh phí này không nhỏ, nhưng kết quả chẳng thấy một công bố nào trên tạp chí quốc tế cả, toàn là tự tung hô với nhau và tập trung cho các bác GS va PGS (d và rd). Nghĩ mà thấy tội cho dân VN phải đi đóng thuế để đóng góp cho các bác làm khoa học dỏm này quá đi. Mỗi lần hỏi mấy bác GSrd &PGSd đã có bài nào quốc tế chưa, thì các bác toàn chống chế bảo là nghiên cứu ứng dụng. Thật ra kết quả chẳng thấy ứng dụng gì cả toàn làm lại cái họ đã làm, rồi sửa qua sửa lại một chút và thêm hàng chữ nghiên cứu trong điều kiện VN! (giời ạ).”
Originally posted 5 months ago. ( permalink )
Tạp Chí GS Dỏm Việt Nam – JIPV edited this topic 5 months ago.

view photostream

Tạp Chí GS Dỏm Việt Nam - JIPV is a group administrator Tạp Chí GS Dỏm Việt Nam – JIPV says:

Vì sao khoa học Việt Nam chưa phát triển?

Kinh phí cho khoa học từ ngân sách nhà nước nay đã vượt 400 triệu USD/năm. Thế nhưng, các nhà khoa học Việt Nam chỉ độc lập đứng tên công bố quốc tế bình quân 80 bài báo khoa học/năm trong suốt 10 năm qua…

“Sử dụng mọi thước đo khách quan, dường như nền khoa học và công nghệ của Việt Nam là một thất bại…”, báo cáo của ĐH Havard đã nhận định như thế về nền khoa học Việt Nam. TS Phạm Đức Chính, Viện Cơ học (Hà Nội) phân tích thêm về sự yếu kém của khoa học nước nhà.

Trên trường quốc tế, trình độ và năng lực của các nhà khoa học và cả các quốc gia được đánh giá trước tiên qua số bài báo công bố trên các tạp chí khoa học chuẩn mực quốc tế, và số bằng phát minh, sáng chế được cấp bởi các cơ quan quốc tế có uy tín.

Viện Thông tin khoa học (Institute for Scientific Information – ISI, website: www.isinet.com), có trụ sở tại Mỹ đã tiến hành các thống kê trên cơ sở gần mười ngàn tạp chí khoa học tiêu biểu được chọn lọc trong tổng số hơn một trăm ngàn tạp chí đủ loại trên thế giới.

Chỉ mới góp… một chút với khoa học quốc tế!

Mô tả ảnh.
TSKH Phạm Đức Chính
TS Phạm Đức Chính sinh năm 1958 tại Nam Định. Tốt nghiệp ĐH Bielorutxia (Minsk, Liên Xô) năm 1981. Bảo vệ luận án tiến sĩ năm 1995, tiến sĩ khoa học (1996) tại Hà Nội. Công tác tại Viện Cơ học thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam từ năm 1992 đến nay.

Theo ISI, trong vòng 11 năm, từ tháng 1/1997-12/2007, các nhà khoa học Việt Nam thuộc 17 ngành (y học lâm sàng; vật lý; động, thực vật học; toán; kỹ thuật; sinh học và hoá sinh; hoá; nông nghiệp; vi sinh; môi trường; khoa học vật liệu; miễn dịch học; dược; sinh học phân tử và di truyền; khoa học thần kinh; toán; kinh tế) đã công bố tổng cộng 4.667 bài báo khoa học trên các tạp chí quốc tế chuẩn mực.

Trong khi đó, số công bố quốc tế ISI các ngành của Thái Lan là 20.672 bài báo; Malaysia: 13.059; Hàn Quốc: 203.637. Riêng Trung Quốc, trong khoảng thời gian nói trên, các nhà khoa học nước này đã công bố tới… 508.561 bài báo.

Từ các con số trên có thể thấy rằng các công bố quốc tế đến từ tất cả các lĩnh vực, và chủ yếu là từ các lĩnh vực khoa học ứng dụng, chứ không phải là đặc thù riêng của các lĩnh vực lý thuyết như Toán hay Vật lý – như ngụy biện của một số người ở ta.

Căn cứ vào các con số nói trên, dễ dàng thấy rằng các công bố quốc tế của Việt Nam là rất yếu.

Trong cùng khoảng thời gian nhưng các nhà khoa học Việt Nam chỉ công bố được số bài báo khoa học bằng 1/3 so với Malaysia (trong khi số dân nước ta lớn hơn 3 lần số dân Malaysia), 1/5 số bài của Thái Lan, dưới 1/11 của quốc đảo Singapore, 1/45 của Hàn Quốc, 1/110 của Trung Quốc (số dân VN bằng 1/16 TQ).

Xét riêng về công bố quốc tế từ nội lực (tự ta làm được) – sự tụt hậu của chúng ta lại càng lớn hơn.

Cụ thể, gần nửa số bài của Thái Lan là do các nhà khoa học Thái Lan viết và đứng tên tác giả. Trong khi đó, có đến 80% bài báo khoa học của các tác giả Việt Nam công bố trên các tạp chí khoa học quốc tế là từ “hợp tác quốc tế”.

Mô tả ảnh.
Nhìn vào biểu đồ, Việt Nam đứng ở cuối bảng khi so sánh với các nước Malaysia; Thái Lan; Hàn Quốc; Trung Quốc về số bài báo khoa học đã công bố quốc tế trong 11 năm qua (1/1997-12/2007).

Điều đó cho thấy các nhà khoa học của chúng ta vẫn còn phải dựa nhiều vào hỗ trợ quốc tế (về chuyên môn, phương tiện, hoặc tài chính).

Khả năng sáng tạo công nghệ của một quốc gia được đánh giá qua số lượng bằng sáng chế được cấp bởi những cơ quan có uy tín trên thế giới. Trong những năm qua chúng ta có quá ít sáng chế được đăng ký để có thể có được các so sánh thống kê, ngay cả với các kết quả vốn đã rất khiêm tốn của “hàng xóm” Đông Nam Á của chúng ta.

Vào năm 1997, số bằng sáng chế được cấp ở Mỹ đối với người Mỹ là 80.295, Nhật: 30.841, Hàn Quốc: 2.359, Singapore: 120, Trung Quốc: 3.100, Malaysia: 23, Thái Lan: 13, Philippin: 8. Trong khi đó, số bằng sáng chế của người Việt chỉ là 1 – theo nhà nghiên cứu Đặng Mộng Lân. Trong năm 2002, Việt Nam chỉ đăng ký có 2 bản quyền với Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO).

Không thiếu tiền, chỉ ngại tư duy lạc hậu

Tư duy nào đã cản trở bước tiến tới hội nhập của khoa học VN những năm qua? Không ít người thường tìm mọi cách lảng tránh các chuẩn mực khoa học nghiêm túc và khách quan với ngụy biện: Chúng ta còn nghèo, trình độ chung còn thấp, việc thực hiện các đề tài “nghiên cứu ứng dụng” không đòi hỏi phải có công bố quốc tế như một số “nghiên cứu lý thuyết” ?

Sử dụng mọi thước đo khách quan, dường như nền khoa học và công nghệ của Việt Nam là một thất bại… Trong năm 2002, Việt Nam chỉ đăng ký có 2 bản quyền với Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO).
… Năm 2006, các nhà nghiên cứu của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST) đăng được 41 bài báo khoa học trên các tạp chí quốc tế. Cũng trong năm đó, chỉ riêng các nhà nghiên cứu của Trường Đại học Phúc Đán ở Thượng Hải đã đăng được 2.286 bài trên các tạp chí quốc tế.

Nguồn: Báo cáo của nhóm chuyên gia ĐH Havard “Lựa chọn thành công: Bài học từ Đông Á và Đông Nam Á cho tương lai của Việt Nam – Một khuôn khổ chính sách phát triển kinh tế – xã hội cho Việt Nam trong giai đoạn 2011–20201”. HARVARD UNIVERSITY – JOHN F. KENNEDY SCHOOL OF GOVERNMENT – CHƯƠNG TRÌNH CHÂU Á
Lập luận đó vẫn cứ được bám giữ trong nhiều năm, bất chấp nhiều thay đổi tích cực của đất nước thời gian qua.

Một số cá nhân và cơ quan khoa học thường lấy lý do là họ nghiên cứu ứng dụng để lảng tránh chuẩn mực quốc tế khách quan (?). Nhưng khi đề cập tới Nghị định 115 đặt cơ sở tự trang trải cho các hoạt động ứng dụng, với cơ chế có lợi cho các nhà khoa học làm ứng dụng thật sự, thì họ đồng loạt kêu rằng họ làm nghiên cứu cơ bản và cần được bao cấp.

Nhiều đề tài nghiên cứu khoa học của chúng ta, kể từ các đề tài lớn cấp bộ ngành và cấp Nhà nước, thực chất chỉ là tập hợp lại các tài liệu đã có ở trong và ngoài nước, áp dụng công nghệ đã có, lắp các số liệu đầu vào các chương trình do mua hoặc xin được của nước ngoài để tính… Thế nhưng, những việc đó không phải là những nghiên cứu khoa học theo quy ước quốc tế.

Phần lớn các đề tài không được thẩm định khách quan qua các bài báo công bố quốc tế, và trong nhiều trường hợp trở thành nguồn tham nhũng, và là nơi “đánh quả” của các cá nhân và nhóm đặc quyền đặc lợi.

Trong khoa học – lĩnh vực cần tính chuyên nghiệp cao nhất, tuy chưa nói thẳng ra, nhưng thực tế còn đáng buồn hơn: Các nhà khoa học của chúng ta thiếu tính chuyên nghiệp.

Trong nhiều trường hợp, các nhà khoa học Việt Nam chỉ thực hiện các bài báo khoa học công bố quốc tế khi có cơ hội được ra nước ngoài cộng tác hay làm thuê (như ở các ngành Toán và Vật lý), hoặc từ các đề tài nghiên cứu ứng dụng trong nước được quốc tế tài trợ và có sự lãnh đạo của chuyên gia nước ngoài (như trong các lĩnh vực khoa học sự sống).

Ngoài các tác động trên thì từ các đề tài nghiên cứu ứng dụng trọng điểm có kinh phí lớn cấp bộ ngành, cấp Nhà nước tới các đề tài nghiên cứu cơ bản có kinh phí nhỏ hơn, tất cả đều phớt lờ đòi hỏi cần có về công bố quốc tế. Năm 2006, tỷ lệ số bài báo quốc tế do chính các nhà khoa học Việt Nam đứng tên độc lập năm 2006 chỉ còn là 13%, với vẻn vẹn 72 bài – bằng 1/10 số bài nội lực (đứng tên độc lập để công bố quốc tế) của Thái Lan.

Có ý kiến cho rằng, tiền nào của nấy vì các đề tài trong nước ít tiền hơn, nhưng thực tế cho thấy số ít các đề tài trong nước có được công bố quốc tế lại thường không phải là các đề tài được cấp nhiều tiền. Nhiều nhà khoa học có thu nhập thực tế từ kinh phí các đề tài bao cấp không thua kém, thậm chí còn vượt trội cả… thu nhập của cán bộ khoa học đi công tác ở nước ngoài, nhưng không hề cho được kết quả chất lượng và bài báo quốc tế…

Có những ý kiến eo xèo rằng, Nhà nước cần phải tăng kinh phí nghiên cứu hơn nữa?!!! – điều đó đúng, nhưng hãy nhớ rằng, cho dù kinh phí cho khoa học từ ngân sách nhà nước được tăng mạnh hằng năm, nay đã vượt 400 triệu USD/năm. Thế nhưng, điều đáng buồn và không thể hiểu nổi, số bài báo quốc tế từ nội lực (đứng tên độc lập) vẫn chỉ đứng nguyên xung quanh con số 80 bài/năm trong suốt 10 năm qua (1/1997-12/2006) – một mức hiệu quả có lẽ vào hàng thấp nhất trên thế giới.

Lại cũng có ý kiến, ta thiếu đầu tư thiết bị nghiên cứu? Quả thật, thiết bị nghiên cứu ở ta chưa thể đầy đủ và trang bị hoàn hảo như các nước tiên tiến: Anh, Nhật, Mỹ, châu Âu… Nhưng hãy nhìn thử xem: Bao thiết bị đắt tiền và 18 phòng thí nghiệm trọng điểm cấp quốc gia đã được đầu tư nhưng không được khai thác hiệu quả? Các thiết bị đó đã dẫn tới bao nhiêu bài báo công bố quốc tế và có được hiệu quả kinh tế – công nghệ bù đắp được giá trị các thiết bị được mua? phải chăng các thiết bị được đầu tư chưa đúng lúc hay chưa đúng chỗ?

Trong khi các nhà khoa học Thái Lan và Malaysia từ lâu đã chấp nhận chuẩn mực công bố các nghiên cứu khoa học trên các tạp chí khoa học quốc tế có uy tín, thì các nhà khoa học Việt Nam lại cố tình phớt lờ điều đó với ngụy biện rằng điều kiện của ta còn chưa được như Âu – Mỹ nên ta chưa làm!!!

Thiếu ràng buộc về chất lượng nghiên cứu dẫn tới lỏng lẻo trong quản lý và tiêu cực trong việc xét và phân kinh phí các đề tài, đạo đức thấp của cộng đồng khoa học, làm giả ăn thật tràn lan. Kể cả các nhà khoa học đã được đào tạo tốt ở nước ngoài trở về cũng bị tàn lụi dần theo thời gian trong một môi trường thiếu lành mạnh như vậy.

Với tư duy lạc hậu và tiến độ làm khoa học như đã nói ở trên, phải mấy thập niên nữa chúng ta mới có thể tới được trình độ công bố quốc tế hiện nay của các láng giềng vốn chẳng có gì nổi trội về khoa học và kỹ thuật như Thái Lan và Malaysia. Liệu ta có đành lòng quên đi ước mơ cái ngày Việt Nam sánh vai được với các cường quốc năm châu như cố Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong đợi?

Cần tổ chức lại Viện Khoa học & Công nghệ Việt Nam

Theo GS Phạm Duy Hiển, số người làm nghiên cứu (R&D) của ta hiện rất lớn so với Thái Lan: 21.000 so với 6.400, nhưng kết quả nghiên cứu khoa học theo chuẩn mực quốc tế thì lại quá nghèo nàn so với họ. Các công bố quốc tế từ nội lực của cơ quan nghiên cứu khoa học đầu tầu của Việt Nam là Viện Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Việt Nam trong năm 2006 chỉ là 41 bài – ít hơn 8 lần số công bố nội lực của Đại học Chulalongkorn của Thái Lan, và ít hơn 57 lần so với con số tương ứng của Đại học Phúc Đán ở Thượng Hải, chưa nói tới các viện nghiên cứu hùng mạnh của Viện Hàn lâm khoa học Trung Quốc…

Viện KH&CN Việt Nam cần được tổ chức lại! Khi mới thành lập cuối những năm 70 – đầu 80, Viện ưu tiên nhận chủ yếu là các nhà khoa học trẻ đẳng cấp được đào tạo ở nước ngoài, và có tiềm năng trở thành một trung tâm nghiên cứu mạnh, nhưng điều đó đã không xảy ra do nhiều lý do.

Qua thời gian, chảy máu chất xám cùng với sự úa tàn của nhiều cán bộ ban đầu còn lại cộng với thiếu đầu vào chất lượng đã khiến Viện trở nên già nua trong khi ngày càng xa rời mục tiêu trở thành một cơ quan nghiên cứu khoa học trình độ quốc tế.

Cách nhận các cử nhân, kỹ sư bình thường (thậm chí không phải là sinh viên giỏi của các đại học trong nước) bởi các quan chức cơ sở rồi sau vài năm đưa thành biên chế chính thức (nay gọi là hợp đồng dài hạn) là hoàn toàn không ổn, và đang làm mất dần vị thế của Viện như một đầu tầu nghiên cứu khoa học của cả nước.

Số đông các cán bộ của Viện được biên chế không qua tuyển chọn nghiêm túc, không có năng lực và động lực nghiên cứu, làm việc vật vờ, mà lại vẫn hưởng phần kinh phí nghiên cứu bao cấp.

*
Phạm Đức Chính (Viện Cơ học)

vietnamnet.vn/khoahoc/2008/05/782005/
Originally posted 4 months ago. ( permalink )
Tạp Chí GS Dỏm Việt Nam – JIPV edited this topic 4 months ago.

NCS dỏm Đỗ Đức Hạnh – Thầy bói mù [deleted] says:

Theo GS Nguyễn Văn Tuấn: Có ít nhất một giáo sư khả của nước ta không hiểu “thế nào là nghiên cứu khoa học.”

Thế nào là “nghiên cứu khoa học”?

Trong vở kịch “Romeo và Juliet”, văn hào Shakespeare cho Juliet nói một câu về hoa hồng như sau: “Một đóa hoa hồng, dù được gọi bằng bất cứ tên gì, thì vẫn có hương vị ngọt ngào”. Câu hỏi đặt ra là trong khoa học, chúng ta có thể phân biệt các hoạt động nghiên cứu khoa học với các hoạt động khác trong xã hội mà nhìn và cảm nhận cũng giống như nghiên cứu?

Theo một giáo sư khả kính thì hai hoạt động sau đây là nghiên cứu khoa học: một bà nội trợ đi thăm dò giá cả ngoài chợ để mua thực phẩm với giá rẻ nhất và chất lượng tốt nhất, hay đôi trai gái tìm hiểu nhau trước khi tiến đến hôn nhân.

Nhưng tôi ngờ rằng cách hiểu về nghiên cứu khoa học như là những hoạt động thường ngày của vị giáo sư có phần phiến diện, nếu không muốn nói là sai. Thế thì vấn đề đặt ra là: thế nào là một nghiên cứu khoa học (NCKH)?

Người viết bài này (và nhiều người khác) có thể lấy kinh nghiệm thực tế của mình để trả lời câu hỏi trên. Nói một cách ngắn gọn: nghiên cứu khoa học là một hoạt động của con người nhằm mở rộng tri thức qua các phương pháp khoa học. Theo cách hiểu phổ quát này, có hai điều kiện để một hoạt động có thể xem là nghiên cứu khoa học: mục tiêu và phương pháp.

Nghiên cứu khoa học phải nhằm mục tiêu phát triển tri thức mới, hay đóng góp thêm tri thức cho kho tàng tri thức của con người. Những tri thức này phải mang tính phổ quát hay có thể khái quát hóa. Một bà nội trợ có thể ra chợ khảo sát giá cả thực phẩm và có những so sánh thú vị, nhưng đó không phải là một NCKH, bởi vì tri thức đó không thể khái quát hóa. Người ta có thể tạo ra tri thức bằng cách kiểm tra nhiệt độ nước trong bồn tắm, nhưng tri thức này chỉ hợp lí tại một thời điểm và một bối cảnh cụ thể. Nhưng nếu người đó đổ nước nóng vào bồn tắm và đo lường sự thay đổi nhiệt độ nước, thì đó là một tri thức có thể khái quát hóa, và đáp ứng một điều kiện của NCKH.

Nghiên cứu khoa học là một cuộc điều tra hay khảo sát có hệ thống. Hai chữ “hệ thống” ở đây có nghĩa là công trình nghiên cứu được thực hiện theo những qui trình chuẩn. Qui trình chuẩn trong nghiên cứu khoa học gồm 8 bước: đặt câu hỏi; thu thập thông tin hiện hành; đặt giả thuyết; thử nghiệm và thu thập dữ liệu; phân tích dữ liệu; diễn giải kết quả phân tích; công bố kết quả; và tái kiểm định giả thuyết. Trong qui trình này, phương pháp đóng vai trò quan trọng, vì chính phương pháp quyết định khoa học tính của một hoạt động, và phân định hoạt động đó là khoa học hay phi khoa học. Một phương pháp thu thập dữ liệu mang tính khoa học nếu phương pháp đó có cơ sở lí thuyết, có giả định, độ tin cậy cao, và độ chính xác cao.

Vì phương pháp khoa học có độ tin cậy và chính xác cao, cho nên kết quả của NCKH có tính lặp lại (repeatability). Nói một cách khác, nếu giả có một nghiên cứu đã được công bố bởi một nhà khoa học nào đó; nếu một nhà nghiên cứu khác lặp lại nghiên cứu đó bằng những phương pháp và với điều kiện đã được mô tả, phải đạt được những kết quả tương tự. Điều này rất khác với các hoạt động phi khoa học, vì kết quả của các hoạt động phi khoa học không có khả năng lặp lại hay kiểm tra. Do đó, việc khảo giá của bà nội trợ hay việc đôi trai gái tìm hiểu nhau không thể xem là khoa học, bởi những kết quả đó không có khả năng lặp lại và khái quát hóa.

Bởi vì phương pháp khoa học dựa trên lí thuyết và giả định, cho nên kết quả khoa học phải được diễn giải bằng bằng chứng, bằng lí luận dựa vào logic hay lập luận của toán học, không đi ra ngoài phạm vi của dữ liệu cho phép. Ngược lại, các hoạt động phi khoa học thường dựa vào niềm tin và sự trung thành. Những hoạt động phi khoa học thường mang tính tôn giáo; nó cố gắng cải đạo, chứ không thuyết phục bằng bằng chứng thực nghiệm; nó đòi hỏi người ta phải tin, mặc kệ cho sự thật có đi ngược lại niềm tin.

Bởi vì kết quả của nghiên cứu có giá trị phổ quát, cho nên kết quả nghiên cứu không hẳn tùy thuộc vào điều kiện và bối cảnh địa phương. Do đó, cho rằng “Chẳng hạn, một đề tài mang lại ý nghĩa lớn đến phòng chữa bệnh ở xứ sở nhiệt đới như nước ta. Nghiên cứu về ‘Mắm tôm và bệnh tả’ dầu có thể là rất bổ ích (ít nhất là đối với Bộ Y tế) nhưng chắc không tạp chí quốc tế nào đăng” thể hiện một hiểu lầm và … sai. Có lẽ tác giả của phát biểu trên không biết rằng các tập san khoa học danh tiếng về bệnh nhiệt đới đều có trụ sở ở Mĩ và Anh, chứ không phải ở Á châu hay Phi châu. Bộ Y tế đã khẳng định rằng mắm tôm không phải là nguyên nhân gây bệnh tả; do đó, câu phát biểu trên chẳng những không cần thiết, mà còn không thích hợp.

Ngay cả nếu một nghiên cứu về mắm tôm và bệnh tả được thực hiện, thì kết quả của nghiên cứu vẫn có thể công bố trên các tập san khoa học có uy tín, nếu công trình nghiên cứu được tiến hành đúng theo các phương pháp khoa học. Thật là sai lầm khi suy nghĩ rằng mắm tôm là một đặc sản của Việt Nam, và do đó, kết quả nghiên cứu mắm tôm không được thế giới quan tâm. Vấn đề không phải là mắm tôm, mà mắm tôm là một trong những mô hình để nghiên cứu về nồng độ mặn và vi khuẩn tả, và đó là một vấn đề khoa học mang tính phổ quát. Tương tự, khi chúng tôi muốn phân định ảnh hưởng của đạm thực vật đến xương, chúng tôi có thể chọn nghiên cứu các tu sĩ Phật giáo đại thừa, hay chúng tôi muốn tìm hiểu vận động cơ thể và chất lượng xương, chúng tôi có thể chọn nghiên cứu ở những bệnh nhân bị tai biến mạch máu não (vì một số bệnh nhân không có khả năng đi đứng). Bệnh nhân tai biến, tu sĩ Phật giáo, và mắm tôm trong những nghiên cứu này là những mô hình khoa học để nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố sinh học đặc thù, chứ không phải là những nghiên cứu chỉ áp dụng cho một địa phương hay cho một nhóm người.

Những người làm nghiên cứu khoa học dấn thân vì mục tiêu khám phá, truyền bá, và phổ biến sự thật. Một công trình nghiên cứu khoa học chỉ hoàn tất khi kết quả được công bố trên một tập san khoa học có đồng nghiệp bình duyệt và phản biện nghiêm chỉnh. Ở đây, tính minh bạch của NCKH rất quan trọng, vì nó chẳng những là một yêu cầu của khoa học mà còn là một khía cạnh để phân biệt khoa học với phi khoa học.

Các hoạt động thường ngày mới nhìn vào thì thấy cũng chẳng khác gì nghiên cứu khoa học, nhưng thật ra thì không phải nghiên cứu khoa học, do không đáp ứng hai điều kiện cần thiết: mục tiêu và phương pháp. Vì không phân biệt được hai điều kiện này nên nhiều người không hiểu thế nào là một nghiên cứu khoa học. Thật vậy, trong một cuộc thăm dò ý kiến ở Mĩ vào năm 1999, chỉ có 21% người dân hiểu đúng về nghiên cứu khoa học. Ở một nước với trình độ khoa học tiên tiến như Mĩ mà có đến gần 80% người không hiểu về nghiên cứu khoa học, thì có lẽ chúng ta không ngạc nhiên nếu thấy ở nước ta cũng có nhiều người chưa am hiểu về nghiên cứu khoa học. Nhưng đó không phải là lỗi của người dân, mà là vấn đề của giới khoa học và giới truyền thông. Rất tiếc là một số nhà khoa học vẫn hiểu lầm thế nào là một nghiên cứu khoa học!

Khoa học, nhà khoa học, nghiên cứu, trí thức, v.v… không phải là những phù hiệu mà ai muốn mang vào ngực thì mang, mà là những việc làm thực tiễn, những ý nghĩ hay sáng kiến mới. Muốn có những sáng kiến mới và làm nghiên cứu thực tế, nhà khoa học phải làm việc một cách gian khổ, bất vụ lợi, có khi rất lâu dài. Có thể ví khoa học như một cái đỉnh chót vót của sự chính trực, công bằng, và hợp lí. Nhưng cái đỉnh này nó trơn và dễ bị trượt. Người ta cần phải có một sự cố gắng tột bực mới đến gần hay đứng trên nó được, và càng phải cố gắng hơn để ở được cái vị trí đó.

NVT

tuanvannguyen.blogspot.com/2009/04/nao-la-nghien-cuu-khoa…
Posted 4 months ago. ( permalink )

NCS dỏm Đỗ Đức Hạnh – Thầy bói mù [deleted] says:

Xin mời các bác dỏm hãy đọc các bài viết sau đây:

www.flickr.com/groups/giaosudom/discuss/72157623452567143/

Chúc các bác dỏm sử dụng tiền của nhân dân một cách hiệu quả, trách rút ruột và nghiên cứu dỏm.
Posted 4 months ago. ( permalink )

view photostream

Tuan Ngoc@ says:

Đại học đẳng cấp quốc tế

Gần đây, báo VietNamNet nêu câu hỏi “Đại học Việt Nam đẳng cấp quốc tế: Tại sao không?” và kêu gọi bạn đọc tham gia thảo luận. Trong điều kiện hiện nay, có thể nói đây là một ý nghĩ táo bạo. Nhưng tình trạng “chảy máu chất xám” hiện nay ở nước ta, sự có mặt tương đối đông đảo của người Việt trong thành phần khoa bảng thuộc các trường đại học nước ngoài, và tham vọng công nghiệp hóa đất nước, thiết tưởng ý nghĩ này không phải là quá xa vời. Thực ra, chẳng riêng gì nước ta, hầu như nước nào cũng mong muốn có một đại học đẳng cấp quốc tế, nhưng ít ai bàn cụ thể một đại học như thế đòi hỏi những gì và phải vận hành ra sao. Qua bài viết này tôi muốn đóng góp một vài ý kiến chung quanh chủ đề này.

Ý tưởng về một đại học đẳng cấp quốc tế được hình thành ở Đức từ thời cuối thế kỉ 19. Theo đó, một đại học đẳng cấp quốc tế không chỉ đơn thuần là một trung tâm đào tạo xuất sắc theo các tiêu chuẩn quốc tế, mà chủ yếu là một trung tâm nghiên cứu khoa học kĩ thuật. Nhưng câu hỏi đặt ra ai là người đề ra những tiêu chuẩn này? Chưa ai trả lời được câu hỏi này, nhưng nói đến một đại học đẳng cấp quốc tế tức là nói đến một bối cảnh xuyên quốc gia. Và, theo xu hướng quốc tế, các đại học danh tiếng ở Mĩ và Tây phương thường được xem là những mô hình “chuẩn” để tham khảo. Theo sắp hạng của các tạp chí quốc tế, các đại học hàng đầu thế giới là Harvard, Yale, Stanford, MIT, California Institute of Technology, Cambridge, Oxford, Sorbonne, và Tokyo. Nhìn qua những đại học này chúng ta thấy vài đặc điểm chung, và cũng có thể là những yêu cầu mà chúng ta phải xem xét đến:

Thứ nhất, một đại học đẳng cấp quốc tế cần phải có những giáo sư đẳng cấp quốc tế. Đó là những giáo sư, nhà nghiên cứu có uy tín cao trên trường quốc tế, những người “có tên tuổi” trong lĩnh vực chuyên môn của họ. Điều này đòi hỏi chúng ta không chỉ thu hút giáo sư giỏi gốc Việt ở trong và ngoài nước, mà còn phải thu hút cả những nhà nghiên cứu tài danh quốc tịch nước ngoài. Chẳng hạn như trong nỗ lực nâng cao khả năng nghiên cứu và phát triển, một số nước trong vùng Á châu như Đài Loan đã thu hút được Yang Chen Ning (giải Nobel vật lí) về làm việc, và Hàn Quốc đã thuyết phục Robert Laughlin từ Mĩ (giải Nobel vật lí, Đại học Stanford) về nghiên cứu tại Viện Khoa học và Công nghệ. Điều kiện để thu hút các giáo sư đẳng cấp quốc tế như thế là một môi trường làm việc tự do để họ có thể theo đuổi định hướng nghiên cứu của họ, tự do tuyển dụng chuyên gia nghiên cứu, tự do phát biểu ý kiến về những vấn đề khoa học mà không chịu sự ràng buộc hay chi phối từ các áp lực chính trị và quản lí hành chính.

Thứ hai, một đại học đẳng cấp quốc tế phải là nơi nuôi dưỡng những tài năng đẳng cấp quốc tế tương lai. Cơ chế tuyển dụng và nuôi dưỡng các nhà nghiên cứu trẻ có tiềm năng lớn cần phải được minh bạch và công bằng. Những ai từng quen thuộc với cơ chế tuyển dụng của các trường đại học lớn ở Mĩ đều biết rằng các giáo sư và nhà nghiên cứu cấp thấp thường được nâng đỡ trong vòng 3 đến 5 năm để họ tự chứng minh khả năng của mình, sau đó họ phải trải qua một quá trình bình duyệt từ bên ngoài, và chỉ có những người xuất sắc với những nghiên cứu đẳng cấp quốc tế mới được giữ lại làm việc. Dù cơ chế này chưa thể áp dụng cho các trường đại học ở nước ta, nhưng một đại học đẳng cấp quốc tế phải xem xét đến cách thức nuôi dưỡng nhân tài như thế.

Thứ ba, một đại học đẳng cấp quốc tế cần phải có (hay tạo ra) một môi trường nghiên cứu với những cơ sở vật chất nghiên cứu đầy đủ. Những công trình nghiên cứu tiên tiến và sáng tạo nhất phụ thuộc một phần lớn vào những thông tin mới nhất và cơ sở thí nghiệm thích hợp. Một đại học ngày nay, cho dù là đại học không phải đẳng cấp quốc tế, khó mà vận hành một cách hữu hiệu nếu không có một hệ thống thư viện và internet hoàn chỉnh. Do đó, nhu cầu cho một thư viện đẳng cấp quốc tế với hàng triệu sách tham khảo và tạp chí khoa học là một điều kiện hàng đầu.

Thứ tư, để tận dụng năng lực của các giáo sư đẳng cấp quốc tế cần phải có ngân sách nghiên cứu dồi dào. Và nghiên cứu phải là những nghiên cứu cơ bản, bởi vì phần lớn những tiến bộ khoa học gần đây đều xuất phát từ những công trình nghiên cứu cơ bản, đặc biệt là công nghệ sinh học. Một công trình nghiên cứu khoa học cơ bản trung bình có thể tốn đến một triệu USD trong một năm. Thành ra, không ngạc nhiên khi thấy ngân sách dành cho nghiên cứu tại các trường đại học lớn của Mĩ có khi lên đến con số một tỉ USD. Tại nhiều trường đại học Tây phương ngày nay, trường đại học chỉ cung ứng cho nghiên cứu và trả lương giáo sư trong vòng 3 hay 5 năm, sau thời gian này giáo sư phải tự tìm lấy nguồn tài trợ cho nghiên cứu. Thành ra, dù rằng một phần ngân sách nghiên cứu (có thể là 60%) do nhà nghiên cứu tìm được từ nước ngoài, nhưng trường đại học vẫn phải sẵn sàng cung ứng khi nguồn tài trợ từ nước ngoài gặp khó khăn.

Thứ năm, dù đối với các giáo sư hay nhà nghiên cứu đẳng cấp quốc tế, lương bổng có thể không phải là mối quan tâm hàng đầu, nhưng phần lớn họ đều mong muốn được hưởng lương bổng theo giá thị trường quốc tế. Không thể kì vọng một giáo sư với hàng trăm ngàn USD lương bổng lại chịu làm việc tại một đại học đẳng cấp quốc tế Việt Nam với số lương 50 ngàn USD. Còn nhớ khi Hồng Kông được Anh trao trả về Trung Quốc, rất nhiều giáo sư ngoại quốc rời bỏ các đại học Hồng Kông vì họ không thể sống với lương bổng mới và cách quản lí mới. Phải cần đến 5 năm các đại học Hồng Kông mới mời các giáo sư này quay lại làm việc.

Một đại học đẳng cấp quốc tế như các điều kiện trên sẽ xây dựng dựa vào các đại học đang tồn tại hay một đại học hoàn toàn mới? Kinh nghiệm trong thời gian qua về sự hình thành của Đại học quốc gia cho thấy việc chuyển các trường đại học hiện có thành một đại học cực kì khó khăn và đòi hỏi nhiều tiền bạc cũng như thời gian. Do đó, tôi đề nghị Nhà nước cần phải mạnh dạn xây dựng một đại học mới và độc lập, với những tiêu chuẩn quốc tế. Một trường đại học đẳng cấp quốc tế có giá trị hơn nhiều đại học trung bình, vì nó sẽ phục vụ như là một đầu tàu cống hiến vào nỗ lực phát triển khoa học và công nghệ để góp phần đưa nước ta vào hạng các nước đã phát triển. Kinh nghiệm ở Mĩ cho thấy phần lớn khám phá khoa học quan trọng đều xuất phát từ các đại học danh tiếng, và qua đó các đại học này góp phần giữ vị thế lãnh đạo của Mĩ trong khoa học và công nghệ.

Nhưng cũng nên cân nhắc trước những hệ quả của việc xây dựng một đại học đẳng cấp quốc tế ở nước ta. Thứ nhất, cần phải nhận thức rằng một đại học đẳng cấp quốc tế không phải ưu tú trong tất cả mọi bộ môn khoa học. Chẳng hạn như Đại học Harvard chưa bao giờ đứng đầu trong các ngành kĩ thuật. Do đó một số đại học trên thế giới tập trung vào việc xây dựng các phân khoa “mạnh” để trở thành những trung tâm nghiên cứu hàng đầu, như Mã Lai tập trung vào công nghệ thông tin và công nghệ cao su nhằm đáp ứng nhu cầu địa phương. Ở Việt Nam ta cũng có thể tập trung vào công nghệ thông tin và nghiên cứu nông nghiệp.

Tập trung tài lực vào thiết lập một đại học đẳng cấp quốc tế có thể gây ảnh hưởng không tốt đến các đại học khác và hệ thống khoa bảng. Bởi vì dồn tài chính và nhân lực vào việc xây dựng một trung tâm nghiên cứu cấp cao sẽ ảnh hưởng đến ngân sách cho nhu cầu giảng dạy của các trường khác. Một đại học đẳng cấp quốc tế đặt kì vọng rất cao vào các giáo sư và nhà nghiên cứu, và nếu những kì vọng này không đạt được nó có thể ảnh hưởng đến tinh thần làm việc của giáo sư và sinh viên nói chung.

Trước những yêu cầu này có lẽ nhiều bạn đọc sẽ hỏi trong điều kiện còn nhiều khó khăn hiện nay liệu bao giờ chúng ta mới có một đại học đẳng cấp quốc tế. Vào cuối thế kỉ 19 ở Mĩ, cũng có người đặt câu hỏi đó. John D. Rockefeller từng hỏi Charles W. Eliot (lúc đó là hiệu trưởng Đại học Harvard suốt 40 năm liền) nếu muốn thành lập một đại học đẳng cấp quốc tế cần những điều kiện gì. Eliot trả lời rằng cần 50 triệu USD và 200 năm! Nhưng Eliot đã sai lầm to. Trường Đại học Chicago được thành lập vào đầu thế kỉ 20, với trên 50 USD (do chính Rockefeller trao tặng) nhưng chỉ sau 20 năm hoạt động, đã trở thành một đại học đẳng cấp quốc tế.

Tất nhiên, đó là câu chuyện thời xưa, thời mà trường đại học còn rất hiếm và sự cạnh tranh quyết liệt giữa các trường đại học chưa xảy ra, nhưng câu chuyện cho chúng ta một bài học: muốn có một đại học đẳng cấp quốc tế, điều kiện tiên quyết là tài chính và thời gian. Kinh nghiệm của các trường như MIT và Stanford ở Mĩ cho thấy trong thời gian đầu Nhà nước phải tài trợ cho các trường này, và sau một thời gian hoạt động, nhất là kết quả nghiên cứu được ứng dụng trong công nghiệp, họ có khả năng tự tìm nguồn tài trợ từ tư nhân hay từ các học sinh cũ.

Ở nước ta, năm 2020 thường được đề cập đến như một cái mốc thời điểm để hoàn thành công cuộc kĩ nghệ hóa và hiện đại hóa đất nước. Thời gian 20 năm không phải là dài, nếu không muốn nói là quá ngắn, cho một mục tiêu xây dựng một đại học đẳng cấp quốc tế đầy thử thách và tham vọng này. Tuy nhiên, nếu lịch sử là một bài học quí thì kinh nghiệm từ các đại học trên cũng cho chúng ta lí do và động cơ để phấn đấu.

NVT

tuanvannguyen.blogspot.com/2010/03/moi-truong-ai-hoc-va-n…

Về GS Tuấn: www.garvan.org.au/about-us/our-people/associate-professor…
Posted 4 months ago. ( permalink )

view photostream

hat_cat says:

Đọc tin đăng trên báo Thanh Niên, tôi có các cảm nhận sau:

Do cách xét duyêt học hàm PGS và GS tại Việt Nam ưu đãi cho những người viết sách giáo trình, kết quả hiện có trào lưu truyền miệng giữa các PGS dỏm, TS dỏm muốn nhanh chân “Lên đời” bằng cách ” Đi Tắt, Đón đầu” là chép sách. Sách được viết theo công nghệ này được mô tả bằng hai lệnh Ctrl-V rồi Ctrl-C, khỏe re có 3 điểm cho hồ sơ xét duyệt PGS hay GS. Kết quả là các Bác có thể đọc chi tiết qua một vụ scandal trong bài dưới đây đăng trên Báo Thanh Niên. Nếu lấy báo quốc tế với ISI thì có ai chép sách làm gì, mời các Bác đọc:

Tố giác “đạo” giáo trình, GS-TS Trần Ngọc Thơ bị đe dọa

*GS-TS Trần Ngọc Thơ với cuốn giáo trình Tài chính quốc tế do mình biên soạn (bên phải) và cuốn sách bị nhóm giảng viên trường ĐH Công nghiệp TP.HCM “đạo”
-* Trường ĐH Kinh tế phát hiện thêm 3 cuốn giáo trình bị các giảng viên trường ĐH Công nghiệp TP.HCM “luộc”

Liên quan đến vụ cuốn giáo trình Tài chính quốc tế bị nhóm giảng viên trường ĐH Công nghiệp TP.HCM “đạo”, chiều 11.4, GS-TS Trần Ngọc Thơ – Trưởng khoa Tài chính doanh nghiệp trường ĐH Kinh tế TP.HCM cho biết ông đã bị đe dọa bằng thư điện tử.

>> Cần có chế tài về sách tham khảo

Nội dung e-mail chỉ vỏn vẹn 1 câu: “Tao chém chết… mày đó! Thằng… Số tao là: 09034…..”. E-mail trên được gửi từ địa chỉ tron…@hua….com. Tuy không khẳng định đây là e-mail đe dọa có liên quan đến vụ cuốn giáo trình bị “đạo” nhưng ông Thơ cho hay trong bối cảnh từ khi xảy ra vụ việc đến khi nhận e-mail này cho thấy nó có liên quan mật thiết với nhau.

GS-TS Trần Ngọc Thơ nói: “Sau khi phát hiện 2 cuốn giáo trình của khoa bị một nhóm tác giả của trường ĐH Công nghiệp TP.HCM mà chủ biên là PGS- TS Phan Thị Cúc – Trưởng khoa Tài chính ngân hàng sao chép nguyên xi, tôi đã báo cáo với lãnh đạo trường ĐH Kinh tế và các cơ quan chức năng. Ngay khi các báo đưa tin thì tôi nhận được e-mail này. Tôi đã thử gọi vào số điện thoại có ghi kèm trong bức thư nhưng không có người bắt máy”. Quá bức xúc và lo lắng với những lời lẽ thô tục trong e-mail trên, GS-TS Trần Ngọc Thơ đã báo cáo với lãnh đạo trường và đề nghị các cơ quan chức năng giúp đỡ.

Chưa có một lời xin lỗi!

Trở lại chuyện “đạo” giáo trình, sau khi vụ việc xảy ra, lãnh đạo trường ĐH Công nghiệp TP.HCM đã gửi công văn đến BGH trường ĐH Kinh tế TP.HCM để xin lỗi và hứa sẽ thu hồi toàn bộ số sách trên. Tuy nhiên, đây chỉ là việc làm của lãnh đạo 2 trường còn cá nhân nhóm biên soạn 2 quyển sách trên mà cụ thể là bà chủ biên PGS-TS Phan Thị Cúc vẫn chưa có một lời xin lỗi nào.

Đây không chỉ là bệnh thành tích mà còn là một vấn nạn về đạo đức mà những người làm thầy đã không gương mẫu.

GS-TS Trần Ngọc Thơ

Khi sự việc trên chưa kết thúc, các giảng viên khoa Tài chính doanh nghiệp trường ĐH Kinh tế TP.HCM lại tiếp tục phát hiện thêm 3 cuốn giáo trình Toán tài chính của mình cũng bị “luộc” thành 1 cuốn giáo trình cùng tên, cũng do các giảng viên khoa Tài chính ngân hàng của trường ĐH Công nghiệp TP.HCM thực hiện. “Toán tài chính là một trong rất nhiều cuốn giáo trình của trường chúng tôi bị các giảng viên của trường ĐH Công nghiệp TP.HCM “luộc”. Khi nào có kết quả kiểm định chính thức, chúng tôi sẽ báo cáo với lãnh đạo trường để giải quyết”, GS-TS Trần Ngọc Thơ nói.

Tâm tư về những đứa con tinh thần của mình, GS-TS Trần Ngọc Thơ bức xúc: “30 năm giảng dạy, tôi chỉ nghiên cứu và biên soạn được 3 cuốn sách. Mất 5 năm mới in một cuốn giáo trình, mỗi lần tái bản lại tốn thêm một thời gian dài dày công nghiên cứu để cập nhật thêm vào cuốn giáo trình của mình để các sinh viên có thể tiếp cận được kiến thức mới. Nhưng chỉ trong một thời gian ngắn, những đứa con tinh thần của mình bị người khác “luộc” trắng trợn. Đây không chỉ là bệnh thành tích mà còn là một vấn nạn về đạo đức mà những người làm thầy đã không gương mẫu thì làm sao có thể đứng trên bục giảng giảng bài cho sinh viên nghe được”.

Theo Phi Loan, Bao Thanh Nien.

Link: www.thanhnien.com.vn/News/Pages/201015/20100411232116.aspx

Admin@: Lời nhắn của bác đến các GS dỏm và học trò dỏm quá hay. Có edit post của bác chút xíu.
Originally posted 4 months ago. ( permalink )
hat_cat edited this topic 4 months ago.

view photostream

Hội Viên.Hội Toán Học says:

Vấn đề côn đồ, bảo kê, băng nhóm trong khoa học ở nước ta không phải là hiếm, ngay cả với những người về “danh phận” rất đáng tin, nhưng thật ra lại là những đối tượng đang góp phần làm chậm bước tiến của khoa học nước ta. Tôi xin giới thiệu một nhóm bảo kê khoa học dỏm “Nguyễn Tiễn Dũng (Pháp)-Đỗ Ngọc Diệp (VN)-Đỗ Đức Hạnh (du học Mỹ)”: www.flickr.com/photos/48187765@N03/4465279354/.
Posted 4 months ago. ( permalink )

view photostream

phamtuanky says:

Các GS, PGS dỏm và học trò dỏm nên học cách tranh luận khoa học từ những đường link này:

tuanvannguyen.blogspot.com/2010/04/tranh-luan-giua-nha-kh…

www.ykhoanet.com/binhluan/nguyendinhnguyen/100407_nguyend…

Nói theo cảm nghĩ nhằm ngụy biện là thói quen của mấy em nhỏ. Nếu người lớn nói chuyện thì phải có số lượng, có thống kê, số liệu lấy từ đâu cũng phải chỉ rõ!
Posted 4 months ago. ( permalink )

view photostream

Tạp Chí GS Dỏm Việt Nam - JIPV is a group administrator Tạp Chí GS Dỏm Việt Nam – JIPV says:

Giáo sư/Phó giáo sư Việt Nam – Họ là ai !

Tác giả: LDH

Giáo sư, phó giáo sư (GS/PGS) là chức danh khoa học cao nhất của nhà giáo. Tuyệt đại đa số các GS/PGS được nhà nước phong tặng trước đây đều xứng đáng với kỳ vọng của nhân dân. Mỗi ngành, mỗi lĩnh vực đều có những GS/PGS xuất chúng, họ thực sự là con chim đầu đàn dẫn dắt và đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học trình độ cao phục vụ có hiệu quả cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong mấy chục năm qua.

Trong thời kỳ hội nhập, chính phủ đã ban hành nhiều văn bản, nghị định, hướng dẫn . . như nghị định 20, quyết đinh 174/2008/QĐ-TTg . . . nhằm nâng cao chất lượng các đợt xét công nhận GS/PGS tiến đến phù hợp với thông lệ quốc tế. Theo các văn bản này, ngoài các tiêu chuẩn chung như thâm niên giảng dạy, hướng dẫn luận văn sau đại học …. vấn đề then chốt và quan trọng nhất để trở thành GS/PGS là các ứng viên phải đạt các tiêu chuẩn về số điểm công trình tính từ các bài báo khoa học đăng trên các tạp chí có uy tín.

Để đủ điểm công trình xét chức danh GS/PGS theo qui định, người làm khoa học phải có năng lực thực sự với một tinh thần làm việc nghiêm túc. Đây là lĩnh vực không có chỗ cho những người bất tài hoặc lười nhác. Vậy tại sao vẫn có người không làm khoa học, hoặc năng lực chuyên môn kém. . . nhưng vẫn có tên trong danh sách những GS/PGS được tôn vinh ở Văn Miếu ngày 20/11/2009 vừa qua ?. Họ là ai và vì sao họ có đủ tiêu chuẩn xét chức danh cao quí này ?. Trong bài viết này xin kể ra đây một số “công nghệ GS/PGS” và “chân dung” một số GS/PGS đang tồn tại ở Việt Nam trong 5 năm trở lại đây.

1. Công nghệ “góp gạo thổi cơm chung” cùng lên GS/PGS

Tôi có học trò cũ hiện làm trưởng phòng của một viện nghiên cứu. Anh là nhà khoa học thực sự, đứng tên rất nhiều bài báo được đăng trên các tạp chí Quốc tế. Nhưng khi đạt được PGS rồi thì mấy năm liền không thấy tên anh trên các tạp chí nữa. Anh hồn nhiên chia sẻ :”Trước khi được phong PGS, em và các nghiên cứu viên cùng tham gia đề tài trọng điểm cấp nhà nước, cùng viết bài báo khoa học, nhưng chỉ em đứng tên bài báo đó. Bây giờ em được PGS rồi, tiếp theo là anh phó phòng. . . sau đó là các anh em trẻ khác đứng tên các bài báo khoa học. Ai năng lực kém không có khả năng nghiên cứu, nhưng muốn giữ biên chế ở viện và lên PGS thì Viện tạo điều kiện cho làm kinh tế, làm công việc kinh doanh bên ngoài kiếm tiền nộp cho những người làm nghiên cứu khoa học thực sự. Vấn đề quan trọng nhất là anh em trong cơ quan phải đoàn kết, thì ai cũng đến lượt lên PGS thôi.!

2. Công nghệ “tìm điểm tựa của Acsimet” để lên PGS

“Hãy cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ nâng Trái Đất lên !”, đó là câu nói của Acsimet, nhà cơ học thiên tài của thời cổ đại đã khám phá ra các định luật về đòn bẩy. Ông còn nói thêm rằng “giá mà có một Trái Đât khác nữa, tôi sẽ sang Trái Đất đó và đẩy bật Trái Đất của chúng ta đi chỗ khác”. Trong công nghệ GS/PGS, điểm tựa đó chính là một chức vụ cao, quan trọng liên quan đến các vấn đề quản lý khoa học. Một ứng viên đang phấn đấu PGS đã thốt lên rằng “hãy cho tôi làm hiệu trưởng trường đại học này, tôi sẽ trở thành giáo sư”. Trong thực tế chỉ cần một chức vụ như trưởng khoa, trưởng phòng.khoa học . . cũng là điểm tựa làm PGS một cách dễ dàng. Khi duyệt cấp kinh phí (tiền) cho các đề tài, một số quan chức “đam mê khoa học” sẵn sàng từ chối nhận tiền “lại quả“ từ đề tài, thay vào đó lại muốn cấp dưới để tên mình khi công bố các bài báo khoa học. Càng duyệt nhiều đề tài, thì quan chức đó càng có nhiều điểm bài báo khoa học. Có vị đứng đầu một trường đại học công nghệ, duyệt cho mỗi đề tài mũi nhọn rất nhiều tiền chỉ để cuối năm sản phẩm là các bài báo đăng trên tạp chí khoa học Quốc tế có tên mình. Điều này giải thích vì sao một số giảng viên khi giảng dạy ở trường đại học, hoặc nghiên cứu viên ở viện không có nổi bài báo khoa học, nhưng khi có chức quyền, mặc dù bận tối ngày với các công việc sự vụ của trường, nhưng chỉ vài năm đã thừa điểm công trình, vượt xa tiêu chuẩn giáo sư.

3. Công nghệ dùng tiền làm khoa học đạt GS/PGS

Tên tội phạm Năm Cam đã từng tuyên bộ:”cái gì không mua được bằng tiền thì có thể mua được bằng rất nhiều tiền”. Câu nói này không phải chân lý nhưng nó đúng trong công nghệ làm GS/PGS hiện nay. Hãy nghe 2 câu chuyện sau đây

Câu chuyện thứ nhất : Hãy ở lại làm luận án Tiến sĩ với tôi
Một người bạn tôi kể : “tôi làm nghiên cứu sinh thời kỳ Liên Xô sụp đổ, đời sống của các giáo sư Nga rất khó khăn. Tôi không có học bổng, nên vừa nghiên cứu khoa học, vừa chạy chợ để có tiền nuôi sống bản thân và gửi biếu giúp giáo sư hướng dẫn. Sau một thời gian, mối quan hệ thầy trò đã trở nên thân thiết, tôi toàn tâm làm kinh tế kiếm tiền, thầy chuyên tâm làm khoa học, viết bài báo đứng tên tôi. Ngày tôi bảo vệ luận án Tiến sĩ chuẩn bị về nước, vị giáo sư Nga buồn bã nói với tôi :”Em đừng về Việt Nam nữa, em về bây giờ thì gia đình tôi đói. Hãy ở lại nghiên cứu tiếp Tiến sĩ khoa học và đi làm thêm để có tiền giúp tôi vượt qua khó khăn trong thời kỳ hậu Xô Viết này .. . . Danh sách các bài báo khoa học trong hồ sơ xét PGS của tôi đa số do giáo sư Nga viết hộ trước đây. Để hoàn tất hồ sơ, đầu năm vừa rồi (2009) tôi viết thư sang nhờ Thầy viết hộ thêm mấy bài để đủ điểm bài báo ở 3 năm cuối”.

Câu chuyện thứ hai : “Đi ô tô trồng sắn “

Thời kỳ bao cấp, cán bộ khoa học cũng phải lao động tự túc lương thực. Một số viện nghiên cứu có thế lực, liên hệ mượn được ô tô cơ quan chở cán bộ đi lên đồi trồng sắn. Đồng chí Tố Hữu khi đó là Phó thủ tưởng, trong một lần đi cơ sở, cầm củ sắn lên và nói :”sắn hôi mùi xăng quá”. Mọi người quá đỗi ngạc nhiên, đến lúc này Đồng chí Tố Hữu mới giải thích :”Tiền bán sắn trồng được không bằng tiền xăng đưa cán bộ đi trồng sắn”. Đến lúc này mọi người mới hiểu cách chơi chữ rất thâm thúy của Đồng chí Tỗ Hữu.

Trong một số lĩnh vực khoa học công nghệ, để có các bài báo khoa học đăng trên các tạp chí Quốc tế, ngoài năng lực nghiên cứu cùng tinh thần làm việc quyên mình trong khoa học của các nghiên cứu viên, phải có các phòng thí nghiệm trọng điểm, các phương tiện nghiên cứu hiện đại và đồng bộ. Phòng thí nghiệm trọng điểm tương đương triệu USD, nhưng không phải viện nghiên cứu nào, trường đại học nào cũng được đầu tư phòng thí nghiệp trọng điểm. Khi có phòng thí nghiệm trọng điểm, muốn có bài báo Quốc tế phải đầu tư thêm hàng nghìn USD. Tổng kết cuối năm, các bài báo khoa học đăng trên tạp chí quốc tế được mang ra trưng bày, một nhà khoa học lão thành (trước đây đã từng đi ô tô trồng sắn) cầm quyển tạp chí lên và nói :”bài báo khoa học này hôi mùi USD quá”.

4. Tâm tình của các GS/PGS theo công nghệ mới.

Theo qui trình xét GS/PGS trước đây, chỉ có những người giỏi thực sự mới được tôn vinh GS/PGS. Rất ít người nghĩ ra những “chiêu công nghệ GS/PGS” kể trên. Còn bây giờ theo công nghệ GS/PGS ở trên, các đối tượng trở thành GS/PGS hết sức đa dạng và phong phú. Ngoài những người giỏi thực sự, còn có cả các quan chức, người nắm giữ tiền quản lý khoa học, người có quan hệ tốt, người có may mắn làm ở các phòng thí nghiệm trọng điểm . . .Sau ngày tôn vinh các GS/PGS ở Văn Miếu – Quốc tử giám 20/11/2009 vừa qua, tôi có dịp được các GS/PGS mời đi ăn mừng ở nhà hàng sang trọng của Hà Nội. “Rượu vào lời ra”, một tân PGS trong trạng thái “phê phê” hát vang “Anh GS, tôi GS, tất cả chúng ta là GS. là lá la, là lá la . . .” làm náo loạn cả góc phố. Một PGS khác tâm sự :”Tôi sinh ra trong một gia đình mà ba đời là giảng viên đại học, Ông nội và bố tôi đều là Tiến sĩ được đào tạo ở nước ngoài về, nhưng chỉ đến đời tôi mới được phong PGS nhờ “công nghệ GS/PGS”. Ông tôi mừng quá, vuốt râu bảo tôi :”con hơn cha là nhà có phúc”!

5. Thân phận của các giảng viên thường trong cuộc sống mưu sinh.

Tình trạng bùng nổ các trường đại học, số sinh viên tăng vọt, các giảng viên không có chức vụ, muốn có tiền mưu sinh trong thời buổi giá cả tăng vọt, phải dạy tối ngày, về đến nhà là kiệt sức lấy đâu sức khỏe và thời gian để nghiên cứu khoa học. Cũng chẳng ai giúp viết hộ bài báo, mặc dù có rất nhiều ý tưởng khoa học hay. Đối với đối tượng này, các bài báo khoa học là xa xỉ, và chức danh GS/PGS đối với họ hết sức xa vời. Và cuộc đời của họ không bao giờ được cái may mắn “con hơn cha là nhà có phúc”.

6. Công nghệ GS/PGS có tồn tại vĩnh cửu !

Theo văn bản pháp quy về việc xét công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh GS/PGS xuất bản tháng 7/2009 của Hội đồng chức danh GSNN, Việt Nam đang tồn tại 02 loại : GS/PGS suốt đời và GS/PGS có thời hạn.

– Tại khỏan 3 điều 1 chương 1 trang 9, quyết đinh 174/2008/QĐ-TTg ghi “Các GS/PGS đã được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phong, công nhận hoăc bổ nhiệm trước ngày Quyết định này có hiệu lực thi hành được tiếp tục giữ chức danh GS/PGS”. Nghĩa là GS/PGS xét trước 2007 không phải xin bổ nhiệm, cũng chẳng ai giao nhiệm vụ, nên dù họ không còn nghiên cứu khoa học nữa thì chức danh GS/PGS vẫn theo họ suốt đời.

– Tại điều 16 mục 2 chương 3 trang 19, quyết đinh 174/2008/QĐ-TTg ghi “đối tượng được bổ nhiệm chức danh GS/PGS : nhà giáo đã được được công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh GS/PGS không quá 2 năm”. Tại điều 17 trang 20 ghi “định kỳ 3 năm 1 lần, Thủ trưởng cơ sở giáo dục đại học tiến hành rà soát, đánh giá việc hoàn thành nhiệm vụ được giao của các GS/PGS để xem xét việc giao nhiệm vụ tiếp theo.” Như vậy GS/PGS sau 2009 cũng giống như văn bằng tốt nghiệp. Người có văn bằng này vẫn phải đi xin việc (xin bổ nhiệm). Nếu sau 2 năm không có nơi bổ nhiệm thì văn bằng sẽ không có hiệu lực. Đây là một nét hết sức “độc đáo” của Việt Nam, không giống với bất cứ nước nào trên hành tinh này.

Do đó muốn chức danh GS/PGS có giá trị lâu dài, các GS/PGS sau năm 2009 phải “chạy bổ nhiệm” và tiếp tục “chạy” công trình bài báo. “Cuộc chiến” này sẽ không có hồi kết thúc và công nghệ GS/PGS vì thế vẫn còn đất sống cho cả những tân GS/PGS và các ứng viên muốn đạt PGS những năm tiếp sau.

Khi thi đại học, thí sinh phải có giấy báo thi dán ảnh mới được vào phòng thi, do đó rất khó đưa người thi hộ. Còn khi nộp bài báo khoa học, ban biên tập không bao giờ kiểm tra chính xác được tác giả bài viết là ai. Đây là cơ hội để người làm khoa học thực sự, trực tiếp viết bài báo nhưng người khác lại đứng tên mà không ai có thể phát hiện được. Do đó rất khó để ngăn chặn các công nghệ GS/PGS trên.

7. Bát nháo việc bổ nhiệm GS/PGS

Nếu Bộ giáo dục, Hội đồng chính sách khoa học công nghệ Quốc gia. . . làm một cuộc thanh tra toàn diện, chắc chắn sẽ phát hiện thêm nhiều loại “công nghệ GS/PGS” độc chiêu hơn những “công nghệ” mà bài viết đã nêu. Nếu không có biện pháp ngăn chặn tận gốc, tỷ lệ GS/PGS theo “công nghệ” trên tổng số GS/PGS thực chất sẽ tăng lên hàng năm, năm sau cao hơn năm trước. Việc xét công nhận chức danh GS/PGS đã nhiều chuyện, nay việc bổ nhiệm còn phức tạp hơn. Bắt đầu từ năm 2009, tất cả những ai được công nhận đạt chuẩn GS/PGS nhưng vẫn phải chờ sự bổ nhiệm của một trường đại học nào đó có nhu cầu thì khi đó mới chính thức trở thành GS/PGS. Đây là lần đầu tiên xét bổ nhiệm GS/PGS nên chưa hình thành “công nghệ bổ nhiệm” nhưng nhiều rắc rối đã xảy ra.
– Cùng một đất nước Việt Nam đang tồn tại hai loại GS/PGS. Loại GS/PGS theo nghị định 20 không có nhiệm vụ mới là loại GS/PGS suốt đời. Còn GS/PGS theo quyết định 174 thì sau khi được bổ nhiệm, hiệu trưởng giao nhiệm vụ mới và “bị” kiểm tra đánh giá sau 3 năm một lần.

– Có quan chức cùng một lúc xin bổ nhiệm ở 3 trường đại học. Có quan chức nộp hồ sơ xét GS/PGS ở một cơ sở đại học này nhưng khi xin bổ nhiệm lại ở một trường đại học khác.

– Một số dự định sau khi được bổ nhiệm GS/PGS sẽ xin chuyển về các thành phố lớn. Từ đó hình thành một loại GS/PGS được bổ nhiệm một nơi nhưng lại giảng dạy một nơi. Để hợp thức hóa, các GS/PGS mỗi khi chuyển công tác lại xin bổ nhiệm lại. Nó giống như hình thức chuyển nhượng cầu thủ của các câu lạc bộ bóng đá hay các đảng viên chuyển công tác phải chuyển sinh hoạt đảng.

– Người trực tiếp giảng dạy lại không được đề nghị bổ nhiệm, những quan chức không tham gia giảng dạy lại được đề nghị bổ nhiệm! . . . . GS/PGS là chức danh khoa học cao quí dành cho những người trực tiếp giảng dạy đại học. Như vậy có nhất thiết phải bổ nhiệm GS/PGS cho các đối tượng là thứ trưởng, hiệu trưởng, chủ nhiệm khoa không ? Nếu bổ nhiệm thì ai giao nhiệm vụ cho họ, nếu chính họ tự giao nhiệm vụ sẽ hình thành loại GS/PGS “vừa đá bóng vừa thổi còi”. Vv . . .vv

Vẫn biết rằng số GS/PGS theo “công nghệ” chỉ là “con sâu bỏ rầu nồi canh”, nhưng nếu nhiều sâu quá thì không thể ăn được. Để nâng tầm GS/PGS Việt Nam phù hợp với thông lệ Quốc tế và vô hiệu hóa các “công nghệ GS/PGS”, rất cần có sự vào cuộc của chính phủ, các cơ quan chức năng và giới khoa học nước nhà.

Hà Nội, ngày 08/04/2010

LDH – Thanh Xuân Hà Nội

Edited by JIPV
Posted 4 months ago. ( permalink )

view photostream

Tuan Ngoc@ says:

Mục Đi vòng quanh các blogs: Vừa qua tôi có xem blog của Thầy Đông A. Blog của Thầy đã bị “người nhà” của các dỏm tấn công. Xin giới thiệu Những lời dạy, giáo dục của Thầy Đông A đối với các dỏm như sau:

Dỏm giả danh “Lone Wolf”: Thưa chủ blog.
Đường Link Flickr trên của 1 tài khoản đã lớn tiếng khẳng định các GS/PGS trên là dỏm. Chủ tài khoản này không tiết lộ danh tính, hành sự theo kiểu ném đá giấu tay. Các comment dưới mỗi bài viết đều là của các account đã inactive. Tôi dám cá tất cả account đó đều được tạo ra chỉ một mục đích là tung hô cái tuyên bố phiến diện và lếu láo trên, và do cùng 1 người tạo ra. Chưa cần nói đến việc là thông tin đó thật giả thế nào, tôi chỉ cần biết nguồn gốc thông tin không rõ ràng.
Tôi được trực tiếp làm việc trực tiếp với 1 vị trong danh sách trên, người đó luôn là tấm gương cho tôi noi theo trên con đường học tập của mình. Tôi dám khẳng định những thông tin đưa ra ở tài khoản Flickr trên hoàn toàn là rác rưởi.

Thầy Đông A giáo dục dỏm này như sau: Bác có bức xúc gì thì sang bên Flick mà comment. Theo như tôi thấy nguồn thông tin ở trang Flick là nguồn thông tin từ ISI Web of Knowledge, bất kỳ ai cũng có thể kiểm tra nếu thư viện nơi làm việc có thuê bao. Trong một số trường hợp, do tên người Việt viết phức tạp, có thể tra từ ISI không ra hết kết quả. Nếu bác thấy có trường hợp nào như vậy thì comment cho trang Flick, tôi tin là họ sẽ sửa ngay. Cơ sở dữ liệu của ISI là khách quan và công khai.

Dỏm trên “biến hóa” ra “icyborg” và tiếp tục: Bác ĐA nói vậy là không ổn rồi, bác đăng tải thông tin lên blog thì người ta bình luận trên blog của bác là chuyện bình thường thôi.

Tôi thấy bác luôn ủng hộ việc làm của trang Flickr trên và còn tham gia cùng với họ nữa, vậy bác nghĩ sao về những nhận xét trong này này:

Em có copy gửi lại các comment của các thầy lên trang flick nọ. Kết quả là bị xóa và bị ban nick. Họ không bao giờ lắng nghe bất cứ phản biện nào cho dù có trích dẫn ISI, MathSciNet,… chống lại cáo buộc của họ.
Như vậy đây là một trang web bôi xấu cá nhân, nói là phản động cũng không quá.

Em nghĩ họ có động cơ (chính trị):
– Để những người không hiểu biết về chuyên môn (số đông nhiều bạn trẻ) nghĩ ngờ, có thể hiểu là một kiểu “diễn biến tâm lý”.
-Nhằm vào những người làm khoa học làm lãnh đạo (bất kể ai cho dù họ là người nghiên cứu nghiêm túc như GS Thi).

Đây là lời dạy của Thầy Đông A dành cho dỏm: Chính xác thì tôi không tham gia trang Flick đó. Tôi chỉ có một vài comment ở đấy. Về chuyện ông Đào Trọng Thi tôi cũng có comment ở đấy và không hẳn là tán đồng trang Flick.

Tôi nghĩ bác có thể lập ra blog của mình, đưa những comment mà trang Flick đã xóa, để mọi người có thể tham chiếu xem như thế nào. Hay bác có thể đăng toàn bộ comment của bác mà bị trang Flick xóa ở phần comment của entry này của tôi ở đây. Bây giờ chỉ bàn suông thì thật là khó nói.

Xác định một vấn đề nào đấy có phải là chính trị hay không rất mông lung bởi vì chính trị bao trùm lên tất cả các mặt của đời sống. Chính sách khoa học tất nhiên cũng là một vấn đề chính trị. Tôi nghĩ trang Flick sẽ góp phần làm rõ hơn thực trạng khoa học của Việt Nam, đặc biệt là thực trạng nhân sự lãnh đạo trong lĩnh vực khoa học và giáo dục của Việt Nam, và qua đó có thể hình dung thấy những khó khăn trong cải cách chính sách khoa học và giáo dục của Việt Nam, lĩnh vực trọng tâm phát triển của đất nước. Không ai có thể bôi xấu được ai nếu như chính bản thân họ không như vậy. Cách thức chống lại trang Flick tốt nhất là những người bị nêu tên trên trang Flick công khai danh sách công bố khoa học của mình, tôi nghĩ, mọi người đều có thể tham chiếu và nhận định, xem có ai bôi xấu ai không. Công bố khoa học không phải là một giá trị riêng tư (bởi vì công bố có nghĩa là đã công khai, thông báo cho tất cả mọi người quan tâm biết), do đó không có bất cứ một lý do nào để phải che dấu nó

Dỏm nặc danh “icyborg” cảm nhận việc “thuyết phục” Nhà hiền triết Đông A không xong nên quay ra chửi, còn mượn tên học giả gian dối Nguyễn Tiến Zũng để dọa: Tôi thấy bác có những nhận xét khá hàm hồ. Bác cho rằng “không ai bôi nhọ người khác khi họ không như vậy”. Tôi thấy điều đó hoàn toàn không có cơ sở thực tế. Cách Flickr tung tin ít nhiều cũng ảnh hưởng tới những người không biết, gây hiệu ứng tâm lý như comment trên tôi trích có nói.

Bác đẩy trách nhiệm cho những người bị đưa tên trên danh sách đó cũng không thoả đáng. Với điều kiện hiện tại về hạ tầng CNTT, tôi chắc đa phần trong số họ còn chưa có website chính thức, thế thì nói gì tới chuyện công khai danh sách công bố khoa học.

Về chuyện comment bị xoá bác có thể xem trực tiếp trên đó, có rất nhiều thông báo cảnh cáo trống không, buộc tội vu vơ mà chẳng có chứng cứ nào hết. Đơn giản là vì họ đã xoá các comment trước đi rồi. Đấy là cách làm không đàng hoàng theo kiểu cả vú lấp miệng em. Một ví dụ cụ thể chính là cái comment tôi trích trên blog của GS NT Zung, nội dung bị xoá chính là những gì ông Zung đã viết trên blog.

Khi bác đã tham gia comment, lại góp phần giúp học phát tán thông tin qua blog này thì có thể coi bác cũng là người tham gia đóng góp và phát triển trang Flickr đó rồi.

Nhà hiền triết Đông A tung đòn “Mike Tyson” vào phút cuối vì cảm nhận không thể dạy dỗ, giáo dục được các dỏm: Chỗ nào tôi viết: “không ai bôi nhọ người khác khi họ không như vậy”?

Tôi chỉ viết rằng: “Không ai có thể bôi xấu được ai nếu như chính bản thân họ không như vậy.”

Chỉ việc đơn giản này cũng cho thấy khả năng của bác như thế nào khi hiểu hay truyền đạt lại ý kiến của người khác.

Ngoài ra tôi thấy đa số các cơ quan công quyền của Việt Nam đều có website. Ít nhất Đại học quốc gia Hà Nội, Đại học quốc gia TP HCM … đều có website của mình. Không có lý do gì mà các đại học này không thể đưa ra danh sách công trình khoa học của các GS/PGS của mình.

Cuối cùng, blog của tôi là nơi tôi bàn luận, trao đổi về nhiều vấn đề khác nhau trong cuộc sống và xã hội. Tôi bàn luận về một vấn đề nào đấy, bất kể là ủng hộ hay phản đối, không có nghĩa là tôi tham gia vào công việc của vấn đề đấy hay có liên quan tới chúng. Ví dụ như tôi có thể bàn về phim ảnh, không có nghĩa là tôi tham gia làm phim ảnh.

Dỏm giả danh “icyborg” tự thú là hồ đồ, và bắt đầu thay đổi chiến thuật: vừa dụ dỗ, vừa đe dọa Nhà hiền triết Đông A, nghiêm trọng là dỏm lại hết sức thô tục khi đề cập films of pigs: À đoạn đó tôi gõ thiếu, nhưng đoạn sau đã thể hiện khá rõ ý “Flickr có thể tạo hiệu ứng tiêu cực nhất định cho những người thiếu thông tin”. Tôi không nghĩ với người tự tin về khả năng đọc hiểu như bác ĐA lại không hiểu nổi cái hàm ý đơn giản ấy chỉ vì một sai sót về đánh máy khá nhỏ.

Xin thưa thêm với bác rằng website thì đâu cũng có nhưng thế không có nghĩa là họ cung cấp đầy đủ cho các vị GS web riêng để cập nhật. Cho nên vừa rồi bác lại nói rằng: “Cách thức chống lại trang Flick tốt nhất là những người bị nêu tên trên trang Flick công khai danh sách công bố khoa học của mình” thì thật là không công bằng cho họ.

Chuyện hết sức đơn giản, trang web kia chỉ là vô danh, việc ai đó đưa nó lên blog cũng là một hình thức gián tiếp quảng bá cho nó. Khi viết về chuyện gì thì tác giả cũng có phần trách nhiệm của mình trong đó. Tất nhiên nếu bác cho là blog thì viết thoải mái như kiểu trang Flickr trên thì tôi không bình luận. Nếu bác viết về phim con heo theo lối mô tả khía cạnh dung tục chẳng hạn (tôi chỉ ví dụ thế) thì nó sẽ là một vết đen khó rửa trong mắt những ai đọc blog ĐA…

Còn trong chuyện vừa rồi, tôi cũng chưa kết luận bác “ủng hộ hoàn toàn” hay “trực tiếp tham gia nhóm Flickr kia”. Mong bác đừng hiểu nhầm ý tôi!

Thầy Đông A vẫn bình tĩnh, từ tốn, tự tin “tung đòn Evander Holyfield” hạ knockout dỏm và các dạng biến hóa: Tôi không thấy có bất cứ vấn đề nào về ẩn danh. Bởi vì thông tin chính tự bản thân nó chứa đựng nội dung và người tiếp nhận thông tin phải tự xử lý thông tin đó dựa trên sự hiểu biết của chính mình. Nguồn cung cấp thông tin chỉ đóng góp một phần cho người tiếp nhận thông tin trong quá trình xử lý thông tin. Ví dụ như nguồn cung cấp thông tin là cơ quan nhà nước, chẳng hạn như Bộ Giáo dục chẳng hạn, thì người tiếp nhận thông tin sẽ dễ tiếp nhận thông tin đấy là đúng. Nếu nguồn thông tin ẩn danh, như trang Flick chẳng hạn, thì hiển nhiên người tiếp nhận thông tin cần phải thận trọng, kiểm tra và tham chiếu. Còn nếu như với một nguồn tin ẩn danh mà người tiếp nhận thông tin tin ngay lập tức thì rõ ràng người tiếp nhận thông tin có vấn đề trong xử lý thông tin. Ở trên mạng có vô số nguồn tin khác nhau và người đọc phải tự có khả năng chọn lọc cho mình. Như vậy ẩn danh cũng có tác dụng tích cực nhất định, đó là người đọc phải thận trọng hơn. Hơn nữa, ngay từ đầu ẩn danh vốn không có thương hiệu hay uy tín, do vậy chính họ phải tự xây dựng thương hiệu hay uy tín cho mình. Đấy là ý nghĩa tích cực thứ hai của ẩn danh. Tôi nghĩ nếu trang Flick lăng nhăng, bôi xấu thiên hạ thì nó chắc chắn sẽ bị người đời lãng quên.

Tôi giới thiệu trang Flick ở blog của tôi vì vấn đề mà trang Flick đưa ra là một vấn đề hay đối với tôi và tôi quan tâm tới nó. Tôi có thể kiểm chứng được các thông tin mà trang Flick đưa ra, và thực tế tôi có thử kiểm tra một số, ví dụ như về công bố của Bùi Thái Duy. Trang Flick đúng là có một số sai sót nhất định, nhưng tôi thấy đấy không phải là các sai sót mang tính nguyên tắc, chúng chỉ là sai sót mang tính kỹ thuật. Ở đây cần phải phân biệt cho rõ ràng: những sai sót mang tính kỹ thuật và những vấn đề có thể gây tranh cãi. Sai sót mang tính kỹ thuật là sai sót về số lượng công bố khoa học, và sai sót này đều dễ dàng sửa sai, không có bất cứ một vấn đề gì. Những vấn đề có thể tranh cãi là những vấn đề như có tính tới hay không tính tới yếu tố lịch sử, vấn đề các tạp chí của Đông Âu trước đây…

Thông tin về công bố khoa học của các nhân vật công chúng và chức sắc ở Việt Nam mà trang Flick cung cấp, tôi thấy, là thông tin tra được từ cơ sở dữ liệu của ISI, do vậy khó có thể coi chúng là thông tin bôi nhọ. Chúng có thể là thông tin chưa đầy đủ, nhưng không có khó khăn gì để cập nhật lại chúng.

Cuối cùng, tôi không hiểu, nếu trang Flick lăng nhăng, chuyên đi bôi xấu thiên hạ, lại ném đá dấu tay, ẩn danh lẫn vô danh thì bác bận tâm tới nó làm gì?

Trận “so găng” vừa rồi, Thầy Đông A đã hạ knockout dỏm. Không biết dỏm đã bị khuất phục hay chưa, nếu dỏm không biết xấu hỗ thì chắc dỏm sẽ tiếp tục “thách đấu” với Nhà hiền triết Đông A. Xin lưu ý với Thầy Đông A: Thầy cần đề phòng vì dỏm có thể sẽ tung thủ đoạn đê tiện. Đó là tường thuật cho “trận đấu” hôm nay. Xin mời độc giả tiếp tục theo dõi những trận đánh sắp tới, hy vọng sẽ không kém hấp dẫn.

Xin chân thành cảm ơn Thầy Đông A đã vô tư, khách quan và khoa học.

Originally posted 4 months ago. ( permalink )
Tuan Ngoc@ edited this topic 4 months ago.

view photostream

Tuan Ngoc@ says:

Phát hiện có mấy bài viết rất hay của GS Nguyễn Văn Tuấn, xin gởi tặng các GS, PGS dỏm và các học trò dỏm đọc để có ngày tiến bộ:

1. Chung quanh vấn đề xét phong chức danh GS/PGS: tuanvannguyen.blogspot.com/2009/11/chung-quanh-van-e-xet-…

2. Những ngộ nhận về học vị tiến sĩ: tuanvannguyen.blogspot.com/2009/09/nhung-ngo-nhan-ve-hoc-…
Posted 3 months ago. ( permalink )

view photostream

Tuan Ngoc@ says:

GS, PGS dỏm: dốt, lười biếng hay nhà nước không đầu tư?

Đây có thể là một trả lời: tuanvannguyen.blogspot.com/2010/04/tu-quang-cao-cong-trin…

Posted 3 months ago. ( permalink )

view photostream

Hoa1950 says:

Anh Phạm Duy Hiển là người có đóng góp lớn trong việc quốc tế hóa NCKH ở nước ta. Đúng vậy, kể từ bài viết dưới đây mà giới làm khoa học Vietnam rất ngạc nhiên và nhìn lại.

vietnamnet.vn/khoahoc/vande/2006/01/532815/
Originally posted 3 months ago. ( permalink )
Tạp Chí GS Dỏm Việt Nam – JIPV edited this topic 3 months ago.

view photostream

Tuan Ngoc@ says:

Link của bác Hoa1950 quá hay.

Riêng tôi thì đến bây giờ vẫn chưa hiểu tại sao các GS dỏm và học trò dỏm lúc nào cũng “tung bài chính trị” khi bị người đời phát hiện họ có trình độ dỏm ( theo lý giải của bạn bè thì tôi được biết “bí quá phải mượn chính trị để nổ và chụp cho bớt xấu hỗ” chứ sao!). Thật ra thì khoa học dỏm thù hận khoa học nghiêm túc thì cũng phải. Do đó để khoa học nước ta phát triển thì khoa học dỏm và khoa học nghiêm túc phải “hoà hợp”? Như bác Tuấn đề cập trong link này:

tuanvannguyen.blogspot.com/2010/04/ngay-304-va-chuyen-hoa…

Khi nam nữ gần nhau thì người ta hay lo sợ “cháy nhà”. Theo tôi nếu khoa học dỏm và khoa học nghiêm túc hòa hợp thì “bán nhà”.

Cũng rất may cho nước ta là còn nhiều người không muốn chứng kiến cảnh “bán nhà” xảy ra.
Originally posted 3 months ago. ( permalink )
Tuan Ngoc@ edited this topic 3 months ago.

view photostream

Hoa1950 says:

Bác TuanNgoc@ so sánh rất hài hước và phù hợp: ” Khi nam nữ gần nhau thì người ta hay lo sợ “cháy nhà”. Theo tôi nếu khoa học dỏm và khoa học nghiêm túc hòa hợp thì “bán nhà”.
Cũng rất may cho nước ta là còn nhiều người không muốn chứng kiến cảnh “bán nhà” xảy ra.”
Posted 3 months ago. ( permalink )

view photostream

Tạp Chí GS Dỏm Việt Nam - JIPV is a group administrator Tạp Chí GS Dỏm Việt Nam – JIPV says:

Admin@: JIPV cảm ơn hai bác đã đưa tin. Hai bác hợp nhau ghê nhỉ, đặc biệt là vụ “cháy nhà”! JIPV cũng xin góp ý các GS, PGS dỏm: phải ngưng làm khoa học dỏm ngay, phải tập trung nghiên cứu nghiên túc ngay, không được “bán nhà”.
Originally posted 3 months ago. ( permalink )
Tạp Chí GS Dỏm Việt Nam – JIPV edited this topic 3 months ago.

view photostream

Hoa1950 says:

Có trường hợp GS thật nhưng đã ngưng làm khoa học từ lâu, nhưng vẫn nhân danh làm khoa học, thậm chí còn nằm trong Hội đồng nầy nọ,…để làm những nhiệm vụ quan trọng. Vận dụng ý tưởng của bác TuanNgoc@ trong trường hợp nầy là: vì hết tiền phải “bán nhà”.
Posted 3 months ago. ( permalink )

TCHGGD [deleted] says:

Thật ra không phải mấy lão ấy hết tiền, mà là hết khả năng làm nghiên cứu nghiêm túc (như vậy có thể bác Hoa1950 ngụ ý tiền là khả năng nghiên cứu không dỏm phải không?). Nhưng lúc nào mấy lão cũng muốn chứng tỏ “ta đây”, và lúc nào cũng lo sợ “nếu mấy anh nghiên cứu nghiêm túc vào các hội đồng thì mình vừa mất cơ hội làm ăn và có nguy cơ bị phát hiện dỏm nữa”.

Do đó cách “tốt nhất”, dù “phản khoa học nhất” là phải tiếp tục “nằm” trong các hội đồng bằng mọi giá: vừa kiếm ăn, vừa góp phần ngăn chặn những ai dám hiên ngang làm khoa học nghiêm túc.

Nhân đây cũng xin gởi vài lời vàng ngọc đến các GS dỏm: khi thấy mình “bất lực” (dỏm) thì không nên nằm lăng lóc trong các Hội đồng để bóp chết khoa học của đất nước.
Originally posted 3 months ago. ( permalink )
TCHGGD edited this topic 3 months ago.

view photostream

Tuan Ngoc@ says:

Thói ngụy biện ở người Việt

Tranh luận trên các diễn đàn công cộng là một hình thức trao đổi ý kiến không thể thiếu được trong một xã hội văn minh. Ở nhiều nước, lưu lượng của những tranh luận cởi mở và nghiêm túc được xem là một dấu hiệu của một xã hội lành mạnh. Ở các nước phương Tây, hầu như ngày nào báo chí cũng có những bài của những cây bỉnh bút tranh luận về một vấn đề nóng nào đó. Trên tivi cũng có những cuộc tranh luận trực tiếp giữa hai hay nhiều người về những chủ đề từ “đại sự” đến những vấn đề tưởng như nhỏ nhất. Trong các hội nghị khoa học, trước một vấn đề còn trong vòng nghi vấn, người ta cũng có những chuyên gia tranh luận dưới dạng những bài giảng khoa học.

Nhưng thế nào là tranh luận nghiêm túc? Nói một cách ngắn gọn, cũng như trong một cuộc đấu võ, một tranh luận nghiêm túc là một cuộc tranh luận có qui tắc, mà trong đó người tham gia không được, hay cần phải tránh, phạm luật chơi. Những qui tắc chung và căn bản là người tham gia chỉ phát biểu bằng cách vận dụng những lí lẽ logic, với thái độ thành thật và cởi mở, chứ không phát biểu theo cảm tính, lười biếng, hay biểu hiện một sự thiển cận, đầu óc hẹp hòi.

Để đạt những yêu cầu này, người tranh luận nghiêm túc trước khi phát biểu hay đề xuất ý kiến, đưa ra lời bình phẩm của mình, cần phải xem xét tất cả các trường hợp khả dĩ, phải cân nhắc những quan điểm và những cách giải thích khác nhau, phải đánh giá ảnh hưởng của sự chủ quan và cảm tính, phải tập trung vào việc tìm sự thật hơn là muốn mình đúng, phải sẵn sàng chấp nhận những quan điểm không được nhiều người ưa chuộng, và phải ý thức được định kiến và chủ quan của chính mình. Khi tranh luận phải nhất quán là chỉ xoay quanh chủ đề bàn luận, luận điểm bàn luận chứ không đi lạc đề. Không công kích vào cá nhân và nhân thân của người tham gia tranh luận.

Đó là những đòi hỏi khó khăn cho một cuộc tranh luận nghiêm túc có ý nghĩa, và không phải ai cũng có khả năng đạt được những yêu cầu này, nhất là đối với người Việt vốn chưa quan với văn hóa tranh luận. Do đó, không mấy ai ngạc nhiên khi thấy có quá nhiều trường hợp chất lượng của những cuộc tranh luận giữa người Việt rất thấp. Chỉ cần xem qua những cái-gọi-là “tranh luận” trên các diễn đàn báo chí (và nhất là các “chat room” hay blog), người ta có thể thấy đó không phải là tranh luận, mà là những cuộc đụng độ giũa các cá nhân tham gia tranh luận, những cuộc chửi bới, chẳng có lí luận của người tranh luận. Ngoài ra, đối với một số người tham gia bình luận về một câu chuyện nào đó là một cuộc dàn xếp, một sự đóng kịch, nhằm tung hỏa mù hoặc lên lớp, hoặc a dua theo đám đông. Đó là những kịch bản ngớ ngẩn đến tội nghiệp. Ngớ ngẩn là vì người xuất hiện chẳng nói được gì cho đầy đủ, mà cũng chẳng phân tích một vấn đề gì cho đến nơi đến chốn.

Thật vậy, rất nhiều trường hợp, những cuộc tranh luận giữa người Việt chỉ là những cuộc chửi lộn, mà trong đó người ta tha hồ vung vít, ném liệng vốn liếng chữ nghĩa qua lại một cách hỗn độn, mà chẳng cần để ý đến logic hay các nguyên tắc của tranh luận là gì. Hơn nữa, rất dễ dàng nhận thấy rằng trong các cuộc tranh luận đó người ta nhắm vào mục tiêu là nhân thân, cá nhân của người tranh luận chứ không nhắm vào quan điểm và lí lẽ của người đó. Thay vì tranh luận thẳng vào vấn đề, người ta tìm cách gắn cho đối phương một nhãn hiệu, và từ đó làm lu mờ đi quan điểm của họ. Trong hầu như những tranh luận, nhiều người cố tìm hay tạo cho mình một vị trí đạo cao đức trọng cả bằng cách gắn cho đối phương những danh từ và tính từ mang tính miệt thị, một thủ đoạn có khả năng làm cho một cuộc tranh luận trở nên một cuộc ẩu đã ngôn từ đinh tai nhức óc thay vì là một trao đổi khoa học.

Thực ra, đó là một hình thức ngụy biện, một lỗi lầm cơ bản nhưng nghiêm trọng trong tranh luận. Nói một cách đơn giản, ngụy biện là những nhầm lẫn trong lí luận và suy luận. Ngụy biện khác với logic. Logic, nói một cách ngắn gọn trong trường hợp này, là những qui ước quản lí tính nhất quán trong việc sử dụng ngôn ngữ. Giới triết học Tây phương đã bỏ khá nhiều công sức để phân biệt thế nào là logic và thế nào là ngụy biện. Aristotle có lẽ là một nhà logic học đầu tiên có công phát triển các qui tắc và hệ thống suy luận. Trong quá trình làm việc, ông phát hiện ra nhiều lỗi lầm mà sau này người ta quen gọi là những “ngụy biện.” Mặc dù Aristotle là một nhà nhà logic học đầu tiên có công liệt kê và phân loại những loại ngụy biện, thầy của ông (Plato) mới xứng đáng được vinh danh như là một nhà triết học đầu tiên đã có công sưu tầm những ví dụ về ngụy biện. Kể từ khi Plato và Aristotle, đã có khá nhiều nhà triết học và logic học như John Locke, John Stuart Mill, Jeremy Bentham, và Arthur Schopenhauer cũng có nhiều cống hiến quan trọng trong việc nghiên cứu về ngụy biện.

Điều đáng chú ý là những lỗi lầm về ngụy biện ở người Việt lại hay thấy trong giới có học. Chỉ cần điểm qua báo chí, websites, blog, v.v… chúng ta dễ dàng thấy rất nhiều cái-gọi-là “tranh luận” thật ra chỉ là ngụy biện. Tuy nhiên, nhiều người vẫn chưa biết đó là những ngụy biện, mà thậm chí còn hết lời khen ngợi kẻ ngụy biện là … uyên bác! Điều này cho thấy trong những người Việt học cũng có người rất lười biếng suy nghĩ và chẳng phân biệt được thật và giả, không có khả năng nhận dạng được ngụy biện. Phải ghi nhận một điều là internet đã rất tuyệt vời, vì qua những “tranh luận” và chửi bới của những kẻ tham gia trên internet, chúng ta biết được bộ mặt xấu xí đằng sau những người mang nhãn mác “trí thức” hay “có học”. Những kẻ này tương đối nguy hiểm, vì với cái nhãn mác “có học” đó, họ có cơ hội làm lũng đoạn xã hội và trở thành những con vi khuẩn làm nhiễm trùng nền học thuật nước nhà. Do đó, cần phải giúp họ nhận ra đâu là ngụy biện và đâu là logic.

Thực ra, nhận dạng ngụy biện không phải là một việc làm khó khăn. Nói chung chỉ với một lương năng bình dân, người ta có thể phân biệt một phát biểu mang tính ngụy biện với một phát biểu logic. Tuy nhiên, cũng có nhiều dạng thức ngụy biện mà vẻ bề ngoài hay mới nghe qua thì rất logic, nhưng thực chất là phi logic. Những loại ngụy biện núp dưới hình thức “khoa học” này không dễ nhận dạng nếu người đối thoại thiếu kiến thức về logic học hay thờ ơ với lý lẽ. Do đó, một điều quan trọng trong tranh luận là cần phải phát hiện và nhận dạng những hình thức ngụy biện, và quan trọng hơn, cần phải hiểu tại sao chúng sai. Có thể phân loại ngụy biện thành nhiều nhóm khác nhau liên quan đến việc đánh lạc vấn đề, lợi dụng cảm tính, thay đổi chủ đề, nhầm lẫn trong thuật qui nạp, lý luận nhập nhằng, phi logic, và sai phạm trù. Trong khuôn khổ giới hạn, người viết bài này không có tham vọng trình bày tất cả những loại ngụy biện một cách chi tiết (vì việc này đã được hệ thống hóa trong nhiều sách về logic học), mà chỉ muốn liệt kê ra những loại ngụy biện thường hay gặp trong báo chí và truyền thông, hầu giúp bạn đọc có thể phân biệt giữa chân và giả.

Liệt kê sau đây là một loạt những ngụy biện phổ biến hay thấy ở người Việt. Những ngụy biện này có thể phân thành 7 nhóm như sau:

• Đánh tráo chủ đề
• Lợi dụng cảm tính và đám đông
• Làm lạc hướng vấn đề
• Qui nạp sai
• Nhập nhằng đánh lận con đen
• Phi logic
• Các nhầm lẫn khác

Nhóm 1. Đánh tráo chủ đề

1. Công kích cá nhân (ad hominem). Đây là một loại ngụy biện phổ biến nhất, thấp kém nhất, nguy hiểm nhất, nhưng có “công hiệu” nhất, vì nó tấn công vào cá nhân của người tranh luận, và tìm cách trốn tránh luận điểm của cá nhân đó. Hình thức ngụy biện này thường xuất hiện dưới dạng: Ông A phát biểu về một vấn đề; ông B tấn công vào cá nhân ông A, và làm cho người ta nghi ngờ luận điểm của ông A. Tuy nhiên, có thể không có mối liên hệ nào giữa cá nhân và luận điểm của ông A.

Có hai hình thức thuộc loại ngụy biện này. Thứ nhất là dưới hình thức sỉ nhục, hay chửi rủa. Khi bất đồng ý kiến, người ngụy biện chỉ việc công kích vào cá nhân của người phát biểu. Chẳng hạn như “Ông nói là những người vô thần có đạo đức, vậy mà chính ông là người từng li dị với vợ con,” hay “Ông là người làm kinh tế, không biết gì về khoa học, mà nói chuyện khoa học”. Đây là một ngụy biện, bởi vì sự thật của phát biểu không tùy thuộc vào cá nhân của người phát biểu, mà là logic của lời phát biểu. Cũng nằm trong loại ngụy biện này là thói dùng một đặc điểm của một vật thể nào đó để ứng dụng cho một cá nhân hay một vật thể khác. Ví dụ: “Anh học của Tây có vài chữ mà đã quay lại chửi bới đồng nghiệp à? Anh là con công cháu cha, anh không hiểu gì về sự nghèo khổ của chúng tôi.”

2. Lợi dụng quyền lực (ad verecundiam). Đây là loại ngụy biện dùng những nhân vật nổi tiếng hay được nhiều người ái mộ để tìm sự ủng hộ cho luận điểm của mình. Chẳng hạn như “Isaac Newton là một thiên tài, và ông tin vào Thượng đế,” làm như ông Newton là người có thẩm quyền để chúng ta tin vào Thượng đế. Thẩm quyền không thuyết phục được ai; chỉ có sự thật, lí lẽ và logic mới quan trọng và có khả năng thuyết phục.

3. Lợi dụng nặc danh. Trong trường hợp này, người ngụy biện không nêu danh tính người có thẩm quyền, và vì không ai biết tên người có thẩm quyền nên không ai có thể kiểm chứng sự chính xác của lời phát biểu. Một loại ngụy biện khác có quan hệ với loại này là dùng lời đồn đại để làm cơ sở lập luận. Giới công an hay sử dụng ngụy biện này, ví dụ như “Một viên chức tình báo cho biết chính anh từng hoạt động cho địch.”

4. Lợi dụng tác phong. Loại ngụy biện này dùng tác phong hay cách làm việc hay một đặc tính nào đó của đối tượng để cố thuyết phục về tính hợp lí của phát biểu. Tiêu biểu cho loại ngụy biện này là những phát biểu như “Nixon thất cử vì ông ta thường hay ra mồ hôi trên trán,” hay “Tại sao anh không nghe theo lời khuyên của anh chàng ăn mặc bảnh bao đó?” Thực ra, “bảnh bao” và “mồ hôi trên trán” chẳng có dính dáng gì đến vấn đề đang bàn thảo.

5. Luận điệu cá trích. Loại ngụy biện này thường hay được ứng dụng khi một người nào đó đưa vào những phát biểu không dính dáng gì đến vấn đề đang tranh luận, nhằm mục đích đánh lạc hướng vấn đề. Ví dụ: “Anh có thể nói rằng tử hình là một hình thức không có hiệu quả trong việc chống lại tội phạm, nhưng còn nạn nhân của tội phạm thì sao? Gia đình của nạn nhân sẽ nghĩ gì khi họ thấy tên sát nhân người thân của họ bị giam giữ trong nhà tù bằng đồng tiền của chính họ. Họ có nên nuôi dưỡng những tên sát nhân như thế không?”

6. Luận điệu ngược ngạo. Bằng chứng luôn luôn là gánh nặng của người phát biểu. Do đó, tìm cách chuyển gánh nặng đó cho một người khác là một thủ đoạn của những người ngụy biện. Chẳng hạn như trong câu này “Anh nói rằng ăn nhiều mỡ không liên quan đến cholesterol, nhưng anh có thể chứng minh điều đó không?” Đáng lẽ người phát biểu phải chứng minh, nhưng công việc đó lại được chuyển cho người đối thoại!

Nhóm 2. Lợi dụng cảm tính và đám đông

7. Dựa vào bạo lực (ad baculum). Ngụy biện dựa vào bạo lực thực chất là một sự đe dọa, nhằm mục đích gây áp lực cho người đối thoại phải chấp nhận một kết luận nào đó. Loại ngụy biện này thưởng được giới chính khách dùng, và có thể tóm gọn bằng một câu “chân lí thuộc về kẻ mạnh”. Sự đe dọa không hẳn chỉ xuất phát từ người phát biểu, mà có thể từ một người khác. Ví dụ như “Những ai không tin vào chính sách của Nhà nước sẽ phải trả giá đắt”, hay “Được rồi, tôi đã biết số điện thoại của anh và biết anh đang ở đâu. À, tôi có nói cho anh biết là tôi mới mua một cây súng ngắn chưa nhỉ?”

8. Lợi dụng lòng thương hại (ad misericordiam). Đây là một loại ngụy biện dựa vào lòng trắc ẩn của người đối thoại để người đối thoại chấp nhận lí lẽ của mình. Ví dụ như “Anh ấy không có giết người bằng búa. Làm ơn đừng tuyên án anh ấy có tội, anh ấy đang trải qua một giai đoạn khủng hoảng tinh thần,” hay “Tôi hi vọng anh sẽ chấp nhận đề nghị này, chúng ta đã tiêu ra ba tháng nay để bàn rồi đấy.”

9. Lợi dụng hậu quả (ad consequentiam). Ngụy biện loại này thường được biểu hiện qua cách phát biểu “A hàm ý B, B là sự thật, do đó A là sự thật”. Ví dụ: “Nếu vũ trụ được một đấng chí tôn thượng đế tạo nên, chúng ta có thể thấy những hiện tượng được tổ chức một cách thứ tự. Và hiện tượng chung quanh chúng ta quả rất thứ tự, vậy đấng chí tôn thượng đế chính là người tạo nên vũ trụ,” hay “Anh phải tin vào Đảng Cộng hòa, chứ nếu không cuộc đời này sẽ chẳng có ý nghĩa” (hay là nói một cách ngược lại: cuộc sống này chẳng có ý nghĩa gì nếu không có Đảng cộng hòa!)

10. Lạm dụng chữ nghĩa. Đây là một loại ngụy biện dựa vào dùng những chữ mang cảm tính cao để gắn một giá trị đạo đức vào một đề nghị hay một câu phát biểu. Chẳng hạn như trong câu “Bất cứ một người có lương tri nào cũng phải đồng ý rằng về Việt Nam ăn Tết là làm lợi cho cộng sản,” chữ “lương tri” được cài vào nhằm cho người đối thoại phải nghiêng theo những người có lương tri.

11. Dựa vào quần chúng (ad numerum). Loại ngụy biện này tin rằng nếu có nhiều người ủng hộ một đề nghị nào đó, thì đề nghị đó phải đúng. Ví dụ như “Đại đa số người dân trong cộng đồng ủng hộ ông Minh, vậy phát biểu của ông Minh ắt phải đúng.”

Nhóm 3. Làm lạc hướng vấn đề

12. Lí lẽ chẻ đôi. Loại ngụy biện này thường phân định một vấn đề thành hai giá trị: trắng và đen, bạn và thù, có và không, v.v.. dù trong thực tế, có hơn hai lựa chọn. Chẳng hạn như “Hoặc là anh hợp tác với tôi hay là anh chống tôi, anh chọn hướng nào, yes hay là no?”

13. Lí lẽ ngờ nghệch (ad ignorantiam). Loại ngụy biện này, như tên gọi ám chỉ, xuất phát từ sự ngớ ngẩn. Một trong những cách nói thông thường nhất trong loại ngụy biện này mà giới ngụy biện hay dùng là nếu một điều gì đó chưa được chứng minh là sai (hay giả) thì điều đó là đúng (hay thật). Ví dụ: “Bởi vì các nhà khoa học chưa chứng minh dioxin có thể gây ra dị thai, do đó dioxin không thể gây ra dị thai,” hay kiểu lí luận của “nền kinh tế phát triển và xã hội ổn định mấy năm nay, không có lý do gì phải cần đến dân chủ”.

14. Lí luận lươn trạch. Loại ngụy biện này cho rằng nếu một sự kiện xảy ra, các sự kiện có hại khác sẽ xảy ra. Chẳng hạn như “Nếu chúng ta hợp pháp hóa cần sa, công chúng sẽ bắt đầu hút cần sa, và chúng ta cũng sẽ phải hợp pháp hóa á phiện. Rồi chúng ta sẽ là một quốc gia với những người ăn bám vào xã hội. Do đó, chúng ta không thể hợp pháp hóa á marijuana”. Hay một đoạn ví dụ khác:” Tiếc thay một cuộc cải cách về kinh tế, bình bị, tài chánh, xã hội, nông nghiệp như vậy, đang trên đường thành công rực rỡ: bị tan vỡ, bị huỷ bỏ chỉ vì tham vọng đánh Đại việt của Vương An Thạch. Mà đau đớn biết bao, khi người phá vỡ chỉ là một thiếu phụ Việt ở tuổi ba mươi. Giá như Thạch không chủ trương Nam xâm, chỉ cần mười năm nữa, toàn bộ xã hội Trung quốc thay đổi; rồi với cái đà đó, thì Trung quốc sẽ là nước hùng mạnh vô song, e rằng cứ muôn đời mặt trời vẫn nở phương Đông chứ không ngả về Tây như hồi thế kỉ 18 cho đến nay bao giờ.”

15. Mệnh đề rời rạc. Đây là loại ngụy biện dùng hai (hay nhiều hơn hai) mệnh đề chẳng dính dáng gì với nhau để làm thành một phát biểu hay kết luận. Ví dụ: “Anh ủng hộ tự do dân chủ và quyền mang vũ khí hay không?” hay “Anh đã ngưng làm ăn trái phép chưa?” Câu hỏi sau thực ra hỏi hai vấn đề “Anh từng làm ăn trái phép?” và “Anh đã ngừng hoạt động hay chưa?”
16. Đơn giản hóa. Đây là một loại ngụy biện mà người phát biểu cố tình biến một quan niệm trừu tượng thành một điều cụ thể để bắt lấy thế thượng phong trong đối thoại (nhưng là ngụy biện). Ví dụ: “Tôi để ý thấy anh mô tả ông ta là một người quỉ quyệt. Vậy tôi hỏi anh cái “quỉ quyệt” đó nó nằm ở đâu trong bộ não? Anh không chỉ ra được cho tôi; do đó, tôi có thể nói cái quỉ quyệt không có thực.”

Nhóm 4. Qui nạp sai

17. Khái quát hóa vội vã. Loại ngụy biện này cũng khá phổ biến. Nó dùng một ví dụ hay trường hợp nhỏ và từ đó khái quát hóa cho một cộng đồng. Chẳng hạn như “Ông ấy là một tay đạo đức giả. Do đó, các bạn bè của ông ấy cũng giả dối.”

18. Khái quát hóa không đúng chỗ. Đây là loại ngụy biện mà người sử dụng chúng thường áp dụng một qui luật chung cho một tình huống hay một cá nhân. Chẳng hạn như “Người cộng sản là vô thần. Anh là người theo chủ nghĩa cộng sản, vậy anh chắc chắn là một người vô thần.”

19. Kéo dài tính tương đồng. Trong loại ngụy biện này, người dùng nó đề nghị một điều lệ chung chung, rồi áp dụng nó cho mọi trường hợp và cá nhân. Ví dụ: “Tôi tin rằng chống luật pháp bằng cách phạm luật pháp là một điều sai trái”, hay “Nhưng quan điểm đó ghê tởm lắm, vì nó ám chỉ rằng anh sẽ không ủng hộ tôi,” hay “Anh muốn nói rằng luật về mật mã cũng có tầm quan trọng tương đương với phong trào giải phóng sao? Sao anh dám nói thế?”

20. Lí lẽ quanh co. Loại ngụy biện này thường luẩn quẩn trong vài giả định và kết luận. Chẳng hạn như “Những người đồng tính luyến ái nhất định không thể nắm chính quyền. Do đó, phải tống khứ những viên chức chính phủ đồng tính luyến ái. Vì thế, những người đồng tính luyến ái sẽ làm mọi cách để dấu diếm hành tung của họ, và họ có nguy cơ bị tống tiền. Do vậy, những người đồng tính luyến ái không được giữa chức vụ gì trong chính phủ.” Tức là trong một lí giải như thế, cả hai giả thuyết và kết luận đều giống nhau.

21. Đảo ngược điều kiện. Loại ngụy biện này thường được biểu hiện qua hình thức “Nếu A xảy ra thì B sẽ xảy ra, do đó, nếu B xảy ra thì A sẽ xảy ra.” Ví dụ: “Nếu tiêu chuẩn giáo dục bị hạ thấp, chất lượng tranh luận sẽ bị tồi đi. Do đó, nếu chúng ta thấy chất lượng tranh luận suy đồi trong những năm sắp đến, thì điều đó cho thấy tiêu chuẩn giáo dục của ta bị xuống cấp.”

22. Lợi dụng rủi ro. Ngụy biện này thường dùng một qui luật chung và áp dụng nó cho một trường hợp cá biệt. Ví dụ: “Luật giao thông không cho anh chạy quá 50 km/h. Cho dù cha anh sắp chết anh cũng không được chạy quá tốc độ đó.”

23. Lợi dụng trường hợp cá biệt. Ngụy biện này thường dùng một trường hợp cá biệt để đem ra ứng dụng cho một đám đông. Ví dụ: “Chúng ta cho phép bệnh nhân sắp chết dùng á phiện, chúng ta nên cho phép mọi người dùng á phiện.”

24. Kết luận lạc đề. Loại ngụy biện này thường xuất hiện khi một kết luận chẳng dính dáng gì đến lí lẽ mà người biện luận trình bày. Một ví dụ tiêu biểu cho trường hợp ngụy biện này là: “Độ nhiễm arsenic trong nước ở Việt Nam chưa cao và còn trong mức độ cho phép. Dữ kiện của Bangladesh cho thấy tình trạng nhiễm arsenic ở Việt Nam rất trầm trọng.”

25. Ngụy biện rơm. Loại ngụy biện này cố tình xuyên tạc, bóp méo quan điểm hay phát biểu của người khác, để làm luận điểm tấn công. Đây là một ngụy biện, vì nó không đương đầu với cái lí lẽ đang bàn. Chẳng hạn như: “Chúng ta nên ủng hộ chế độ cưỡng bách quân dịch. Người ta không thích tòng quân vì họ không muốn cuộc sống bị đảo lộn. Nhưng họ cần nhận thức rằng có nhiều điều quan trọng hơn tiện nghi trong cuộc sống.”
Nhóm 5. Nguyên nhân giả tạo

26. “Post hoc”. Loại ngụy biện này phát biểu rằng hai sự kiện xảy ra, một trước và một sau, có quan hệ với nhau như nguyên nhân và hậu quả. Ví dụ: “Liên Xô sụp đổ sau khi nhà nước theo chủ nghĩa vô thần. Do đó, chúng ta phải từ bỏ chủ nghĩa vô thần để khỏi bị suy sụp.”

27. Ảnh hưởng liên đới. Một sự kiện được cho là có ảnh hưởng đến một sự kiện khác, nhưng thực chất thì cả hai sự kiện đều có cùng một nguyên nhân. Đây cũng chính là một trường hợp ngụy biện dưới dạng “post hoc”. Ví dụ: “Chúng ta đang chứng kiến một tình trạng thất nghiệp rất cao, vì do thiếu nhu cầu của người tiêu thụ.” (Nhưng có thể cả hai sự kiện có nguyên nhân từ tiền lời quá cao.)

28. Ảnh hưởng không đáng kể. Đây là một loại ngụy biện mang tính phóng đại từ một ảnh hưởng rất nhỏ. Chẳng hạn như “Hút thuốc gây ra ô nhiễm môi trường ở Sydney” là một phát biểu đúng, nhưng ảnh hưởng của thuốc lá đến môi trường rất khiêm tốn khi so với ảnh hưởng của khói xe và các hãng xưởng.

29. Ảnh hưởng ngược chiều. Mối quan hệ giữa nguyên nhân và hậu quả bị đảo ngược chiều để tìm đến một kết luận mang tính ngụy biện. Ví dụ: “Ung thư gây ra thói quen hút thuốc lá”.
30. Nguyên nhân phức tạp. Một sự kiện xảy ra có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng người ngụy biện có thể đơn giản hóa thành một liên hệ đơn giản. Chẳng hạn như “Tai nạn xe cộ là do đường xá xấu” có thể đúng, nhưng tai nạn cũng có thể do người lái xe ẩu trong một điều kiện xấu.

31. Nguyên nhân sai (Non causa pro causa). Loại ngụy biện này xảy ra khi một điều nào đó được cho là nguyên nhân của một sự kiện, nhưng nó chưa thực sự được chứng minh là nguyên nhân. Ví dụ: “Tôi uống một viên aspirin và cầu nguyện thượng đế, và tôi không còn bị nhức đầu. Như vậy thượng đế đã chữa trị tôi khỏi nhức đầu.”

Nhóm 6. Phi logic (non sequitur) và nhần lẫn trong tam đoạn luận

32. Phi logic. Ngụy biện phi logic thường xảy ra trong trường hợp một lí lẽ mà kết luận được rút ra từ những tiêu đề không dính dáng gì với nhau. Chẳng hạn như “Người Ai Cập đã từng làm nhiều khai quật để xây dựng những kim tự tháp, họ chắc chắn phải rất thạo về cổ sinh vật học.”

33. Loại bỏ tiền đề. Ngụy biện loại này thường xảy ra dưới hình thức “nếu A thì B, không phải A thì không phải B.” Ví dụ: “Nếu tôi ở Sydney thì tôi đang ở New South Wales. Tôi hiện không ở Sydney, do đó, tôi không ở New South Wales”.

34. Nhét chữ vào miệng người khác. Đây là một loại ngụy biện bằng cách dùng kĩ thuật phỏng vấn. Một trường hợp cổ điển là “Ông đã ngưng đánh vợ chưa?” Tức là một câu hỏi với một giả định rằng người được hỏi từng hành hung vợ. Đây là một mẹo mà giới luật sư thường hay dùng trong thẩm vấn. “Ông dấu tiền ăn cắp đó ở đâu?” Giới chính khách cũng thích mẹo này, đại khái như “Bao giờ thì nhóm EU này sẽ không còn xâm phạm vào công việc của chúng ta?”
35. Ngụy biện tứ ngữ. (Một tiêu chuẩn của tam đoạn luận gồm có 3 chữ). Ví dụ như trong câu phát biểu “Tất cả chó là thú vật, và tất cả mèo là loài động vật có vú, do đó tất cả chó là loài động vật có vú,” có bốn chữ: chó, mèo, động vật, và động vật có vú.

36. Đứt đoạn. Hai sự vật riêng biệt được xem là có liên hệ nhau nếu chúng có chung đặc tính. Người ngụy biện lợi dụng chữ giữa của một phát biểu để đưa đến một kết luận sai. Chẳng hạn như trong câu “Tất cả người Nga là nhà cách mạng, và tất cả những người theo chủ nghĩa vô chính phủ cũng là nhà cách mạng, do đó, tất cả những người theo chủ nghĩa vô chính phủ là người Nga,” chữ chính giữa là “nhà cách mạng”. Nhưng kết luận này sai, vì dù những người theo chủ nghĩa vô chính phủ và người Nga là những người cách mạng, nhưng họ có thể là hai nhóm cách mạng khác nhau.

Nhóm 7. Các nhầm lẫn khác

37. Dẫn chứng bằng giai thoại. Một trong những ngụy biện phổ biến nhất và đơn giản nhất là dựa vào những câu chuyện có tính vụn vặt, hay giai thoại. Chẳng hạn như “Có hàng khối bằng chứng cho thấy thượng đế hiện hữu và vẫn ban phép mầu hàng ngày. Mới tuần rồi đây, tôi có đọc được một câu chuyện về một cô gái sắp chết vì ung thư, cả gia đình cô đi cầu nguyện trong nhà thờ, và chỉ vài ngày sau cô hết bệnh.” Dùng kinh nghiệm cá nhân để minh họa cho một luận điểm là một điều hoàn toàn hợp lí, nhưng dùng những giai thoại như thế sẽ chẳng chứng minh gì. Một anh bạn có thể cho rằng anh từng gặp Elvis ở một siêu thị nào đó, nhưng những người chưa gặp Elvis bao giờ thì cần nhiều bằng chứng xác thực hơn.

38. Lợi dụng cổ tích. Đây là một loại ngụy biện cho rằng những gì đúng hay tốt chỉ đơn giản vì chúng là cổ xưa, và những người theo cách ngụy biện này thường nói “hồi nào đến giờ ai cũng vậy.” Chẳng hạn như “Hàng trăm năm nay, Úc chịu dưới sự cai trị của Hoàng gia Anh, và là một nước thịnh vượng. Một thể chế tồn tại lâu dài như thế ắt phải là một thể chế ưu việt.”

39. Dựa vào cái mới (ad novitatem). Ngược lại với loại ngụy biện dựa vào cái cũ, ngụy biện dựa vào cái mới cho rằng một điều gì đó tốt hơn và đúng hơn đơn giản chỉ vì nó mới hơn cái khác. “Windows 2000 phải tốt hơn Windows 95, Windows 2000 mới được thiết kế lại năm ngoái.”
40. Lí lẽ của đồng tiền. Loại ngụy biện này thường dựa vào một niềm tin duy nhất rằng đồng tiền là một tiêu chuẩn của sự đúng đắn. Những người có nhiều tiến có khả năng đúng hơn những người ít tiền. Chẳng hạn như “Nhu liệu của hãng Microsoft đương nhiên là tốt hơn; nếu không thì làm sao Bill Gates có thể trở nên tỉ phú như thế”.

41. Dựa vào cái nghèo. Ngược lại với ngụy biện dựa vào sự giàu có, có một loại ngụy biện khác dựa vào sự nghèo khổ. Chẳng hạn như “Các vị sư có khả năng hiểu thấu được ý nghĩa của cuộc sống, bởi vì họ từ bỏ mọi xa hoa của cuộc sống.”

42. Điệp khúc (ad nauseam). Loại ngụy biện này cho rằng một lí lẽ càng được lặp đi lặp lại nhiều chừng nào thì nó sẽ được người ta chấp nhận là đúng. Do đó, người ngụy biện thường chỉ lặp đi lặp lại những phát biểu, bất kể đúng sai ra sao, cho đến khi người đối thoại mệt mỏi không còn muốn nghe nữa, như “Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, nhà nước quản lí”.

43. Lạm dụng thiên nhiên. Đây là một ngụy biện rất thông thường trong giới chính trị gia, mà trong đó họ tìm cái tương đồng giữa một kết luận nào đó và một khía cạnh của thế giới tự nhiên, rồi từ đó phát biểu rằng kết luận đó là không thể tránh khỏi. Chẳng hạn như “Đặc điểm của thế giới tự nhiên là cạnh tranh; động vật đấu tranh chống nhau để làm chủ tài nguyên thiên nhiên. Chủ nghĩa tư bản, một hình thức cạnh tranh để làm chủ tư liệu, chỉ đơn giản là một phần của con người sống trong thế giới tự nhiên. Đó cũng là cách mà thế giới tự nhiên vận hành.”

Một hình thức khác của lạm dụng thiên nhiên là lí luận cho rằng bởi vì con người là sản phẩm của thế giới tự nhiên, chúng ta phải bắt chước hành động theo những gì chúng ta thấy trong thế giới tự nhiên, và làm khác đi là “phi tự nhiên”. Ví dụ: “Đồng tính luyến ái dĩ nhiên là không tự nhiên.”

44. Ngụy biện “anh cũng vậy”. Đây là một trong những ngụy biện rất phổ biến. Nó dựa vào lí lẽ rằng một hành động có thể chấp nhận được bởi vì người đối nghịch đã làm. Chẳng hạn như “Anh là một người lừa dối.” “Rồi sao? Anh cũng là một tay lừa dối vậy.”

45. Lạm dụng thống kê. Thống kê thường được giới ngụy biện sử dụng tối đa, vì theo họ thống kê có thể dùng để “chứng minh” bất cứ điều gì. Người ta có thể vặn vẹo hai con số 1 và 3 điểm để sản xuất những phát biểu như “khác nhau 2 điểm”, “cao gấp 3 lần”, hay “tăng 200%”; người ta có thể dựa vào ý kiến đồng tình của 4 người trong 5 người để cho là “80% người được thăm dò”, hay thậm chí “đa số cộng đồng” đồng ý với một luận điểm nào đó. Tức là những khái quát hoá một cách vội vã, hay dựa vào một mẫu số cực kỳ thấp, thấp đến độ nó không có nghĩa lí gì. Thực ra, thống kê không chứng minh điều gì cả. Thống kê chỉ là một phương tiện hay thuật toán dùng để loại bỏ những trường hợp khả dĩ hay không khả dĩ. Vì có quá nhiều ngụy biện thống kê, nên vấn đề này sẽ được bàn tiếp trong một dịp khác.

Nhận xét

Có thể nói những loại ngụy biện trên đây có những đặc điểm chung là (a) phát biểu không dựa vào lí lẽ logic; (b) các định đề không vững để đi đến một kết luận; và (c) đưa ra giả định không đúng. Ngụy biện, do đó, nói cho cùng, là một sản phẩm của sự lười biếng suy nghĩ. Và hầu như trong chúng ta, ai cũng có ít nhất là một lần lười suy nghĩ. Do đó, nếu điểm qua những loại ngụy biện trên đây, chúng ta tự cảm nhận rằng trong quá khứ mình chắc cũng có lần phạm vào lỗi lầm của ngụy biện. Điều này có thể đúng, và không nên lấy làm ngạc nhiên, vì các nhà thông thái, và ngay cả giới có huấn luyện về logic học cũng đôi khi, vì cố ý hay vô tình, ngụy biện. Giới chính trị gia và truyền thông là những người cực kì nổi tiếng về ngụy biện.

Nhưng tại sao những ngụy biện vẫn còn có mặt trên báo chí? Theo tôi, bởi vì chúng vẫn có khách hàng. Vẫn có người, dù ít hay nhiều, tin tưởng vào ngụy biện, vì nó thuận nhĩ, trơn tru, và nhất là không thách thức. Sờ một hòn đá trơn tru đem lại cho chúng ta một cảm giác khoan khoái dễ chịu hơn là sờ một hòn đá lởm chởm, hay ngồi trên một cái ghế ghồ ghề. Người ta thích sự trơn tru, bởi vì trơn tru là dấu hiệu của sự khoan khoái, dễ chịu, là cái khoảng thời gian giải lao, không cần sự thách thức.

Có lẽ, ở một khía cạnh nào đó, điều này cũng không đến nỗi tệ, bởi vì những ngụy biện phản ánh sự thành công [hay có người nói sự phong phú] của ngôn ngữ trong việc tách rời giữa những gì thô thiển, gồ ghề với những gì hoàn thiện, mĩ miều. Nhưng sự trơn tru của các vật thể và ngôn ngữ ngày nay đem lại cho chúng ta một cảm giác giả tạo về thế giới thực của các vật thể. Những kì kẹt xe trên đường xá mới để lộ trái tim phức tạp của một thành phố. Tương tự, một sự cố của internet sẽ nhắc nhở chúng ta về tình trạng hỗn mang và phức tạp của hệ thống thông tin điện tử. Sự hỗn mang và phức tạp là thực. Trơn tru, tròn trĩnh có thể là giả tạo. Những câu văn ngụy biện có thể chỉ là những lời phát biểu lém lỉnh thay vì lịch thiệp, hàm chứa mánh khóe thay vì thân thiện. Có thể nói, ngụy biện là những lối sáo ngữ liến thoắng nhằm vào mục đích lôi cuốn người nghe/đọc, thay vì cung cấp cho họ một sự thực.

Bởi vì ngụy biện là những lí lẽ mà bề ngoài có vẻ logic, nên chúng có khả năng thuyết phục những người không chịu khó suy nghĩ, nhất là những người còn mang nặng cảm tính. Điều này giải thích tại sao nhiều người tiếp nhận một cách thụ động quá nhiều những điều quái gở về thế giới chung quanh, kể cả những niềm tin tôn giáo, những mê tín dị đoan, những triết lí quái đảng, những thông tin sai lạc, v.v.. Cái tác hại của việc tiếp nhận thụ động này là nó làm cho người ta trở nên nô lệ với cảm tính, và dễ dàng trở thành những tín đồ cuồng tín của những người “lãnh đạo” chính trị hay tôn giáo.

Để không trở thành những nô lệ, cần phải suy nghĩ nghiêm túc. Suy nghĩ nghiêm túc là một quá trình hoạt động tri thức nhằm ý niệm hóa, ứng dụng, phân tích, tổng hợp, và đánh giá những thông tin được thu thập từ quan sát, kinh nghiệm, phản ánh, lí luận, hay liên lạc, như là một niềm tin cho hành động. Cần phải dựa vào những giá trị tri thức với những đặc điểm như trong sáng, chính xác, nhất quán, có liên hệ, bằng chứng tốt, lí lẽ hợp lí, có chiều sâu, và công bằng. Tức là, trước một câu phát biểu hay một đề nghị, cần phải thẩm định lại kết cấu và nguyên tố của phát biểu hay đề nghị đó. Những kết cấu và nguyên tố này là: mục đích, vấn đề, giả định, quan niệm, bối cảnh, kết luận, ngụ ý, hậu quả, phạm vi tham khảo, và quan điểm khác.

Người Việt chúng ta thường rất tự hào về những đối thoại [mà chúng ta cho là “thông minh”] giữa Trạng Quỳnh và Chúa Trịnh ngày xưa. Nhưng nói một cách công bằng và theo tiêu chuẩn của lí luận logic, thì những trao đổi của Trạng Quỳnh hay tương tự chỉ là những ngụy biện ở trình độ thô sơ nhất. Nhưng có điều đáng buồn là những đối thoại kiểu Trạng Quỳnh, mà trong đó sự hơn thua nhau từng câu nói, bắt bẽ nhau từng chữ, vặn vẹo ý nghĩa của từng câu văn, v.v… lại đi vào sử sách, như thể để làm gương cho thế hệ sau này. Mà làm gương thật. Cho đến ngày nay, có người vẫn còn cho đó là một biểu tượng của sự thâm thúy, thông minh của dân tộc, là phản ánh sự phong phú của ngôn ngữ Việt, và đem ra ứng dụng trong tranh luận.

Theo dõi báo chí, chúng ta thấy những hình thức tấn công cá nhân (thay vì tấn công vào luận điểm), xuyên tạc ý tưởng, chụp mũ, suy luận theo cảm tính, mỉa mai, đơn giản hóa vấn đề, v.v… xuất hiện hầu như hàng ngày, có khi hàng giờ. Vì những tần số của những loại ngụy biện xuất hiện quá nhiều như thế, nó thành một sự rập khuôn. Theo thời gian, rập khuôn trở thành “truyền thống”. Hậu quả của cái truyền thống này là những ai ra ngoài cái khuôn sáo của ngụy biện đều có thể bị xem là phi chính thống, dẫn đến một lối suy nghĩ và phán xét kì quặc kiểu “anh/chị không thuộc nhóm của tôi, vậy thì anh/chị thuộc nhóm bên kia,” “anh chê ‘quốc gia’, vậy anh phải là cộng sản,” “anh khen Việt Nam, vậy anh là cộng sản,” “giọng nói anh ‘Bắc kỳ 75’, vậy anh là cộng sản,” hay “Nhà nước cho anh ra ngoài này trình diễn, chắc anh là cộng sản đi tuyên truyền”… Anh ở phía này, tôi bên kia. Nói tóm lại, đó là một lối phân định theo hai giá trị: xấu và tốt, đen và trắng, hay địch và ta một cách cứng nhắc. Cách phân định này thể hiện một sự nghèo nàn về trí tuệ, hay lười biếng suy nghĩ. Chỉ cần đặt vấn đề ngược lại một chút, hay phát triển vấn đề xa hơn một chút, ai cũng có thể thấy lối phân chia có/không này không thể đem đến một đáp số cho một vấn đề nào cả.

Trong cái sự thực phức tạp, mờ mờ ảo ảo của vấn đề, có cái đẹp riêng. Không phải cái đẹp trơn tru, tròn trĩnh, nhưng là cái đẹp khắt khe của sự thật. Tương tự, một lời phát biểu nghịch lí có cái đẹp của nó, vì nó có thể đánh thức chúng ta về một thế giới phức tạp, một thế giới không nằm gọn trong đúng/sai, tốt/xấu, bạn/thù. Có lẽ đã đến lúc chúng ta nên vượt qua chính mình bằng cách cho các tế bào trí tuệ có cơ hội làm việc.

BTĐ

Trích: tuanvannguyen.blogspot.com/2010/05/thoi-nguy-bien-o-nguoi…
Posted 3 months ago. ( permalink )

view photostream

Tuan Ngoc@ says:

Xin giới thiệu bài phỏng vấn do VNN thực hiện với anh Huỳnh Hữu Tuệ, giáo sư từ Canada dấn thân về nước làm việc. Anh ấy phát biểu nhiều câu rất nhậy, nhưng theo tôi cũng rất chính xác. Trích câu này: “PV: Ông khẳng định tiến sĩ trong khoa học có những điểm phát triển hơn. Nhưng tại sao cho đến nay, nền khoa học Việt Nam trên trường thế giới vẫn là một con số chưa đoán được?

HHT: Cách đây 1 tháng tôi từng nói một câu tàn nhẫn trong cuộc gặp với một số lãnh đạo trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Tôi rất buồn khi nói nền khoa học của chúng ta là một nền khoa học GIẢ. Những người có đề tài hàng chục tỷ lại không có khả năng thực hiện dù được “dán chữ” đầu đàn. Cách để đạt đề tài là thương lượng với bộ và ăn chia phần trăm.. Đã có người đề nghị với tôi: anh nghĩ ra cái tên đề tài và đưa tôi lo chuyện còn lại và lấy 20%. Nền khoa học Việt Nam không chạy vì những đề tài lớn không cho kết quả. Những người có khả năng làm thì chỉ có 20-30 chục triệu nên có khả năng làm. Một tiến sĩ khoa học lương 2 triệu đồng một tháng, đi hội nghị phải bỏ tiền túi…. Vậy ai đủ sức làm? Ở nước ngoài, đi hội nghị, viết một bài báo… tiền mất 4.000-5.000 USD. Tiền đâu để làm những điều tối thiểu đó?”

Khổ thế. Vấn đề làm tìm lối ra. Chẳng lẽ phải cách chức hết mấy vị “đầu đàn” không xứng đáng đầu đàn? Cũng có thể phải cần đến biện pháp đó (như bên này hay làm), nhưng ở VN ta thì làm như thế e rằng có vấn đề, vì các vị đó vẫn còn quá nhiều mối quan hệ mà người thay thế chưa chắc làm được gì.

Ông bộ trưởng khoa học ở đâu? Có đọc báo không?

NVT

nguyenvantuan.net/index.php?option=com_content&view=a…
Posted 3 months ago. ( permalink )

view photostream

Tuan Ngoc@ says:

Than trời kĩ xảo ‘chế tạo’ giáo sư

(24h) – Dấu hiệu một kĩ xảo ‘chế tạo’ GS/PGS độc đáo đã xuất hiện ở nước ta trong những năm gần đây. Xin giới thiệu tới độc giả góc nhìn riêng của người viết – vốn là một giảng viên ĐH về vấn đề này.

Để tiến đến phù hợp với thông lệ quốc tế, ngoài các tiêu chuẩn chung như thâm niên giảng dạy, hướng dẫn luận văn sau đại học,v.v…vấn đề then chốt và quan trọng nhất để trở thành GS/PGS là các ứng viên phải đạt các tiêu chuẩn về số điểm công trình, tính từ các bài báo khoa học đăng trên các tạp chí có uy tín.

Để đủ điểm công trình xét chức danh GS/PGS theo qui định, người làm khoa học phải có năng lực thực sự với một tinh thần làm việc nghiêm túc. Nhưng trong thực tế đang có dấu hiệu của những “công nghệ” tạo GS/PGS độc đáo.

Công nghệ “góp gạo thổi cơm chung”

Tôi có học trò cũ hiện làm trưởng phòng của một viện nghiên cứu. Anh là nhà khoa học thực sự, đứng tên rất nhiều bài báo được đăng trên các tạp chí quốc tế. Nhưng khi đạt được PGS rồi thì mấy năm liền không thấy tên anh trên các tạp chí nữa.

Than trời kĩ xảo ‘chế tạo’ giáo sư, Tin tức trong ngày, giáo sư, phó giáo sư, giảng dạy, chạy chọt, lách luật, hủ hoá, đồi bại, đạo văn

Niềm vui khi được công nhận chức danh từ thành quả lao động của mình. Ảnh chỉ có tính chất minh họa. Lê Anh Dũng

Anh hồn nhiên chia sẻ: Trước khi được phong PGS, anh và các nghiên cứu viên cùng tham gia đề tài trọng điểm cấp nhà nước, cùng viết bài báo khoa học,nhưng chỉ anh đứng tên bài báo đó. Bây giờ được PGS rồi, tiếp theo sẽ là anh phó phòng, sau đó là các anh em trẻ khác đứng tên các bài báo khoa học. Ai không có khả năng nghiên cứu, nhưng muốn giữ biên chế và lên PGS thì cơ quan tạo điều kiện cho làm kinh tế, làm công việc kinh doanh bên ngoài kiếm tiền nộp cho những người làm nghiên cứu khoa học thực sự. Vấn đề quan trọng nhất là anh em trong cơ quan phải đoàn kết, thì ai cũng đến lượt lên PGS thôi.

Công nghệ “tìm điểm tựa của Acsimet”

“Hãy cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ nâng Trái Đất lên!”, là câu nói của Acsimet, nhà cơ học thiên tài của thời cổ đại đã khám phá ra các định luật về đòn bẩy. Ông còn nói thêm rằng “giá mà có một Trái Đất khác nữa, tôi sẽ sang Trái Đất đó và đẩy bật Trái Đất của chúng ta đi chỗ khác”.

Than trời kĩ xảo ‘chế tạo’ giáo sư, Tin tức trong ngày, giáo sư, phó giáo sư, giảng dạy, chạy chọt, lách luật, hủ hoá, đồi bại, đạo văn

Niềm vui của các tân GS/PGS trong ngày công nhận. Ảnh: Lê Anh Dũng

Trong công nghệ GS/PGS, điểm tựa đó chính là một chức vụ cao, quan trọng liên quan đến các vấn đề quản lý khoa học. Một ứng viên đang phấn đấu PGS đã thốt lên rằng “hãy cho tôi làm hiệu trưởng trường đại học này, tôi sẽ trở thành giáo sư”.

Trong thực tế, chỉ cần một chức vụ như trưởng khoa, trưởng phòng khoa học… cũng là điểm tựa làm PGS.

Khi duyệt cấp kinh phí (tiền) cho các đề tài, một số quan chức sẵn sàng từ chối nhận tiền “lại quả“ từ đề tài, thay vào đó lại muốn cấp dưới để tên mình khi công bố các bài báo khoa học. Càng duyệt nhiều đề tài, thì càng có nhiều điểm bài báo khoa học. Điều này giải thích vì sao một số giảng viên khi giảng dạy ở trường đại học, hoặc nghiên cứu viên ở viện không có nổi bài báo khoa học, nhưng khi có chức quyền, mặc dù bận tối ngày với các công việc sự vụ của trường, nhưng chỉ vài năm đã thừa điểm công trình, vượt xa tiêu chuẩn giáo sư.

Công nghệ dùng tiền làm khoa học

Có 2 câu chuyện được lưu truyền trong giới.

Câu chuyện thứ nhất: Ở lại làm luận án với tôi

Một người bạn tôi làm nghiên cứu sinh thời kỳ Liên Xô sụp đổ, đời sống của các giáo sư Nga rất khó khăn.

Anh không có học bổng, nên vừa nghiên cứu khoa học, vừa chạy chợ để có tiền nuôi sống bản thân và gửi biếu giúp giáo sư hướng dẫn. Sau một thời gian, mối quan hệ thầy trò đã trở nên thân thiết, anh toàn tâm làm kinh tế kiếm tiền, thầy chuyên tâm làm khoa học, viết bài báo đứng tên anh.

Ngày anh bảo vệ luận án Tiến sĩ chuẩn bị về nước, vị giáo sư Nga buồn bã nói rằng, hãy ở lại nghiên cứu tiếp và đi làm thêm để có thể giúp ông vượt qua khó khăn trong thời kỳ này. Để hoàn tất hồ sơ PGS, đầu năm 2009, anh viết thư sang nhờ thầy viết hộ thêm mấy bài để đủ điểm bài báo ở 3 năm cuối.

Câu chuyện thứ hai: “Đi ô tô trồng sắn“

Thời bao cấp, cán bộ khoa học cũng phải lao động tự túc lương thực. Một số viện nghiên cứu liên hệ mượn được ô tô cơ quan chở cán bộ đi lên đồi trồng sắn. Tố Hữu khi đó là Phó Thủ tướng, trong một lần đi cơ sở, cầm củ sắn lên và nói: ”Sắn mùi xăng quá”. Mọi người ngạc nhiên, còn ông giải thích :”Tiền bán sắn trồng được không bằng tiền xăng đưa cán bộ đi trồng sắn”.

Trong lĩnh vực khoa học công nghệ, các công trình khoa học tầm cỡ chỉ có thể thực hiện với các phương tiện nghiên cứu hiện đại và đồng bộ. Phòng thí nghiệm trọng điểm tương đương triệu USD, nhưng không phải viện nghiên cứu nào, trường đại học nào cũng được đầu tư.

Khi có phòng thí nghiệm trọng điểm, muốn có bài báo quốc tế, phải đầu tư thêm hàng nghìn USD. Tổng kết cuối năm, các bài báo khoa học đăng trên tạp chí quốc tế được mang ra trưng bày, một nhà khoa học lão thành (trước đây đã từng đi ô tô trồng sắn) cầm quyển tạp chí lên và nói: ”Bài báo khoa học này mùi USD quá”.

Tâm tình của các GS/PGS theo công nghệ mới và thân phận của các giảng viên thường trong cuộc sống mưu sinh

Sau ngày tôn vinh GS/PGS, tôi có dịp được mời đi ăn mừng. “Rượu vào lời ra”, một tân PGS trong trạng thái “phê phê” hát vang “Anh GS, tôi GS, tất cả chúng ta là GS. Là lá la, là lá la ”. Một PGS khác tâm sự: ”Tôi sinh ra trong một gia đình mà ba đời là giảng viên đại học, ông nội và bố tôi đều là tiến sĩ được đào tạo ở nước ngoài về, nhưng chỉ đến đời tôi mới được phong PGS. Ông tôi mừng quá, vuốt râu bảo “con hơn cha là nhà có phúc”.

Tình trạng bùng nổ các trường đại học, số sinh viên tăng vọt, các giảng viên không có chức vụ, muốn có tiền mưu sinh trong thời buổi giá cả tăng vọt, phải dạy tối ngày, về đến nhà là kiệt sức lấy đâu sức khỏe và thời gian để nghiên cứu khoa học? Đối với đối tượng này, các bài báo khoa học là xa xỉ, và chức danh GS/PGS đối với họ hết sức xa vời.

Công nghệ GS/PGS có tồn tại vĩnh cửu?

Việt Nam đang tồn tại 2 kiểu: GS/PGS suốt đời và GS/PGS có thời hạn.

Những người đã được phong, công nhận hoặc bổ nhiệm trước năm 2008 thì tiếp tục giữ chức danh GS/PGS. Nghĩa là GS/PGS xét trước 2007 không phải xin bổ nhiệm, cũng chẳng ai giao nhiệm vụ, nên dù không còn nghiên cứu khoa học nữa thì chức danh GS/PGS vẫn theo suốt đời.

Từ năm 2009, đối tượng được bổ nhiệm chức danh GS/PGS là nhà giáo đã được được công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh GS/PGS không quá 2 năm. Định kỳ 3 năm 1 lần, Thủ trưởng cơ sở giáo dục đại học tiến hành rà soát, đánh giá việc hoàn thành nhiệm vụ được giao của các GS/PGS để xem xét việc giao nhiệm vụ tiếp theo.

Như vậy, GS/PGS sau 2009 cũng giống như văn bằng tốt nghiệp. Người có văn bằng này vẫn phải “đi xin việc” (xin bổ nhiệm). Nếu sau 2 năm không có nơi bổ nhiệm thì văn bằng sẽ không có hiệu lực.

Do đó muốn chức danh GS/PGS có giá trị lâu dài, các GS/PGS sau năm 2009 phải “chạy bổ nhiệm” và tiếp tục “chạy” công trình bài báo.

“Cuộc chiến” này sẽ không có hồi kết thúc và công nghệ GS/PGS vì thế vẫn còn đất sống cho cả những tân GS/PGS và các ứng viên muốn đạt PGS những năm tiếp sau.

Nhận biết công nghệ GS/PGS

Khi thi đại học, thí sinh phải có giấy báo thi dán ảnh mới được vào phòng thi, do đó rất khó đưa người thi hộ. Còn khi nộp bài báo khoa học, ban biên tập không bao giờ kiểm tra chính xác được tác giả bài viết là ai. Đây là cơ hội để người làm khoa học thực sự, trực tiếp viết bài báo nhưng người khác lại đứng tên mà không ai có thể phát hiện được.

Có thể áp dụng biện pháp phòng chống tham nhũng để nhận biết GS/PGS theo “công nghệ” này.

Ví dụ, quan chức là Thứ trưởng, lương một tháng 8 triệu, tổng cộng một năm thu nhập trên trăm triệu, công tác 20 năm liên tục không tiêu pha gì sẽ tiết kiệm khoảng 2 tỷ. Nhưng nếu ai lên Thứ trưởng vài năm mà có trong tay chục tỷ thì sẽ bị nghi ngờ là có tham nhũng.

Tương tự, xem lịch tuần, lịch tháng của quan chức làm công tác quản lý, của các hiệu trưởng đại học… với mật độ các cuộc họp dày đặc, các hội nghị phủ kín, nhiều người cả năm không có ngày phép. Thế nhưng nếu hàng năm vẫn đứng tên trên nhiều bài báo khoa học đăng trên các tạp chí uy tín thì chắc chắn là có vấn đề cần xem xét.

Số GS/PGS theo “công nghệ” chỉ là “con sâu bỏ rầu nồi canh”. Nhưng nếu không có biện pháp ngăn chặn tận gốc, để “công nghệ” tồn tại mãi, thì “nồi canh” sẽ vơi bớt độ trong lành.

Nguồn: us.24h.com.vn/tin-tuc-trong-ngay/than-troi-ki-xao-che-tao…
Originally posted 3 months ago. ( permalink )
Tuan Ngoc@ edited this topic 3 months ago.

view photostream

Tuan Ngoc@ says:

Rất nhiều tiến sĩ của ta trình độ chưa bằng cử nhân của các nước, rât đông GS, PGS của ta không được như trợ giảng mới ra của họ. Tôi nói điều đó với tinh thần trách nhiệm đầy đủ. Trong ngành toán học điều này quá rõ, mà trong các ngành khác chỉ có tồi tệ hơn. Nói ra thì chạm tự ái, có người lồng lộn lên, chẳng qua vì lâu nay họ được đối xử cao hơn quá nhiều giá trị thật của họ, mà trong một xã hội đã quá quen lấy giả làm thật, họ không ý thức được sự kém cỏi cũng chẳng có gì khó hiểu.

nguyenvantuan.net/education/3-edu/663-cuc-dat-set-va-than…
Posted 3 months ago. ( permalink )

view photostream

Tạp Chí GS Dỏm Việt Nam - JIPV is a group administrator Tạp Chí GS Dỏm Việt Nam – JIPV says:

Một Editor-in-Chief của JIPV đã được Who’s Who chọn đưa vào danh sách “Tiểu sử danh nhân”. JIPV xin giới thiệu thư mời hết sức trang trọng của Who’s Who:


Dear ….,

It is my pleasure to inform you that you are being considered for inclusion in Who’s Who in the World, …th Edition (…).

From the publisher of Who’s Who in America since 1899, Who’s Who in the World is relied upon by business leaders, journalists, academics, and other professionals for its accuracy and currency of information. It continues to be recognized as the world’s premier biographical reference source, and is found in the collections of many of the world’s leading libraries and corporations.

To be considered for inclusion as a listee in this prestigious publication, you need only complete our Biographical Data Form by …..

Your information will be evaluated according to selection standards Marquis Who’s Who has developed over 110 years as the world’s premier biographical publisher. If you are selected for the new … Edition, we will contact you prior to the book’s release in ….

I congratulate you on the achievements that have brought your name to the attention of our editorial committee. We look forward to hearing from you.

Sincerely,

Fred Marks
Editor-in-Chief

Submission Deadline
….

P.S. Inclusion in Who’s Who in the World, of course, carries neither cost nor obligation of any kind. Our goal is to have full representation of noteworthy men and women across all fields and industries.

Remember to complete the
Biography Submission Form by ….!

Please Note: If you are prompted to enter a VIP Code when accessing our online data form, please enter the following: …..

To contact the Marquis Who’s Who Editorial Department with comments and/or questions, please send an e-mail to world@marquiswhoswho.com.

At Marquis Who’s Who, we respect your privacy. Click here to view our privacy policy.

If you prefer not to receive e-mail announcements from Marquis Who’s Who and would like to unsubscribe, please click here.

Marquis Who’s Who
890 Mountain Ave
New Providence, NJ USA 07974
908-673-1000
www.marquiswhoswho.com

Copyright (C) …. Marquis Who’s Who LLC. All rights reserved.
======================================================

JIPV@: Mục này dành tặng riêng cho các GS dỏm và các đối tượng có liên quan, nếu các Editors muốn bình luận thì vui lòng copy nội dung liên quan và trao đổi trong Phòng tranh luận hoặc mục Thảo luận của the board. Bác Editor-in-Chief được Who’s Who mời đã yêu cầu xoá các thông tin mật (đã được JIPV mã hoá dưới dạng “…”) . Bác Editor-in-Chief này cũng vừa báo lại bác ấy không đủ tiền để mua quyển “tiểu sử” do Who’s Who xuất bản, như một yêu cầu bắt buộc để được trao tặng danh hiệu “Danh nhân khoa học”. Ai có nhu cầu thì xin liên hệ JIPV để được “thế chỗ”.
Originally posted 2 months ago. ( permalink )
Tạp Chí GS Dỏm Việt Nam – JIPV edited this topic 2 months ago.

view photostream

Tuan Ngoc@ says:

Những ngộ nhận danh xưng tốn kém

Một bạn đọc (tôi đoán chắc là bên nhóm “GS dỏm”) gửi email đề nghị tôi bình luận về câu chuyện “viện sĩ”. Tôi chẳng có ý gì để nói thêm. Cách đây chắc cũng 6 năm, tôi có viết một bài “Những ngộ nhận danh xưng tốn kém” đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn, và theo tôi biết có nhiều báo khác đăng lại bài này. Nay thì bài đó chắc không còn trên trang nhà của Saigon Times và Tia Sáng nữa, nên tôi đăng lại bài đó và có vài chỉnh sửa nhỏ như là một phúc đáp của bạn đọc đó. NVT

nguyenvantuan.net/science/4-science/854-nhung-ngo-nhan-da…
Posted 2 months ago. ( permalink )

view photostream

Tuan Ngoc@ says:

Mới sưu tầm được toa thuốc do bác Nguyễn Văn Tuấn kê đơn. Mời các GS, PGS dỏm + Học trò dỏm + Bảo kê dỏm tỉnh giấc và uống thuốc từ thiện để sớm hết bệnh dỏm và dốt:

Ở Việt Nam, vấn đề danh xưng là vấn đề “merit” (xứng đáng). Trước tình trạng tiến sĩ giấy, tiến sĩ dỏm tràn lan ở Việt Nam như hiện nay, bất cứ ai được giới thiệu là “tiến sĩ”, người dân ngao ngán nghĩ thầm “lại một tiến sĩ giấy”. Trong bối cảnh đa số (70% hay 95%) giáo sư Việt Nam không xứng đáng với chức danh đó trên trường quốc tế, và với hệ thống phong tước danh như hiện nay thì làm sao danh xưng này củng cố lòng tin của người dân. Nhưng ở Việt Nam vẫn có những tiến sĩ, những giáo sư thật (tức là họ có học và có nghiên cứu xứng đáng với danh xưng đó), nhưng khổ nỗi vì đại đa số những tiến sĩ giấy và giáo sư dỏm kia làm cho công chúng chẳng biết ai là giả và ai là thật. Do đó, cách đánh bóng danh xưng như ở Việt Nam gây ra tình trạng vàng thau lẫn lộn.

GS, PGS dỏm + Học trò dỏm + Bảo kê dỏm có thể tự đi xin thuốc bên “Nhà thuốc từ thiện” Nguyễn Văn Tuấn (xin lỗi bác Tuấn nha): nguyenvantuan.net/news/6-news/653-tai-sao-nguoi-ta-thich-…

Nhớ uống thuốc cho sớm khỏe để xây dựng đất nước nhé các dỏm.
Originally posted 2 months ago. ( permalink )
Tuan Ngoc@ edited this topic 2 months ago.

view photostream

Tạp Chí GS Dỏm Việt Nam - JIPV is a group administrator Tạp Chí GS Dỏm Việt Nam – JIPV says:

GS Ngang says:

Ở Hoa Kỳ và nhiều nước, mặc dù người ta có đủ học hàm học vị, chức danh….thông thường người ta cũng chỉ xưng danh chính thức ở mọi nơi (trên báo chí, truyền hình, giao tiếp, làm quen…) một cách ngắn gọn nhất là theo Tên (Jen, Bob…) hoặc Họ (Black, Green…) cùng lắm Họ và Tên (Jen Black, Bob Green…). Trịnh trọng hơn thì có thêm Bà/ Cô (Mrs/Ms) Jen/ Black hay Ngài/ Ông (Mr) Bob/ Green. Tương tự như vậy, ở Đức gọi bà/ cô là Fr/ Frl và ngài/ ông Herr, Pháp: Mme/ Mle và ngài/ ông là Monsieur/ M. Ở Nhật thì tất cả gái trai, già trẻ đều gọi theo Tên/ Họ +san. Như vậy vừa lịch sự, vừa tiết kiệm/ kinh tế (giảm thời lượng của thông tin, mực in, giấy báo…). Qua đó, họ tiết kiệm và kinh tế xã hội phát triển (tuy họ cũng không tránh được bẳng dởm như thông tin trên!)
Tôi cho rằng, đã đến lúc Việt Nam cũng nên áp dụng việc xưng danh ở mọi nơi mọi lúc (trừ một số trường hợp ở trường ĐH/ viện NC) ngắn gọn theo Họ và Tên hoặc Tên không là đủ. Nên bỏ ngay cách xưng danh kèm theo đủ các loại mác: GS, TS, TSKH, VS, NGND, NGUT… Như vậy, vừa lịch sự, vừa tiết kiệm để phát triển và chắc sẽ loại bỏ hoặc bớt đi được bệnh háo danh và các loại danh dỏm.
Nếu mọi người đồng tình, Ngang tôi cũng xin bỏ ngay các mác “GS”.

Posted 2 months ago. ( permalink )

view photostream

Tạp Chí GS Dỏm Việt Nam - JIPV is a group administrator Tạp Chí GS Dỏm Việt Nam – JIPV says:

Dưới đây là bức thư của một nhà khoa học đã nghỉ hưu:


Gửi các DỞM.

“Mảnh đất khoa học, nơi mà người người hiểu rằng, đó là nơi trung thực, là đất của những đam mê , tự do, sòng phẳng, chông gai, dấn thân, nghiệt ngã, nhưng vô cùng trong sáng và đẹp đẽ”(Trích thư của một bạn đọc gửi JIPV, trong mục GIAO LƯU VỚI ĐỘC GIẢ), thì tại sao lại có những Dởm này? Theo tôi là do rất nhiều nguyên nhân, nhưng ít nhất là hai nguyên nhân sau đây:

1. Họ hiểu sai cái danh, và rất thiếu lòng tự trọng. Họ nghĩ đơn giản rằng khi kiếm được những tờ xác nhận học hàm, học vị, hay vinh danh, là họ sẽ có danh. Vì vậy họ cố chạy bằng được, và nghĩ rằng họ sẽ được vẻ vang.

2. Tiêu chí phong học hàm của ta còn chưa được kiểm soát chặt chẽ. Không có lí do nào lại có thể phong GS(PGS) cho những người không có một công bố quốc tế nào.

Việc phong học hàm cho những DỞM, sẽ gây nhức nhối và làm suy giảm niềm tin trong nhân dân, sẽ làm yếu các cơ sở đào tạo, cũng là một trong những nguyên nhân gây ra sự chia rẽ và mất đoàn kết.

Đương nhiên, các DỞM cũng được ngồi bàn bạc và quyết sách những chuyện KHOA HỌC và ĐÀO TẠO rất nghiêm túc, trong khi DỞM được tạo ra bởi “CỌNG RƠM”, nghe người khác nói DỞM không hiểu, thì còn hại nào hơn.

DỞM đẻ ra DỞM rất nhanh, vì cơ chế sinh sản của DỞM rất đơn giản.

Để giữ cho được sĩ diện và vị trí của DỞM, Dởm sẽ dùng mưu mẹo, gây chia rẽ trong những người giỏi.

Chúng ta có thể không có hoặc thiếu các chức danh GS(PGS), nhưng
không vì thế mà phong DỞM.

Các DỞM nên nhở rằng, xã hội luôn có nhiều cơ hội để DỞM mưu sinh và thể hiện mình, DỞM không nên SI DẠI , HỌC LÀM SANG, mà chen tên tuổi vào nơi HỌC THUẬT, nơi của những TÀI NĂNG và NHỮNG ĐAM MÊ, nơi mãi mãi xa cách với DỞM.

Các DỞM nên nhở rằng, đất nước này đã chịu hy sinh và đau khổ nhiều lắm rồi, cho nên người ta không bao giờ để cho các DỞM yên đâu. Mà tìm ra các DỞM thì cực dễ, bởi NHÀ KHOA HỌC thì ắt phải có CÔNG TRÌNH KHOA HỌC.

Originally posted 5 weeks ago. ( permalink )
Tạp Chí GS Dỏm Việt Nam – JIPV edited this topic 5 weeks ago.

view photostream

Tuan Ngoc@ says:

CẢM TƯỞNG ĐỌC JIPV-GS DỞM

Tôi bắt gặp JIPV một cách rất tình cở, lúc đó nội dung của nó còn rất nghèo nàn. Cảm giác xót sa, đượm chút nhạt buồn khó tả trong tôi.

Mặc dù không ngạc nhiên lắm về các nhân vật lần lượt xuất hiện trong các trang chính của JIPV, nhưng tôi vẫn có chút thẫn thờ, thương xót cho những số phận, những cuộc đời lầm lạc, và cho cả đất nước này. Tôi đã từng lý giải khá đầy đủ căn nguyên của vấn đề này, bằng một bài viết dài “CẦN BẮT ĐẦU ĐỂ XÂY DỰNG MỘT LỚP NGƯỜI MỚI” trong Blog này của tôi, cách đây hơn một năm.

Gốc gác trước hết đó là những hạn chế của văn hoá dân tộc, sau đó là tình trạng lãn công kéo dài, rồi từ chính sách sử dụng con người, đến căn bệnh thành tích đã lây nhiễm toàn xã hội.

Không ở đâu như đất nước này, đất nước đã làm cho dân chúng của họ phải sáng mắt ra rằng, chỉ có biết sống và làm việc lựa theo một xu thế chính trị nhất thời, mới có thể được chấp nhận, bất biết đến lợi ích lâu dài, miễn là có báo cáo làm sướng lỗ tai của các cấp lãnh đạo. Vì thế, người ta làm việc theo các phong trào, theo các chỉ tiêu, các con số, không cần biết đúng hay sai, và chất lượng thế nào. Điều này diễn ra trong học thuật sẽ đưa đến gặt hái các DỞM, trong kinh tế sẽ dẫn đến lãi giả lỗ thật…

Những trang của JIPV, phần nào đã lột tả được những gương mặt tiêu biểu của trí thức Việt Nam đương đại. Tôi nghĩ rằng rất nhiều nhân vật trong đó đã mãn nguyện về vị thế Khoa Bảng của mình, vì đã được các HỘI ĐỒNG KHOA HỌC bầu chọn, kèm các mảnh bằng với CON DẤU ĐỎ CHÓT, rồi Thương Hiệu của họ đã được thấm sâu vào lòng công chúng. Không bao giờ họ ngờ rằng, có ngày họ được tấn phong trên JIPV.

Niềm tin ngây thơ đó, xuất phát từ góc nhìn của những kẻ lập thân từ những cuộc bầu bán lem nhem; những mảnh bằng và những trang báo cáo, lập danh từ những lời tuyên truyền đồn đại của những người thiếu hiểu biết và không có tư duy phản biện. Nó cũng còn là niềm tin của một lớp người, mà họ chính là nạn nhân của một kiểu tuyên truyền, giáo dục kỳ cục nhất, xuyên suốt cả một thời kỳ dài. Một thời kỳ của những gian dối, làm giả triền miên, đến nỗi trở thành thói quen không thể sửa, của không ít công dân.

Khoa học là cái gì?! và nếu làm thật thì lấy đâu thành tích ?!

JIPV như một phát đại bác tấn công vào sự gian dối trong học thuật đang chùm lên xã hội này. Nó đã “tóm cổ” không ít cả những ông Quan Khoa Học danh giá, bắt ngồi ngáp dài trong JIPV, để chờ phán xét! JIPV dường như đã tát thẳng vào mặt những kẻ háo danh, vụ lợi, đang còn muốn dựng VĂN MIẾU trong thời đại này. Nó làm được là nhờ thời “Thế giới phẳng”. Sau JIPV sẽ là gì? trong lúc đất nước này đang còn phải gánh chịu bao nhức nhối, tàn phá!

xdlnmt.blogtiengviet.net/?cat=473395
Posted 5 weeks ago. ( permalink )

view photostream

Tuan Ngoc@ says:

Nếu Dỏm muốn biết “Tiến sĩ là gì” thì nên đọc bài:

nguyenvantuan.net/education/3-edu/968-tien-si-la-gi-
Posted 5 weeks ago. ( permalink )

view photostream

Tuan Ngoc@ says:

Khoảng cách Bắc – Nam trong tài trợ cho nghiên cứu khoa học

Nghiên cứu khoa học cần sự hỗ trợ tài chính của người dân qua sự quản lí và phân phối của các cơ quan chức năng thuộc Nhà nước. Trong quá khứ, đã có nhiều phàn nàn về sự thiếu công bằng và thiếu minh bạch trong việc phân phối tài trợ cho nghiên cứu khoa học. Quĩ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (viết tắt theo tiếng Anh là “Nafosted”) ra đời nhằm khắc phục những khiếm khuyết trong quá khứ. Thế nhưng, kết quả phân phối tài trợ trong năm 2009 cho thấy có sự mất cân đối nghiêm trọng giữa các nhóm nghiên cứu khoa học phía Bắc và phía Nam.

Năng suất khoa học của Việt Nam còn thấp. Tuy chúng ta có đến gần 10.000 giáo sư và phó giáo sư, và nhiều vạn tiến sĩ, nhưng mỗi năm số công trình khoa học trên các tập san khoa học quốc tế chưa đến 1000. So với các nước láng giềng như Thái Lan và Mã Lai, chúng ta có nhiều giáo sư hơn, nhưng số bài báo khoa học của chúng ta lại quá thấp. Thật vậy, số công trình khoa học của các nhà khoa học Việt Nam chỉ bằng 1/5 Thái Lan, và số bằng sáng chế gần như là con số không.

Một trong những lí do tình trạng khoa học nước ta còn thấp kém là do bất cập trong qui trình phân phối tài trợ cho nghiên cứu khoa học. Có thể xem qui trình phân phối tài trợ cho nghiên cứu khoa học trong quá khứ (và hiện nay) như là một cuộc đấu thầu, và người đấu thầu thường là những “cây đa cây đề”, nhưng tiêu chuẩn tuyển chọn và nghiệm thu thì thiếu minh bạch. Những tiêu chuẩn về chất lượng nghiên cứu và sáng tạo trong khoa học chưa được áp dụng. Hệ quả là người được tài trợ thì không cho ra sản phẩm như mong muốn, còn người có khả năng và đáng lẽ được tài trợ thì không có tiền để làm nghiên cứu. Cơ chế đó một mặt gây ra lãng phí tiền của dân, mặt khác làm chùn bước các nhà khoa học có khả năng.

Nhận thức được thiếu sót đó, Bộ Khoa học và Công nghệ đề ra sáng kiến lập Quĩ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (Nafosted). Quĩ này có sứ mệnh là “tài trợ, cho vay để thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ do tổ chức, cá nhân đề xuất.” Quĩ Nafosted hoạt động gần giống như các quĩ tài trợ cho khoa học ở các nước tiên tiến, tức là tương đối minh bạch hơn và hi vọng là công bằng hơn so với cách làm trước đây. Thật vậy, ý tưởng đằng sau của Quĩ Nafosted là nhằm tạo một sân chơi công bằng hơn, minh bạch hơn cho các nhà khoa học. Qua một năm hoạt động và phân phối tài trợ cho nghiên cứu khoa học, có lẽ chúng ta nên nhìn lại sứ mệnh đó có đạt hay chưa. Để trả lời câu hỏi này, tôi đã phân tích các đề tài được cung cấp tài trợ trong năm 2009. Danh sách công trình cùng các chi tiết liên quan có thể xem trong “Danh sách các đề tài nghiên cứu cơ bản trong khoa học tự nhiên được Quỹ tài trợ năm 2009” trên trang web của Nafosted.

Ngành khoa học và chức danh

Năm 2009, Nafosted phê chuẩn 321 đề tài nghiên cứu khoa học. Trong số này, ngành có nhiều đề tài nhất là vật lí (83 đề tài, chiếm 26% tổng số), kế đến là ngành y sinh học (60 đề tài, 19%), hóa học (57, 18%) toán (46, 14%), và khoa học trái đất (38, 12%). Các ngành khác có ít đề tài như khoa học máy tính (18, 6%), cơ học (19, 6%).

Con số đề tài có thể không nói lên qui mô tài chính. Nhưng Nafosted không công bố số tiền tài trợ cho từng đề tài, nên chúng ta chưa biết ngành nào được cấp nhiều nhất hay ít nhất, hay ngân sách quân bình cho mỗi công trình khoa học là bao nhiêu. Đây cũng là một điều chưa được minh bạch. Cần nói thêm rằng ở nước ngoài, người ta công bố cả số tiền tài trợ và số năm thực hiện.

Phần lớn người chủ trì đề tài nghiên cứu là tiến sĩ. Thật vậy, trong số 321 người chủ trì, có 151 người (hay 47%) có bằng tiến sĩ hoặc “tiến sĩ khoa học”. Số người chủ trì đề tài có chức danh phó giáo sư là 91 (hay 28% tổng số), và số còn lại là cấp giáo sư với 79 đề tài (25%). Không có ai là thạc sĩ làm chủ trì đề tài nghiên cứu.

Nhưng sự phân phối về học vị và chức danh rất khác nhau giữa các ngành khoa học (bảng 1). Chẳng hạn như trong khi ngành y sinh học phần lớn (65%) người chủ trì là tiến sĩ, nhưng tỉ lệ này trong ngành toán học chỉ 17%, hay cao hơn một chút là ngành vật lí chỉ (35%).

Bảng 1. Phần trăm đề tài nghiên cứu được tài trợ tính theo chức danh của người chủ trì đề tài

Ngành

Tiến sĩ

Phó giáo sư

Giáo sư

Vật lí (n=83)

35

40

25

Y sinh học (n=60)

65

32

3

Hóa học (n=57)

53

23

24

Toán học (n=46)

17

24

59

KH trái đất (n=38)

58

24

18

Cơ học (n=19)

63

11

26

KH máy tính (n=18)

61

22

17

Phân phối trường, viện

Phần lớn các đề tài nghiên cứu khoa học được tài trợ do các viện hoặc trung tâm nghiên cứu đảm nhận (xem biểu đồ 1). Trong số 321 đề tài, số đề tài do các viện / trung tâm chủ trì chiếm 56%; phần còn lại là các đại học (44%). Nhưng sự phân phối này khác biệt giữa các ngành nghiên khoa học. Chẳng hạn như viện / trung tâm có nhiều đề tài thường tập trung vào ngành hóa học (58%), khoa học trái đất (63%), y sinh học (67%), vật lí (53%) và toán (54%). Đại học có tỉ lệ trội trong các ngành như khoa học máy tính, với tỉ lệ 56%, và cơ học (63%).

Tuy nói là đại học cả nước, nhưng trong thực tế thì chỉ tập trung vào một số trường chính ở miền Bắc mà thôi. Trường Đại học Quốc gia Hà Nội chiếm đến 41 đề tài, kế đến là Đại học Bách Khoa Hà Nội với 30 đề tài. Ngay cả số đề cương của một Đại học Sư Phạm Hà Nội (13 đề tài) cũng bằng cả 4 đại học miền Nam và miền Trung cộng lại (Đại học Quốc gia TPHCM, Đại học Bách khoa TPHCM, Đại học Cần Thơ, và Đại học Huế)!

* Đại học Quốc gia Hà Nội: 41
* Đại học Bách khoa Hà Nội: 30
* Đại học Sư phạm Hà Nội: 13
* Đại học Bách khoa TPHCM (không tính Đại học Quốc gia TPHCM): 5
* Đại học Quốc gia TPHCM: 4
* Đại học Cần Thơ: 1
* Đại học Huế: 4

Biểu đồ 1. Phân phối tài trợ nghiên cứu khoa học của Quĩ Nafosted theo ngành và đại học hay viện / trung tâm nghiên cứu. Con số trong mỗi cột là số đề tài được tài trợ. Màu xanh đậm là đại học, màu xanh lợt là viện / trung tâm nghiên cứu.

So sánh giữa các vùng, sự phân phối giữa trường và viện cũng có khuynh hướng thú vị. Ở miền Bắc, 62% (176/285) các đề tài xuất phát từ viện; nhưng ở miền Nam số đề tài từ viện chỉ chiếm 19% (4/21). Hầu hết các đề tài nghiên cứu ở miền Trung (14/15) xuất phát từ các đại học, chủ yếu là đại học Huế.

Chênh lệch Bắc – Nam

Đại đa số các đề tài được cấp tài trợ xuất phát từ các nhóm nghiên cứu phía Bắc. Thật vậy, trong tổng số 321 đề tài khoa học được cung cấp tài trợ, các trung tâm phía Bắc chiếm 285 đề tài (89%); phần còn lại là miền Nam với chỉ 21 đề tài (6%) và miền Trung với 15 đề tài (5%). Nói cách khác, số đề tài được tài trợ từ các trung tâm miền Bắc cao gần 14 lần so với số đề tài từ miền Nam (biểu đồ 2). Tỉ lệ “áp đảo” của các trung tâm phía Bắc hiện diện trong TẤT CẢ các ngành nghiên cứu. Có ngành như ngành khoa học trái đất, 100% các đề tài được tài trợ là từ các trung tâm phía Bắc!

Biểu đồ 2. Số đề tài khoa học được tài trợ bởi Quĩ Nafosted theo vùng

Điều đáng ngạc nhiên là trong số 21 đề tài mà các nhà khoa học miền Nam được cấp tài trợ, chỉ có 2 đề tài liên quan đến y sinh học (phần còn lại là hóa học với 6 đề tài, vật lí 7 đề tài, cơ học 4 đề tài, và toán 1 đề tài). Ai cũng biết phần lớn những nghiên cứu y sinh học ở VN xuất phát từ TPHCM, nhưng trong bảng phân phối này, thì sự hiện diện của các nhà khoa học ở phía Nam trong Nafosted còn rất khiêm tốn.

Vài nhận xét

Các phân tích trên đây cho thấy các viện / trung tâm nghiên cứu vẫn đóng một vai trò quan trọng bên cạnh các trường đại học. Điều này có lẽ là một đặc thù lịch sử của Việt Nam, vốn theo tổ chức khoa học của Liên Xô cũ. Ở các nước phương Tây, đại đa số các dự án nghiên cứu là từ các trường đại học; ngay cả các viện cũng liên kết hay hợp tác với các đại học để làm nghiên cứu khoa học. Đã từ lâu, tôi đề nghị nên hoặc là nhập các viện nghiên cứu vào các đại học, hoặc là liên kết với đại học trong đào tạo và nghiên cứu (thay vì như những trung tâm độc lập hiện nay). Sự liên kết giữa viện nghiên cứu và trường đại học chỉ có thể đem lại lợi ích gia tăng năng suất khoa học và giảm những chi phí không cần thiết.

Có lẽ do qui định của Nafosted nên không có ai chủ trì đề tài nghiên cứu có bằng cấp thấp hơn tiến sĩ. Theo tôi, đây là một điểm yếu của Quĩ Nafosted. Không có lí do gì không cấp tài trợ cho các nhà khoa học với bằng cấp cử nhân, thạc sĩ, bác sĩ, v.v… Vấn đề là vấn đề khoa học, và ai có sáng kiến giải quyết và khả thi – bất kể người đó có bằng cấp gì – thì phải tài trợ cho họ. Ở Úc, Mĩ, Anh, Âu châu (những nơi mà tôi biết) có rất nhiều bác sĩ không hề có bằng tiến sĩ hay thạc sĩ, nhưng họ vẫn được cấp tài trợ cho nghiên cứu, với điều kiện họ có công bố quốc tế và thuyết phục dự án của họ là khả thi. Một trong những guru và người tôi ngưỡng mộ là ông L. Riggs và bà E. Barrett-Connor, cả hai đều không có bằng tiến sĩ, nhưng tri thức và đóng góp của họ cho nội tiết học thì thuộc vào hàng đẳng cấp top 0.1%; họ là bậc thầy của bậc thầy. Ở Úc, trong Viện tôi có ông D. Chisholm cũng chưa bao giờ có bằng tiến sĩ, nhưng ông đào tạo ra biết bao người có tài, đến nỗi người ta lấy tên ông đặt cho quĩ học bổng. Tôi nghĩ cần phải xem lại điều lệ Nafosted, và nên mở rộng tài trợ nghiên cứu cho bất cứ ai, bất cứ nơi nào ở Việt Nam để cho họ có cơ hội đóng góp vào khoa học nước nhà.

Có lẽ những kết quả phân tích trên đây nói lên một điểm nổi cộm: đó là sự chênh lệch khó hiểu giữa miền Bắc và miền Nam liên quan đến các đề tài nghiên cứu được cấp tài trợ. Đây là một sự chênh lệch có thật. Sự chênh lệch đến mức vô lí này làm nảy sinh ra nhiều câu hỏi về sự phân phối quĩ nghiên cứu khoa học và sự công bằng trong việc phân phối. Nên nhớ rằng tiền bạc cho nghiên cứu khoa học là do người dân đóng góp, chứ chẳng phải của Nhà nước. Và, có thể nói rằng người dân miền Nam đóng góp nhiều thuế hơn người dân miền Bắc, một phần do dân số, và một phần khác do kinh tế phát triển hơn ở các tỉnh miền Nam. Ấy vậy mà đồng tiền người miền Nam đóng thuế không đến tay các nhà khoa học miền Nam một cách hợp lí! Do đó, vấn đề không chỉ là chênh lệch vô lí mà còn là một nghịch lí.

Tại sao có sự chênh lệch về phân phối tài trợ cho nghiên cứu giữa miền Bắc và miền Nam? Tôi nghĩ trong khi chưa có lời giải thích nào thì chúng ta có thể đặt ra vài giả thuyết. Cách giải thích thứ nhất là các nhà khoa học miền Nam và miền Trung quá kém cỏi, còn các nhà khoa học ngoài Bắc quá thông minh, quá tài giỏi. Cách giải thích thứ hai là các nhà khoa học miền Trung và miền Nam không muốn làm nghiên cứu, chẳng thèm nộp đề cương nghiên cứu xin tài trợ. Cách giải thích thứ ba là Quĩ Nafosted chỉ là sân chơi cho các nhà khoa học miền Bắc; họ chỉ cho miền Nam khi còn dư thừa chút tiền. Cách giải thích tư là thông tin về Quĩ Nafosted không đến các nhà khoa học miền Trung và miền Nam.

Tôi không tin là giới khoa học miền Bắc thông minh hơn hay tài giỏi hơn giới khoa học miền Nam. Hoàn toàn không có một bằng chứng nào để nói như thế. Do đó, cách giải thích thứ nhất không có cơ sở khoa học, và nên được bác bỏ.

Các nhà nghiên cứu các tỉnh phía Nam không muốn làm nghiên cứu khoa học? Giả thuyết này có thể đúng, vì ở miền Nam giới khoa học nhiều khi có cơ sở kinh doanh, hay bác sĩ lo làm tư, nên không muốn làm khoa học. Đối với nhiều người ở miền Nam, họ không chấp nhận kiểu “làm dự án” như là một cách nâng cao thu nhập cá nhân. Do đó, rất có thể số đề tài từ miền Nam quá ít, nên chẳng có bao nhiêu đề tài được cấp tài trợ. Nhưng vì tôi không biết đằng sau của hoạt động Quĩ Nafosted như thế nào, và cũng không biết con số đề tài xin tài trợ của 3 miền là bao nhiêu, nên đây vẫn là một câu hỏi còn tồn đọng.

Cách giải thích thứ ba là kì thị Nam Bắc cũng khó có cơ sở khoa học. Có thể nói thẳng rằng trong nhiều nhà khoa học phía Nam, vẫn còn tồn tại ngầm một quan niệm các quĩ nghiên cứu cấp bộ, cấp Nhà nước là chỉ dành cho các đồng nghiệp phía Bắc. Đại đa số các hội đoàn khoa học đều do các nhà khoa học phía Bắc làm chủ tịch. Đại đa số những hội đồng xét duyệt chức danh giáo sư cũng do các giáo sư phía Bắc làm chủ tịch. Đó là sự thật. Do đó các nhà khoa học miền Nam không mấy “mặn mà” với việc ra ngoài Bắc xin tài trợ, bởi vì họ nghĩ rằng khả năng được tài trợ rất thấp, mà còn tốn kém cho một việc mà kết quả có thể thấy trước. Ngoài ra, do di sản tiêu cực trong quá khứ, còn nhiều người không tin vào sự công bằng trong xét duyệt đề cương, nên cũng không muốn nộp đề cương nghiên cứu. Dù đó chỉ là cảm nhận (chứ cũng chưa có dữ liệu nào để nói như thế), nhưng vẫn ảnh hưởng đến tâm lí thụ động.

Những ai từng làm trong các đại học phương Tây còn nhớ vào cuối thập niên 1980s và đầu thập niên 1990s khi VN mới mở cửa, có nhiều sinh viên từ VN sang đây du học, nhưng 99% sinh viên xuất thân từ miền Bắc. Có nhiều du học sinh miền Nam phản ảnh rằng khi họ nhận được thông báo thì không có đủ thì giờ để làm thủ tục, trong khi đó đồng môn ngoài Bắc đã hoàn tất thủ tục. Đó là một thủ đoạn có thể nói cực kì rẻ tiền và thấp kém, nhưng lại cực kì có hiệu quả để hạn chế du học sinh từ miền Nam. Sau này, các cơ quan cấp học bổng từ nước ngoài, đặc biệt là Úc, biết được thủ đoạn này nên họ ra thông báo cho cả 3 miền, và sự phân phối du học sinh có phần cân bằng hơn. Nói như thế để đặt câu hỏi là thủ tục ra thông báo của Quĩ Nafosted có thật sự đến tai và mắt của các nhà khoa học miền Trung và miền Nam?

Đất nước đã thống nhất 35 năm, nhưng những dữ liệu trên đây cho thấy việc phân phối tài trợ cho nghiên cứu vẫn còn một khoảng cách quá lớn giữa Bắc và Nam. Theo tôi, đó là một rào cản cực kì lớn để khoa học Việt Nam vươn lên và phát triển. Ngày nào còn sự bất công và phe phái Bắc Nam trong khoa học, ngày đó khoa học Việt Nam vẫn chưa thống nhất và sẽ không có cơ hội huy động trí lực của toàn quốc.

Quĩ Nafosted ra đời nhằm san bằng những bất bình đẳng trong việc phân phối tài trợ cho nghiên cứu khoa học và đem lại sự công bằng cho mọi nhà khoa học. Chúng ta chưa biết mục tiêu công bằng có đạt hay chưa, nhưng rất tiếc sự mất bình đẳng Bắc – Nam vẫn còn tồn tại một cách phi lí. Sự phi lí không thể giải thích được bằng logic thông thường. Hi vọng rằng trong tương lai, Quĩ Nafosted sẽ tìm biện pháp đem lại công bằng cho mọi nhà khoa học trên mọi miền đất nước.

nguyenvantuan.net/science/4-science/972-khoang-cach-bac-n…

======================================================

Lời bình: Thời nay, ai có tư tưởng băng nhóm để ăn tiền là đích thị là BỌN PHẢN ĐỘNG đang ngấm ngầm hoạt động trong nội bộ của ta. Cảm ơn GS Tuấn đã nói lên sự thật. Thành thật xin lỗi những người dân miền Nam, Trung chịu nhiều khổ cực để đóng góp chung cho cả nước nhưng….Sự thật dã man này hy vọng là hồi chuông cảnh tĩnh những bọn cơ hội trong khoa học, bọn chạy đề tài khoa học,…, bọn làm giàu bằng các đề tài khoa học dỏm, bọn ăn chia và thâu tóm tài trợ khoa học, bọn khoa học dỏm đang cố tình chia rẽ dân tộc vì mục đích thấp hèn.
Originally posted 4 weeks ago. ( permalink )
Tuan Ngoc@ edited this topic 4 weeks ago.

view photostream

TS tinh thuong men thuong says:

GS NVT có nhiều bài rất hay. Cũng xin thưa với GS rằng MN ko thích làm đề tài bằng ngân sách NN tài trợ, theo thiển ý của cá nhân thì do:
– Cảm giác khó thắng, vì vậy, theo đuổi mất thì giờ.
– Tài trợ chả bõ bèn gì, mà thủ tục quá nhiêu khê, có thể phải qua nhiều “trạm”.
Tuy nhiên, MN vẫn có nhiều NC có giá trị lớn về mặt y sinh học. Nếu GS theo dõi, sẽ thấy những đề tài có tầm ảnh hưởng chiến lược đến guidelines, quy trình chẩn đoán, điều trị, hay thuốc mới, đều xuất phát từ MN. Tiền ở đâu ra? Là do hợp tác NC với nước ngoài. Nhà tài trợ, hoặc tổ chức NC chu cấp đầy đủ khi 1 đề cương được chấp thuận, ko có xu nào bị rớt đi đâu cả. Người tham gia NC còn được hỗ trợ tối đa về training, viết lách, v.v…
Nhưng cũng có thiệt thòi: Chẳng mấy ai là nhà NC của VN được đứng tên đầu hoặc CA cả.
Đôi khi người lao động cật lực chỉ được liệt kê trong “Acknowledgment”
Thôi, dù sao cũng được làm NC, đóng góp công sức cho tri thức nhân loại, có hữu ích cho con người. Được mở mang đầu óc, và như GS NVT có nói, có cơ hội làm việc, tiếp xúc với những người thông minh nhất hành tinh. Và có 1 cảm giác được đối tác rất tôn trọng và quý mến (vì họ hiểu rõ tại sao họ ko thể để tên của anh ta, chị ta vào mà lại là tên người khác).
Thôi thế cũng tạm được. Chả cần lấy tiền dân mà mình vẫn là người có ích.
Posted 4 weeks ago. ( permalink )

view photostream

Tuan Ngoc@ says:

Nhân đọc bài:

dantri.com.vn/c20/s20-407302/phai-xem-xet-trach-nhiem-hin…

xin có vài lời gửi các DỎM: Ông Tô dùng quyền lực của mình để bóp nghẹt mọi thứ, mua bán, đổi trắng thay đen mọi thứ, trước khi UBKTTU vào cuộc. Chuyện này chẳng khác gì chuyện các DỎM dùng quyền lực trong tay để thao túng mọi thứ trong khoa học, những trò mua bán – chạy đề tài, đào tạo tiến sĩ giấy, thạc sĩ dốt,…., từ đâu mà ra, sẽ không khó để nói rằng đó là “kết quả” của các DỎM! Nghiên cứu thì dốt, công bố toàn dỏm, nhưng khi viết báo cáo thì toàn “xịn”, lập bè lập phái, làm cho cả những người nghiêm túc mất phương hướng, tự chế ra các tiêu chuẩn dỏm,…… để bóp chết khoa học Việt Nam,…., đó chẳng phải là các hoạt động phá hoại của các DỎM hay sao?
Posted 4 weeks ago. ( permalink )

view photostream

vientoan says:

Tôi xin POST một câu chuyện rất thời thượng, liên quan tới việc PHONG DANH của một nhà văn, nhờ tôi post hộ vào trang này.

CHÂN PHỜ ZỜ SỜ
Tặng LKT

Hai đứa ngồi ở quán café vỉa hè tranh luận. Tuấn vẫn nằng nặc giữ cái lý của mình. Tuấn ngượng. Tuấn không quen làm thế. Không đời nào. Không đời nào. An bảo, đã thế thì đừng làm nữa, đừng làm ngay từ đầu để được làm kẻ sĩ. Còn nếu vẫn định làm ý à, thì không thể khác đâu, bây giờ mình kẻ sĩ quá vừa hỏng việc, vừa đồ gàn. Hình như An có phần tự ái…
Tuấn và An bàn mưu tính kế để Tuấn đi làm cái chân Phó giáo sư (từ đây trở đi người viết câu chuyện này viết tắt là PGS, hoặc là phờ zờ sờ, hoặc theo cách của dân gian đương đại là phá giới sớm!!!). Ừ, cái chân PGS. PGS là cái chức danh gì nhỉ? Thực ra Tuấn cũng lơ mơ nốt. Tuấn chưa lúc nào nghĩ thật cẩn thận về chuyện này. Nhưng thấy bảo ở nước mình thì cái chức phờ zờ sờ cho đến zờ sờ được nhiều lợi lộc lắm. Nhất là anh lại giảng dạy ở một trường đại học. Anh được kéo dài tuổi làm việc năm năm này, chứ không thì cứ đúng tuổi là hưu; được nhận các đề tài nghiên cứu khoa học cấp viện cấp bộ cấp nhà nước này, mà cái khoản đề tài thì có thể có tiền chục triệu tiền trăm triệu thậm chí tiền tỉ (cái anh trí thức trí ngủ thì không có một cách làm tiền nào chính đáng hơn thế, đút túi ngọt ngào hơn thế, có vẻ sang trọng hơn thế, tiền đầu tư cho nghiên cứu khoa học cơ mà). Được gì nữa nhỉ, à được thăng quan nếu có thể (dĩ nhiên thăng quan tiến chức không nhất thiết cần cái món phờ zờ sờ này lắm, mà cần nhiều thứ khác nữa, thí dụ giỏi chạy mánh, giỏi chịu nhục, giỏi cả hầu bao nữa…). Và được cái danh hiệu sáng choang. Từ một anh giai cấp nông dân cần lao chân đất mắt toét bỗng nhiên sau một đêm, woa, những kẻ quê mùa bỗng thành trí thức. Oách lắm. Về làng phải biết. Làng của Tuấn ngày xưa cũng được coi là làng khoa bảng. Nghe đâu có ông đỗ đạt tiến sĩ làm đến thượng thư đời nhà Mạc (cái triều này không chính danh chính sử, bị coi là ngụy triều, nên các bậc khoa bảng không được ghi danh trong Văn Miếu) được thờ ở đình làng. Nhưng ông ấy mới tới cái chân tiến sĩ, chứ đằng này còn là PGS tiến sĩ kia (từ đây trở đi người viết chuyện này gọi tắt là PGSTS, hay là phờ zờ sờ tờ sờ). Danh giá lắm. Cả làng cả xã bây giờ mới nứt ra một anh PGSTS chứ truyền đời nay đã làm gì có. Nghĩ thế, Tuấn thấy râm ran trong lòng. Về làng. Về làng phen này khối dòng họ trong làng phải ghen tị đến lòi mắt chứ chẳng chơi. Đấy, mày bảo họ nhà mày to nhất làng ư? Ừ thì to. Nhưng có thằng nào làm đến PGSTS nào. Mày bảo họ nhà mày giầu nhất làng ư? Ừ thì giầu. Giầu khi chết có mang theo mà ăn được à? Vả lại thì nhà tao cũng chẳng phải loại nghèo. Giầu nghèo tùy lúc. Nghèo thì lâu giầu thì mấy. Giầu nghèo thì còn lấy cơ bắp mà làm ra được, chứ PGSTS lấy cơ bắp mà làm ra được ư?…Với lại, ở đời con gà tức nhau tiếng gáy. Tuấn dời làng từ bé, nhưng cái tâm tính làng thì không dời được. Mà dời là dời thế nào. Cùng thì là trà lứa với nhau, nó cũng sêm sêm như mình mà nó PGSTS từ mấy năm rồi. Nó hơn chó gì mình. Nó chỉ được cái khoản kia là giỏi thôi, chứ chữ nghĩa thì có gì đâu nào. Viết lách thì ba lăng nhăng. Nó chả có cái tội gì, duy nhất chỉ một cái tội là viết nhạt. Thế thôi. Trong nghề nào chứ nghề viết, nhạt được coi là có tội. Nhạt là tội ác. Thế mà nó đã đường đường chính chính PGSTS từ mấy năm nay rồi. Mà chả riêng gì nó, mấy đứa kia cũng rứa cả thôi mà cũng đã đâu vào đấy. Nhìn ra còn trơ lại mình Tuấn. Mà Tuấn có đến nỗi nào. Tuấn chỉ mỗi một cái tội là đ…chịu hèn thôi (ấy chết, lại văng bậy rồi, quen mồm rồi, mà nói cho vuông, cánh trí thức là văng nhiều nhất, văng văng mạng, chứ đừng tưởng). Không chịu hèn là thế nào? Nghĩa là Tuấn không biết chạy. Chạy ư? Sao lại phải chạy? Thì gọi là chạy chứ thực ra nó không có gì to tát lắm. Nghĩa là phải chịu khó đi thăm nom một tí. Nghĩa là phải như thế nào? An kiên nhẫn ngồi giảng giải, nghĩa là phải đến thăm nhà đủ mặt mấy ông trong hội đồng, người ta chẳng đòi hỏi gì, mình nên nói với người ta một câu, ngày thường vẫn gặp nhau, bây giờ biết mười mươi người ta ngồi trong hội đồng, không nói một tiếng với người ta thì coi sao được. Tuấn gặng, sao lại cứ phải thế nhỉ? Tôi đủ công trình, đủ các loại giấy tờ, các loại điều kiện thì mặc nhiên là tôi được, chứ sao lại phải thăm với chả nom. Nói chuyện với Tuấn như nói với người trên giời rơi xuống ý. Ông có biết không, năm nào cũng vậy, ai cũng vậy, người ta phải làm thế hết đấy ạ. Không có cái chuyện cứ ngang bằng sổ thẳng đâu. Thế thì đã chả phải nói với cậu cho mệt. Ừ thì đồng ý là đi thưa gửi vậy, nhưng mà có phải phong bao phong biếc gì không? An chán nản, không ai người ta rao giá, nhưng mà xem trong mấy ông đấy, mấy ông trẻ trẻ thì thôi, có đưa cho người ta, người ta cũng không dám nhận, còn mấy bố VIP kia kìa, nhất thiết phải có, gọi là đôi tờ, thế thôi, gọi là. Tuấn giãy nảy. Tôi ngượng. Tôi xấu hổ. Các ông ấy mắng cho, khinh cho ấy chứ. Tuấn ơi là Tuấn, người giời ạ, đừng nghĩ ai cũng như Tuấn. Người ta cũng là người, cũng phải ăn phải tiêu, chả ai chê tiền cả. Tuấn nghe An, cho xong việc đi Tuấn ạ, thiên hạ người ta cũng thế, mình khác đi là không xong, cả làng nó thế mà. Tuấn ngao ngán, ôi cái thời thổ tả, phờ với chả sờ khốn khổ khốn nạn thế này sao…
An kể cho mà nghe nhé. Lần An làm cũng thế. An cũng chẳng định đến ai, thế mà rồi cũng phải đến hết đấy. Ban đầu, tớ gặp đâu, tớ nói đấy, rằng sắp tới em làm chức danh đấy, anh để ý giúp em với nhé. Có người thì tớ gọi điện, tớ cũng bảo thế. Nhưng đến sát ngày, thằng Thái làm cùng đợt nó bảo ông gà sống thiến sót (GSTS) Lâm Tường đánh tiếng sao cái An hồi này đi đâu mất mặt nhỉ. Thế là tớ phải đến tận nhà. Có mang theo gì không? Có chứ. Một túi trái cây và một phong bao. Cụ thể là bao nhiêu? Liệu cậu có nhất thiết phải biết là bao nhiêu không? Ừ cậu không thích nói thì thôi. Nhưng tóm lại là cậu đi bao nhiêu ông? Thì đủ 7 ông, nhưng chỉ có 4 ông là có cái khoản kia thôi. Ông to nhất thì phải nhỉnh nhất. Cái ông ấy cũng khá gần gũi với tớ nhé, lúc đầu tớ không định đến, nhưng thằng Thái nó bảo cứ đến, cứ như thông lệ, còn ông ấy không nhận thì thôi. Cậu biết không, vừa bước vào nhà một cái, ông ấy bảo An đến mình là phải, mình không giúp An còn giúp ai nữa… Thế đấy. Giả dụ tớ không đến thì có toi không. Tuấn quyết định sớm đi. Tớ biết cậu khí khái, lại đàn ông đàn ang mà phải túi nọ túi kia đi đến từng nhà các ông ấy là khổ lắm. Nhưng đã chấp nhận làm thì đừng sĩ diện, tớ nói thật đấy. Còn nếu cậu nhất quyết không làm thì đừng lăn tăn, phải siêu thoát hẳn. Thôi, chào cậu. Quyết định thế nào thì gọi tớ. Nếu đi thì tớ mua sắm giúp, rồi tớ đi cùng. Thế nhé. Cố lên cho nó xong đi, đừng có gàn nữa ông tướng ạ! Nói xong, An lườm cho một cái rõ dài. Bao nhiêu thân mến. Đúng là đàn bà…
Tuấn với An chả có gì với nhau, chỉ tình bạn đơn thuần. Hai đứa cùng học một lớp đại học. Ra trường, một đứa về Viện nghiên cứu nghiên cò, một đứa về trường đại học vừa dạy vừa dỗ. Ngày trẻ tao tao mày mày. Bây giờ con cái lớn tướng rồi. Gặp nhau cậu cậu tớ tớ. An đằm thắm, đáng yêu. Được cái rành mạch, dứt khoát. Bạn là bạn, không nửa nạc nửa mỡ. Tuấn nể An lắm. Gặp An, lắm lúc An mắng xơi xơi, nhưng Tuấn không tự ái. Ngày Tuấn đang học cao học chưa vợ con gì, An đã có con lên năm lên sáu rồi. Một hôm, An mò vào ký túc xá thăm Tuấn. An lừ lừ nhìn cái giường tầng hai Tuấn ở. Rồi quay ngoắt đi. Khoảng nửa tiếng sau, An mang về nào cái áo sơ mi mới, cái màn mới, hai cái xoong mới, một cái bếp dầu mới, lại một túi lạc, một túi ruốc to. An bảo, trông tạm bợ quá, thế này thì học hành làm sao được. Tuấn cười trừ, nghẹn nghẹn không nói được gì. Rồi cứ bẵng đi đến ba bốn tháng, nửa năm, An lại đến, lại mắng mỏ, lại mua mua sắm sắm. Lâu lâu không gặp nhau cũng nhơ nhớ. Mà An thì hễ cứ gặp là quyền uy với Tuấn, áp đặt Tuấn. Bạn bè lạ ghê cơ…
Cả làng nó thế, mình không thế là toi luôn… Tuấn nhớ lời An dặn. Nếu không làm thì thôi, còn làm thì đừng có sĩ. An nó nói có lý đấy. Tuấn có đủ kiêu hãnh để không thèm làm nữa không? Cứ thử trắng phớ ra xem sao nào. Thực ra trong lòng Tuấn vẫn ham, vẫn còn thích cái phờ zờ sờ ấy. Đeo cái mác ấy vào cũng oai. Với lại nghĩ cũng tức. Mấy đứa năm ngoái cùng làm, nó đỗ mình trượt mới nhục chứ. Mà nó có ra cái gì đâu. Năm ngoái thi đấu, ai cũng bảo thằng Tuấn xứng đáng nhất, thằng Tuấn không đỗ thì chả ai đỗ. Ấy thế mà Tuấn trượt trắng mắt ra. Chả còn cái công minh công chính ở đâu nữa. Tuấn đau quá. Nhưng bằng tất cả lòng tự trọng của một kẻ có học, Tuấn không nói xấu ai, không than phiền ai. Nhiều người nói là tay nọ tay kia đánh trượt Tuấn, nhưng Tuấn biết thế, không bình luận, coi như điếc. Tuấn thầm điểm mặt từng người một. Bẩy phiếu, chỉ cần hai phiếu chống là đứt. Vậy hai là ai? Một là thằng cha ấy. Đã có lần cha ấy đi phét lác ở một chỗ nào đó bảo rằng thằng Tuấn là học trò tao. Có người hỏi lại, Tuấn bảo mả nhà Tuấn không có phúc để được là học trò của cha này một ngày nào. Vả lại trong đời Tuấn cũng không muốn có một ông thầy nào như hắn. Thế là đến tai. Từ bấy trở đi hễ gặp đám đông nào là hắn tranh thủ rêu rao về Tuấn đủ thứ xấu xa, không ra gì. Còn cha này…thì mình chẳng có thù oán quái gì. Nhưng chắc hắn cũng cho nốc ao. Kiểm lại chỉ có mỗi một lần, tình cờ cùng đi công tác với nhau, cha ấy hỏi, Tuấn đọc của tớ thấy tâm đắc nhất là cái gì. Tuấn ậm ừ, em đọc hết của anh, nhưng em thấy được nhất là cái bài giới thiệu tuyển tập ấy, còn lại em không nhớ được gì. Hắn tím mặt lại. Tuấn không biết khéo. Người ta hỏi thế tức là đang chờ ở mình một lời khen. Mà anh lại không biết khen. Tuấn cười thầm, nó ghét mình cũng là đáng kiếp. Còn ai nữa nhỉ? Chịu. Không thể đoán được. Mấy người còn lại hoặc không quen biết gì hoặc nếu có quen biết thì cũng khá dễ chịu với nhau, gặp nhau đây đó tay bắt mặt mừng. Mà ở ta cái chuyện bỏ phiếu nó cũng tùy tiện lắm. Tặc lưỡi là gật hoặc gạch, thế thôi, chứ cũng chả cần lý lẽ gì…Năm ấy Tuấn giấu không cho An biết, Tuấn lẳng lặng làm. Chẳng qua cũng là có chút sĩ với An. Chứ nếu An biết, An lo liệu thể nào cũng xong. Khi cái tin Tuấn trượt loang ra, An mới gọi điện nhẩy xếch lên tru tréo, rằng sao không thèm nói cho người ta biết tin, rằng thời buổi này nó nhốn nháo lắm, cứ ngay thẳng thì có mà ăn cám, rằng thôi thì làm lại, sang năm tớ phải xắn tay vào giúp cậu một tay…
Có lúc Tuấn tặc lưỡi phờ zờ sờ là cái mẹ gì đâu mà sao mình lại phải khổ sở vì nó nhỉ. Ngày trước, nhiều danh nho kẻ sĩ lận đận quan trường khốn khổ khốn nạn mà tài năng vẫn chất ngất, danh thơm vẫn còn lưu. Mà ngay bây giờ cũng vậy, chưa hẳn đã hết bậc khí tiết kẻ sĩ. Nếu thực tài thực giỏi thiên hạ khắc nể phục. Anh đã ngu dốt, cứ đắp điếm vàng bạc mũ mãng đầy mình thì vẫn cứ lòi cái đuôi ngu dốt, chỉ tổ người ta khinh cho. Ngẫm về mình, Tuấn thấy mình cũng chưa ra gì. Cứ đằng thẳng ra, được cái chân tiến sĩ đã danh giá lắm rồi, còn mong gì hơn nữa. Học hành phổ thông thời chiến, lỗ mỗ. Thi đỗ vào một nền đại học củ chuối chẳng đâu ra đâu. Hết tiếng Nga tráng men lại tiếng Trung ú ớ, bây giờ lại tiếng Anh làng nhàng. Nói được vài câu giao dịch nhì nhằng. Đi vào chuyên môn là cứng lưỡi. Hễ mỗi lần hội họp có vài thằng Tây, ngượng chết đi được. Cái lần thằng cu đầu nhà Tuấn vừa mới đẻ được hơn tháng giời, bị khò khè đờm dãi, bác sĩ kê đơn thuốc, xong rồi bảo mua thêm cái lọ thuốc nước của ngoại về cho nó uống, tốt lắm. Tuấn sốt sắng mang về, vợ bảo uống thế nào? Tuấn nhướng mắt dòm vào cái bảng chỉ dẫn kèm theo toàn bằng tiếng Anh tiếng Pháp, dõng dạc phán nếu trẻ em sáu tuần tuổi là uống hai thìa cà phê. Hai vợ chồng dỗ dành cho thằng bé uống như chỉ dẫn. Thằng bé khóc ré lên, mãi không nín. Được một lúc, vợ Tuấn giật giọng anh ơi sao con mặt nó đỏ gay đỏ gắt lên thế này, hay con làm sao, con ơi con có làm sao không, đi gọi bác sĩ Hải ngay, không để thế này được đâu. Tuấn cũng thấy sờ sợ, ngộ nhỡ nhầm thuốc thì khốn. Tức tốc, bác sĩ Hải gần nhà chạy sang, xem lọ thuốc, hỏi cho uống thế nào. Tuấn trình bày, bác sĩ kêu giời lên. Nó chỉ dẫn trẻ em sáu tháng tuổi trở lên thì mới được uống, mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 2 thìa. Tuấn bảo ơ thế thì tớ đọc chữ tháng lại thành ra chữ tuần…Bữa ấy được phen hú vía. Nó bị say thuốc. Hai vợ chồng lại đè ngửa thằng cu hơn 6 tuần tuổi ra cho uống no bụng nước để giải say…Thế còn cái gọi là công trình khoa học của Tuấn, ừ thì cũng hết quyển nọ đến quyển kia, nhưng Tuấn biết, nó vừa phải lắm, bé mọn lắm, cứ in đầy ra đấy nhưng có ai đọc đâu, kể cả sinh viên nó cũng không thèm đọc. Âu cũng là cái tật chung của khoa học xã hội và nhân văn ở ta, toàn là hư văn, chung chung, toàn những điều to tát, nói dựa dẫm, thiếu cụ thể, phần lớn là lừa bịp. Thế thì phờ zờ sờ để làm gì. Vâng, để làm gì? Ồ, câu hỏi thật hóc hiểm. Dễ mấy ai dám trả lời cho thật hẳn hoi. Mà lạ thật, mấy bố mục kỉnh trán hói chức danh chức tước đầy mình chỗ nào cũng thấy có mặt, nói cứ trơn mồm không biết ngượng. Hết ngồi hội đồng này đến diễn đàn nọ. Nói dối tâm huyết. Nói dối thành một sự nghiệp. Sự nghiệp nói dối.
Tuấn có thằng bạn thân, trí lự hơn người. Nó thừa sức làm zờ sờ chứ đừng nói là phờ zờ sờ (mở ngoặc là đang nói trong phạm vi ở nước ta thôi). Nhưng không thấy nó làm. Hỏi, nó cười cười không nói gì. Tuấn ướm thử, năm tới tớ định làm đấy. Nó lại cười cười không nói gì. Đểu thật. Đến khi Tuấn quyết định làm, nó bảo, mày phải lường trước đấy, trong hội đồng có thằng nó sẽ phá mày đấy, thằng nào thì mày biết rồi, mà giả dụ tao làm thì thằng đầu tiên phá cũng chính là thằng ấy. Tuấn bảo, một thằng ấy phá thì còn lại sáu phiếu, vẫn thắng chứ. Mày ngây thơ quá. Nó đã phá thì nó phá từ bên trong phá ra, nó sẽ đi vận động từng người một để nhất trí với nó cùng phá. Lại thế nữa à? Thế thì còn quang minh chính đại mẹ gì nữa. Nó lại cười cười không nói gì. Đểu thật. Đến khi nghe tin Tuấn trượt, nó cười cười thủng thẳng nhân bảo như thần bảo mà lại. Mỗi lần nghĩ đến thằng bạn, Tuấn cứ ngường ngượng. Có phải nó không làm chỉ bởi vì có cái thằng bên trong nó phá hay vì điều gì cao hơn thế nữa?…
Tuấn kể về thằng bạn ấy cho An nghe. An tặc lưỡi, có người thì thế, chứ còn đa phần với người khác thì nó cũng là cái gì ghê gớm lắm chứ không như Tuấn nghĩ đâu. Cái năm An làm nhé, cũng có một mẹ te tái đứng ra làm. Cái mẹ này thì chuyên môn có hơi kém thật. Hôm thuyết trình trong hội đồng, bị hỏi mấy câu ớ ra không trả lời được, trên đường trở về, vừa ra khỏi hội đồng, cứ thế đâm luôn xe máy vào bà gánh hàng rong, ngã xây xát hết cả mặt mũi chân tay, may mà không gẫy ghiếc gì. Chắc là choáng. Xong rồi phải gọi điện cho con giai đến chở về đấy. Mẹ kiếp. Tuấn lại nhớ đến cái thằng người Huế năm xưa. Sắp đến ngày bảo vệ tiến sĩ, đạp xe cọc cạch đi khắp Hà Nội, đến từng nhà các vị giám khảo hội đồng, đi qua đường tàu hỏa, đêm hôm mắt mủi thế nào mà bị lôi tuột cả người cả xe vào gầm tàu. Vụ ấy, dân trí thức học đường Hà Nội vẫn còn nhớ cả…
+ +

+

A lô, An đấy à, Tuấn nghĩ lại rồi, thôi thì tặc lưỡi làm mẹ nó đi cho nó xong, An ạ. An lo liệu đưa đường chỉ lối cho tớ nhé. Thôi thì tớ mặt dầy một phen. Ừ, tớ nghe lời cậu. Em nghe lời mợ. Mợ bảo em đi đâu em đi đấy, được chưa. Khỉ, việc của ấy cứ làm như việc của tớ không bằng ý. Định khoán trắng cho tớ đấy à? Nhưng mà, Tuấn cũng phải dẫn cái xác đi cùng với tớ nhé, cũng phải thò cái mặt ra nói với người ta một câu. Được chưa. Được rồi. Em nghe lời mợ. Mợ là Phúc thần của em. Làm thế nào thì làm, một lần cho nó xong luôn mợ nhé. Đánh chắc thắng chắc nhé. Em trao cả thân phận em cho mợ đấy. Khiếp, ăn với nói. Cứ thế nhé. Cứ thế! OK.

Ngày mùng bốn Tết Kỷ Sửu, 2009.
Originally posted 4 weeks ago. ( permalink )
vientoan edited this topic 4 weeks ago.

view photostream

Tạp Chí GS Dỏm Việt Nam - JIPV is a group administrator Tạp Chí GS Dỏm Việt Nam – JIPV says:

Tổng thống Kirchner lên tiếng “Khi Đức đánh bại Argentina, toàn bộ người dân Argentina đều rất buồn. Nhưng chúng ta cần kiên nhẫn với Maradona, đội bóng cũng như đất nước Argentina cho dù nỗi buồn này sẽ còn kéo dài. Tôi đã gọi cho Maradona sau cuộc họp báo của ông ấy, nhưng ông ấy không thể nói lên lời vì đang khóc. Tôi ủng hộ ông ấy bởi không ai có thể đem lại nhiều niềm vui trên sân cỏ như Diego Armando Maradona đã đem lại cho chúng ta”, “Tôi đã mời toàn bộ đội tuyển tới Cung điện Tổng thống, nhưng họ từ chối bởi họ cảm thấy rằng mình không xứng đáng với vinh dự này. Nhưng tôi tin rằng họ đã sai bởi họ xứng đáng được như vậy, và tôi sẽ đợi họ”.

nguyenvantuan.net/online-news/986-dam-tau-titanic-viet-na…

Đọc đoạn này mà thấy buồn cho GS, PGS dỏm: do không xứng đáng nên lập bè lập phái để “chế tạo” ra tiêu chí dỏm và tiếp tục “cướp” tiền của dân bằng những nghiên cứu dỏm. Cái nghèo nhất của GS, PGS dỏm là nghèo lòng tự trọng.
Posted 4 weeks ago. ( permalink )

view photostream

Tuan Ngoc@ says:

GS Nguyễn Văn Tuấn đã lên tiếng về các đề tài Nafosted. JIPV tiếp tục nổi tiếng vì có thêm “một citation”:

nguyenvantuan.net/science/4-science/999-ve-khoang-cach-ba…

Hy vọng với những tranh luận cởi mở liên quan đến các đề tài sẽ làm cho DỎM hết đất sống và sẽ phải chuyển nghề hoặc “chết” bớt 🙂
Originally posted 3 weeks ago. ( permalink )
Tuan Ngoc@ edited this topic 3 weeks ago.

view photostream

inhainha says:

Còn ở đây nữa nè bác bshohai.blogspot.com/2010/07/mot-chut-ve-may-va-tao.html. Mấy hôm nay lên trên đây tranh luận với BS Hồ Hải, một blogger khá nổi tiếng, bác này có hiểu biết khoa học giống mấy ông GS dỏm nhà ta quá. Bác này sắp viết về JIPV trong entry sắp tới, để xem bác ấy viết JIPV như thế nào.
Originally posted 3 weeks ago. ( permalink )
inhainha edited this topic 3 weeks ago.

view photostream

Hội Viên.Hội Toán Học says:

Sao bác inhainha không lưu ý BS Hồ Hải tiêu chuẩn 1.1., 1.2. của JIPV? JIPV đâu chỉ thuần túy dựa vào ISI. Hy vọng là ông này có thể khả năng hiểu hết những gì trên JIPV trước khi viết bài về JIPV.

Tôi cũng xin nhắn mấy anh dỏm mà tôi đã có dịp trao đổi: không có ISI thì phải có 1.1., 1.2. nếu muốn chứng tỏ giá trị khoa học.
Originally posted 3 weeks ago. ( permalink )
Hội Viên.Hội Toán Học edited this topic 3 weeks ago.

view photostream

inhainha says:

hahaha, thật ra tiêu chuẩn 1.1 và 1.2 có mối tương quan mật thiết với số lượng ISI, bác bảo “không có ISI thì phải có 1.1 và 1.2” khác nào bắt người ta leo lên lầu mà không cần dùng thang, 🙂
Posted 3 weeks ago. ( permalink )

view photostream

connan2010 says:

Qua cuộc tranh luận giữa BS Hồ Hải và Inhainha, mình thấy rằng chẳng nên tranh cãi với những người có quan điểm về khoa học như vậy. Mình cũng gặp nhiều người như thế rồi. Cách tốt nhất là im lặng :D.
Posted 3 weeks ago. ( permalink )

view photostream

TCHGGD2010 says:

Xem hồ sơ anh BS này thì có hiểu biết gì về nghiên cứu khoa học nghiêm túc đâu mà tranh luận. Anh ta chỉ là một anh thợ y khoa thôi, không phải là dạng bậc thầy. Nếu gã inhainha muốn trao đổi với anh ta thì cứ nhấn liên tục vào “thế nào là một bài báo khoa học nghiêm túc” thì anh ta sẽ bí thôi, chưa cần nói đến ISI. Ngay cả NTZ còn bị hỏng trong việc nhận thức thế nào là giá trị khoa học của một GS.

Tớ có xem những gì anh BS đó viết, về mặt khoa học, anh ta chỉ xứng đáng là người “tìm thầy hướng dẫn NCS” thôi. Nếu xin tớ thì tớ từ chối ngay, hoặc tớ sẽ chỉ cho anh ta biết “về chuyện đời thì có thể anh hơn tôi, về việc nghiên cứu thì xin lỗi anh: anh chưa thể làm học trò của tôi vì khả năng khoa học của anh là 0. Nghiêm trọng là anh chẳng hiểu gì về NCKH nhưng lại thích nói càng”. Ok?
Posted 3 weeks ago. ( permalink )

view photostream

inhainha says:

@connan2010: bác nghĩ vậy cũng có lý của bác, có lẽ bác cũng bị các dỏm cho lên bờ xuống ruộng nhiều lần nên nản.

Nhiều dỏm thường sử dụng chiêu tung hỏa mù, bảo rằng JIPV không chính xác, là bịa đặt … làm cho nhân dân hoang mang, bối rối, chẳng biết ai đúng, ai sai vì vậy em nghĩ cũng nên có trách nhiệm giải thích rõ ràng một tí về tiêu chuẩn JIPV sử dụng, phản bác lại những lập luận phi khoa học, không có bằng chứng. BS Hồ là người hiểu biết lẽ phải, đạo lý nên việc giúp bác ấy nhận thực đúng đắn về công bố quốc tế, tiêu chuẩn ISI … cũng là việc hay. Nay mai, JIPV sẽ là đối tượng trong bài báo của BS Hồ, dù bác ấy viết đúng hay chưa đúng về JIPV thì ít nhất việc xuất hiện trên entry của bác ấy cũng giúp nhiều người biết được việc JIPV đang làm. Điều quan trọng là chúng ta nên định hướng, chỉ dẫn và giải thích công việc của chúng ta để cộng đồng thấu hiểu. Trên JIPV có giảng đường dành cho dỏm thì lâu lâu chúng ta cũng nên mở những lớp “lưu động” để các giảng viên JIPV bớt quan liêu, các bác nhỉ? 🙂
Posted 3 weeks ago. ( permalink )

view photostream

TCHGGD2010 says:

Như đã nói, tớ ủng hộ inhainha mở lớp “lưu động”. Vụ này mới! 🙂

Inhainha và tớ đã từng chinh chiến nhiều nơi, từng giúp NTZ, ĐDH, PHT nhận thức đúng về NCKH. Công bằng thì gã inhainha “nghệ thuật” hơn tớ nên tớ chưa lên tiếng với anh Hồ Hải. Tớ thì hơi “bạo lực” tí, giảng không hiểu có khi tớ “bóp bóp” thì hỏng việc nên cũng vụ này tớ nhường inhainha. Nhắc inhainha: anh này chủ yếu dùng kinh nghiệm trường đời và chuyên môn của một anh thợ. Biết điểm yếu này thì inhainha sẽ giúp anh ta hiểu chuyện thôi. Nghe anh ấy nổ về “thằng con của tớ” mà thấy buồn cười, đúng là chả hiểu nghiên cứu là gì.
Posted 3 weeks ago. ( permalink )

view photostream

inhainha says:

Huhuhu, tạp chí rác còn ăn trên đầu trên cổ NCS nữa nguyenxuandien.blogspot.com/2010/07/le-phi-2-trieu-ong-ch…
Posted 2 weeks ago. ( permalink )

view photostream

inhainha says:

Đọc bài này mới thấy các Dỏm liên kết với nhau trù dập bác Phạm Đức Chính như thế nào:
www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=76&CategoryID=3…

Ôi thương thay cái nền cơ học Việt Nam, từ đó đến nay đã 2 năm mà vẫn chẳng thấy sự đổi mới gì cả.
Posted 2 weeks ago. ( permalink )

view photostream

Tuan Ngoc@ says:

Bài bác inhainha sưu tầm rất hay, tôi post lên luôn để mọi người xem cho dễ:

Cơ học Việt Nam-Thực trạng và giải pháp

Tại Hội thảo “Nghiên cứu khoa học đào tạo và triển khai ứng dụng trong lĩnh vực cơ học” do Viện Cơ học, Viện KH&CN Việt Nam tổ chức ngày 6-7.11 tại Tam Đảo, TS.Phạm Đức Chính đã được Ban tổ chức mời báo cáo đề dẫn, nhưng một thành viên của Ban tổ chức (nguyên là Viện trưởng Viện Cơ học) cho rằng nội dung của báo cáo này đi chệch mục tiêu cuộc Hội thảo, nên đã kiến nghị với Ban tổ chức chỉ xếp báo cáo của TS.Phạm Đức Chính “vào phần tham luận cá nhân, nếu không được chấp nhận sẽ xin rút khỏi danh sách Ban tổ chức và không tham dự Hội thảo” (Trích thư gửi Ban tổ chức hội thảo). Theo TS.Phạm Đức Chính, toàn bộ thành viên Ban tổ chức Hội thảo đã đồng tình với kiến nghị này, vì vậy anh cũng sẽ không báo cáo tại Hội thảo .
Tia Sáng xin đăng bản báo cáo của TS.Phạm Đức Chính để các nhà khoa học và nhất là cộng đồng khoa học ngành Cơ xem nó có thực là đi chệch với mục tiêu của cuộc Hội thảo hay không?
—————

Cơ học đóng một vai trò chính trên hướng gọi là Engineering (kỹ thuật). Thật vậy, ngoại trừ một số lĩnh vực đặc thù như công nghệ hóa-sinh, điện tử-hạt nhân, phần lớn các lĩnh vực trong kỹ thuật, từ chế tạo máy, xây dựng, giao thông, hầm mỏ,… tới thủy lợi và khí tượng-thủy văn, đều làm nghiên cứu và thiết kế với các mô hình cơ học về ứng xử và chịu lực của vật liệu, kết cấu, tương tác dòng chảy… Các KS cơ học-kỹ thuật thực hành đã có nhiều đóng góp trong tiến trình xây dựng và công nghiệp hóa đất nước.
Việc thành lập Viện Cơ học thuộc Viện KH&CN VN, rồi Hội Cơ học VN cách đây hơn ¼ thế kỷ đã giúp liên kết các nhà cơ học thuộc các lĩnh vực kỹ thuật khác nhau từ các ĐH và Viện nghiên cứu, với mong muốn thúc đẩy trao đổi chuyên môn, hợp tác đào tạo và nghiên cứu cơ học. Các quan chức đầu ngành (là các TSKH Cơ học đầu tiên của VN) đã vận động thành công để ngành Cơ học có vai trò độc lập được công nhận, được quan tâm và đầu tư thỏa đáng. Tuy nhiên những năm gần đây nhiều bất cập và tiêu cực nổi cộm dần hình thành đã dẫn tới hệ quả là các kết quả nghiên cứu và xây dựng lực lượng cơ học không đáp ứng được các đòi hỏi ngày càng cao đối với KHKT của VN trên tiến trình hội nhập – vấn đề được Hội thảo của chúng ta quan tâm. Bài tham luận này được trình bày thành 2 phần:
1. Vị thế của Cơ học VN và Viện Cơ học.
2. Cơ học VN cần được tháo khỏi các trở ngại
Vị thế của Cơ học VN và Viện Cơ học
Một số người trong và ngoài ngành Cơ học vẫn ngộ nhận rằng năng lực và các kết quả nghiên cứu đạt chuẩn quốc tế của ngành Cơ học VN (với đầu tàu là dân Toán-Cơ của mô hình Liên Xô) chỉ thua hai ngành Toán và Vật lý. Đúng là trong quá khứ thời bao cấp, các bạn trẻ giỏi có xu hướng và được phân theo Toán, Lý, rồi đến Toán-Cơ ,…, và thực lực ban đầu của ngành Cơ và Viện Cơ – nhất là ở thời điểm những năm đầu 80 với số đông các nhà khoa học trẻ được đào tạo từ Đông Âu trở về – cũng đúng là như vậy. Tuy nhiên các con số thống kê thời gian gần đây đã cho một bức tranh khác hẳn.
Báo cáo của Bộ KH&CN về kết quả NCCB các ngành 5 năm 2001-2005 cho các con số cụ thể như sau về số các bài báo và báo cáo hội nghị được công bố:

(xem bảng)

Không kể 2 hướng 8 và 9 được tách ra từ các ngành Vật lý và Khoa học Sự sống, trong số 7 lĩnh vực NCCB thì ngành Cơ học là một trong 2 lĩnh vực yếu nhất về số bài báo đăng tạp chí quốc tế, nhưng lại đứng đầu về số báo cáo hội nghị quốc gia – là thứ dễ dãi nhất.
Lần đầu tiên, thống kê số bài báo quốc tế ISI (SCI & SCIE) 2004-2008 của Viện KH&CN VN được thực hiện đã cho thấy Viện Cơ học xếp thứ 11 trong số các Viện thành viên, so sánh theo tỷ lệ [số bài báo/số biên chế] của 4,5 năm, với thứ tự cụ thể: 1.Viện Toán (1.68), 2.Vật lý (1.05), 3.Sinh học Tây nguyên (0.83), 4.Hóa học (0.54), 5.Vật lý TP. HCM (0.51), 6.Hóa học các HCTN (0.50), 7.Khoa học Vật liệu (0.45), 8.Sinh thái TN Sinh vật (0.30), 9.Công nghệ Sinh học (0.28), 10.Kỹ thuật Nhiệt đới (0.26), 11.Cơ học (0.24).
Hệ thống giảm rung ứng dụng cho cầu dây văng

Thống kê của Viện thông tin khoa học (ISI) về số các bài báo khoa học quốc tế chuẩn mực cũng cho thấy số các công bố quốc tế của Việt Nam là rất yếu, chỉ cỡ 1/3 con số tương ứng của Malaysia (trong khi số dân nước ta lớn hơn 3 lần số dân Malaysia), 1/5 số bài của Thái Lan, chứ chưa dám so sánh với khối Ðông Á và TQ. Số bài báo quốc tế của chúng ta chủ yếu do hợp tác quốc tế (80%). Ðiều đó cho thấy các nhà khoa học của chúng ta vẫn còn phải dựa nhiều vào hỗ trợ quốc tế (về chuyên môn, phương tiện, hoặc tài chính).

Ngành Cơ học thậm chí còn yếu hơn mức trung bình: số bài báo nói chung của chúng ta ít hơn Thái Lan và Malaysia tương ứng là 5 và 3 lần, nhưng trên lĩnh vực Kỹ thuật (Cơ học) thì lại thua họ tới 6 và 4 lần.
Thống kê của Viện thông tin khoa học (ISI) về số bài báo quốc tế các ngành của VN và một số nước 11 năm qua (1/1997-12/2007) cho:

(xem bảng)

Từ các con số này cũng có thể thấy rằng các công bố quốc tế của Việt Nam đều đến từ tất cả các lĩnh vực, và chủ yếu là từ các lĩnh vực khoa học ứng dụng, chứ không phải là đặc thù riêng của các lĩnh vực lý thuyết như Toán hay Vật lý – như ngụy biện của một số người ở ta.
Mặc dù xuất phát điểm (thời kỳ sau thống nhất đất nước) của ngành Cơ không thua kém nhiều các ngành Toán và Vật lý về mặt lực lượng, nhưng đến nay về chất lượng khoa học của ngành Cơ thua xa họ. Các chức sắc đầu ngành Toán và Vật lý là các nhà khoa học vươn tới được các công bố quốc tế độc lập đã giúp định hướng cho thế hệ tiếp nối tới một văn hóa làm khoa học nghiêm túc và đã thiết lập được các mối quan hệ quốc tế giúp duy trì và phát triển các ngành này vượt qua các khó khăn của thời bao cấp trì trệ, ngành Cơ học không có được may mắn như vậy. Các lãnh đạo ngành đã tỏ ra là yếu kém về năng lực công bố quốc tế, nhanh chóng buông xuôi và đưa sự phát triển của ngành xa rời các chuẩn mực khách quan quốc tế. Họ duy trì các chuẩn mực mập mờ, cơ chế quan liêu, đặc quyền đặc lợi, để giành lấy kinh phí nghiên cứu, giữ cho bản thân và những người thân quen yếu năng lực chuyên môn những xuất đi nước ngoài hiếm hoi được viện trợ hay bao cấp Nhà nước – nhất là trong thời bao cấp khó khăn. Điều đó đã làm đẩy nhanh tiến trình chảy máu chất xám, hủy hoại đạo đức và tinh thần khoa học của cả cộng đồng.
Viện Cơ học những năm 80 nhận chủ yếu các nhà cơ học trẻ tiềm năng được đào tạo từ Đông Âu, nay phần lớn trong số đó đã ra đi và bỏ nghề (khác với lớp người thời đó, giới trẻ giỏi ngày nay có xu hướng chọn các ngành kinh tế thay cho khoa học và kỹ thuật). Thay thế cho họ là nhiều người thân quen và quan hệ của các chức sắc, thiếu cả năng lực chuyên môn lẫn tâm huyết nghề nghiệp, nhằm vào bao cấp Nhà nước để dựa dẫm nhưng làm việc vật vờ hoặc sử dụng thời gian Nhà nước làm các việc khác. Số người có năng lực công bố quốc tế ở Viện Cơ hiện chỉ còn vài người (trong khi đó ở các Viện Toán và Vật lý còn được hai ba chục người). Số công bố quốc tế đạt chuẩn ISI (SCI Expanded) của Viện Cơ học 5 năm qua không bằng con số công bố trong 1 năm của Viện Toán hay Vật lý, mặc dù số biên chế chính thức đều cỡ 100 người như nhau.

Ở Thái Lan hay Malaysia số bài báo quốc tế ISI trên các lĩnh vực Cơ-Kỹ thuật lớn gấp hàng chục lần so với ngành Toán. Ở Singapore, lĩnh vực có số bài báo quốc tế nhiều nhất là lĩnh vực Engineering (Kỹ thuật-Cơ học). Viện Cơ học Bắc Kinh có số biên chế lớn hơn 3 lần Viện Cơ học Hà Nội, nhưng có số công bố quốc tế mức chuẩn SCI nhiều hơn 30 lần, chưa kể mỗi năm họ còn có thêm ba chục bằng sáng chế.

Số công bố quốc tế ngành Cơ học, nhất là công bố nội lực, tập trung chỉ vào một số rất ít người và một số bài quốc tế là của các NCS, TTS của ta làm chung với thầy ở nước ngoài (nhưng có ghi địa chỉ VN).
Điều đáng quan tâm là hàm lượng khoa học trong các đề tài nghiên cứu cơ học là rất thấp, nhất là các đề tài nghiên cứu ứng dụng kinh phí lớn – vốn không được bảo đảm bởi các bài báo khoa học được phản biện độc lập, mà chỉ được nghiệm thu bởi một hội đồng chức sắc rõ mặt rõ tên nể nang nhau. Ý nghĩa ứng dụng của các đề tài này lại càng mơ hồ – vốn chỉ có thể được tài trợ bằng kinh phí bao cấp Nhà nước trực tiếp từ các cơ quan chủ quản hay qua các đối tác. Khi các cơ quan quản lý yêu cầu, Viện Cơ đã không thể đưa ra được các sản phẩm ứng dụng hay công nghệ gì đáng giá và có sức thuyết phục để khoe. Thậm chí có người còn đi xa hơn với luận điểm “NCCB làm cơ sở cho NCƯD không cần phải có công bố quốc tế” để giành thêm cho mình và thân hữu các đề tài NCCB với kinh phí lớn nhất – thêm vào các đề tài NCƯD kinh phí lớn đã có. Có tới cả hai chục đề tài NCCB trong Viện Cơ học, nhưng điều vô lý nổi cộm là 80% số công bố quốc tế chuẩn mực ISI của Viện Cơ học 5 năm qua là thuộc về 3 đề tài được cấp kinh phí ít nhất. Người ta đã làm như vậy kể cả khi hướng dẫn cụ thể của Bộ KH&CN từ năm 2005 nhấn mạnh phải ưu tiên các đề tài có công bố quốc tế. Mọi người đều nhận thấy các đề tài khoa học, nhất là các đề tài gọi là ứng dụng được bao cấp kinh phí lớn, là các vụ đánh quả của một số người, và thiếu chuẩn mực khách quan rõ ràng. Nhiều đề tài nghiên cứu ứng dụng với nội dung chính chỉ là chạy thông các chương trình tính mua hay xin được ở nước ngoài (hoặc thậm chí được cho miễn phí trên Internet) áp với một số số liệu thực tế.
Có một sự kỳ thị rõ rệt đối với những người đã vươn tới được công bố quốc tế, đặc biệt là tại Viện Cơ học. Họ chỉ có thể được các đề tài NCCB kinh phí nhỏ nhất, và cũng không có kinh phí để nhận đào tạo lực lượng trẻ. Thậm chí người ta còn ngăn chặn số ít nhà khoa học có thành tích công bố quốc tế khỏi các hội đồng chuyên môn… Các nhà cơ học trẻ có năng lực công bố quốc tế ở Viện Cơ hiện không có, mà chỉ có ở các ĐH và trong số NCS và TS đang học tập và thực tập ở nước ngoài xuất phát từ các ĐH.

Lãnh đạo Hội Cơ học, Hội đồng NCCB, Hội đồng chức danh GS, Tạp chí Cơ học suốt hơn ¼ thế kỷ qua hầu như không đổi, với thành phần là những cá nhân tuy đã có những đóng góp trong thời kỳ đầu tập hợp và xây dựng lực lượng, nhưng thiếu năng lực công bố quốc tế và nay đều đã lớn tuổi và lạc hậu dần theo thời gian, tạo nên một cơ chế quan liêu cứng nhắc đặc quyền đặc lợi – là sức cản chính cho tíến bộ của ngành Cơ học. Người ta còn giữ quyền chỉ định lớp người kế cận, bất chấp các chuẩn mực khách quan.
Chính những tiêu cực nói trên đã làm mất đi rất nhiều sức mạnh và vị thế của Viện Cơ học nói riêng và ngành cơ học so với triển vọng và tiềm năng sức trẻ cách đây hơn ¼ thế kỷ.
Cùng với việc chảy máu chất xám ồ ạt lực lượng đã được đào tạo ở Đông Âu như đã nói, sự buông xuôi của số người còn lại, đã hai chục năm nay hầu như không có TS, KS, CN trẻ nào được đào tạo ở nước ngoài vào Viện Cơ học. Số đông biên chế của Viện được các chức sắc nhận vào chủ yếu do thân quen và quan hệ, thậm chí cũng không phải là sinh viên khá giỏi của các ĐH trong nước. Về mặt này Viện Cơ còn thua cả các ĐH vì họ có nguyên tắc là chỉ nhận giữ lại làm giảng viên từ số ít sinh viên giỏi (trong khi Viện lại phải đảm nhận vị trí đầu tàu nghiên cứu và đào tạo sau ĐH!). Một số người trong Viện được cử đi đào tạo TS ở nước ngoài bằng ngân sách Nhà nước (đề án 322) cũng là theo chế độ và do các chức sắc chọn chứ không phải là nhà khoa học trẻ có tiềm năng (những người trẻ giỏi ở Viện Cơ hiện cũng không có). Tình hình mới nhất là hầu hết số bạn trẻ được nhận vào Viện Cơ năm vừa qua, sau một thời gian làm việc đã bỏ đi do lương thấp và công việc chuyên môn không rõ ràng, không hấp dẫn, và không có triển vọng.

Về nhiệm vụ đào tạo
Việc lập ra khoa Cơ kỹ thuật đặt ở Đại học Công nghệ – ĐHQG HN do Viện Cơ học kiêm nhiệm giảng dạy đã không được suy nghĩ nghiêm túc, không xuất phát từ nhu cầu của thực tế, và các khó khăn cả đầu vào lẫn đầu ra hiện nay là đều có thể nhìn thấy trước. Nói là cơ kỹ thuật nhưng thực chất vẫn dạy các giáo trình cũ theo đường mòn của khoa Toán-Cơ (ĐH KHTN) kiểu Liên Xô vốn đã khó khăn từ trước, học viên không có được các kiến thức kỹ thuật chuyên môn cụ thể. Trong ĐHQG HN hầu như không có ngành nào khác cần dạy môn cơ học dù như một môn phụ, trong khi các trường kỹ thuật lại tự đào tạo được những người làm cơ của ngành mình vừa có kiến thức kỹ thuật chuyên môn của ngành, và chọn được những người tốt nghiệp giỏi của mình để dạy cơ. Các viện kỹ thuật chuyên ngành cũng chỉ tuyển người từ các trường theo ngạch dọc của mình chứ không chọn đa dạng như quốc tế. Thậm chí các học viên Cơ học cũng không cạnh tranh được với các học viên Toán và Lý để dạy các môn này ở trường phổ thông. Các học viên gọi là Cơ học kỹ thuật này cũng chẳng có ưu thế về tiềm năng nghiên cứu khoa học (mặc dù NCKH nghiêm túc vẫn còn chưa được thực sự đề cao ở ta), khi mà đầu vào thì kém, trong khi các giảng viên kiêm nhiệm được chọn phần nhiều là dân Toán cơ lớn tuổi thiếu kinh nghiệm giảng dạy và không có năng lực nghiên cứu công bố quốc tế – là các chức sắc và thân hữu (để được hưởng lương kép và chức danh). Tới nay sinh viên học kém thi lại nhiều, trong khi điểm tuyển vào là thấp nhất trong khối A ở ĐHQG HN, mà đều vào miễn cưỡng – hầu hết từ nguyện vọng 2. Đầu ra lại càng mờ mịt. Tại chi hội Cơ học vật rắn nhân Đại hội Cơ học toàn quốc 12/2007, một sinh viên Cơ học ĐHQG HN đã phát biểu thẳng thắn và xác đáng: “Các thầy đã lừa chúng em, nói cứ học đi …, nhưng đến khi ra trường thì không xin được việc làm và chỉ có thể xin đi trái ngành làm thợ tin học …

Một số giải pháp để hội nhập và phát triển
Trong sự yếu kém chung của khoa học nước nhà, có thể nói Viện Cơ học đang trong khủng hoảng. Đất nước đã hơn 20 năm đổi mới, nhưng một số chức sắc (vốn đã được đào tạo đầy đủ ở nước ngoài) vẫn né tránh chuẩn mực quốc tế, nói rằng phải từ từ (?), nhưng thực chất chẳng làm gì giúp hướng tới mục tiêu hội nhập, mà chỉ tìm mọi cách kéo dài cơ chế lạc hậu cũ để duy trì đặc quyền đặc lợi. Vì vậy muốn phát triển và hội nhập trước hết phải được tháo gỡ khỏi những trở ngại hiện hữu.
Việc tiên quyết là phải đề cao các chuẩn mực khách quan trong khoa học, đó là các bài báo khoa học được phản biện kín (đặc biệt là các bài báo công bố tạp chí quốc tế SCI, SCIE), bằng sáng chế, sản phẩm mới hữu dụng tự đứng được trên thị trường, chứ không phải bám vào chiêu bài “ứng dụng hình thức”, “chức danh hình thức”, hay “quan hệ”, như thời gian qua.
Chỉ dựa vào chuẩn mực khách quan khoa học chúng ta mới tạo được môi trường khoa học lành mạnh để các cá nhân phấn đấu vươn lên, đào tạo và hợp tác khoa học thực chất và có hiệu quả.
Các hội đồng chuyên môn phải được chọn là những người có thành tích chuẩn mực khách quan quốc tế tốt nhất trong 5-10 năm qua, bất kể thâm niên, chức danh, chức vụ.
Các chức sắc thâm niên đã qua tuổi hưu 60-65 mà không có kết quả nghiên cứu chuẩn mực quốc tế nào trong 5-10 năm qua (nhất là các cá nhân từ cơ quan nghiên cứu đầu tàu là Viện Cơ học) nên rút lui khỏi các Hội đồng chuyên môn, ban biên tập Tạp chí Cơ học, và các vị trí chủ chốt trong Hội Cơ học. Họ cũng không nên áp đặt đưa người thân tín thay thế mình bất chấp các chuẩn mực khách quan và lợi ích quốc gia – một ví dụ – như Hội đồng NCCB Cơ học năm 2008 mới được thành lập, gồm phần lớn là những người gần gũi của mấy cựu trào chứ không phải là những nhà cơ học tiêu biểu nhất về thành tích công bố quốc tế theo đề xuất của Bộ KH&CN.
Vấn đề sống còn đối với Viện Cơ học là phải vươn lên thực sự là đầu tàu nghiên cứu và đào tạo sau ĐH tới chuẩn mực quốc tế của ngành Cơ học. Tiếp nhận và xây dựng nguồn nhân lực có chất lượng là quan trọng nhất.
Viện tuy hiện có biên chế đông (100 người) nhưng thiếu trầm trọng cả các đầu tàu khoa học và lực lượng trẻ có năng lực. Viện cần có chính sách ưu tiên thu hút các TS giỏi (nhất là mới từ nước ngoài trở về) đã có các thành tích công nghệ và công bố quốc tế và đang có đà, sinh viên giỏi của các ĐH.
Trong khó khăn chung của khoa học VN không hấp dẫn giới trẻ giỏi, hiện mới chỉ nhận thấy một số ít các nhà cơ học trẻ có tiềm năng từ số sinh viên giỏi của các trường ĐH Bách khoa, Xây dựng, Giao thông Vận tải, và lớp cử nhân tài năng ĐH KHTN, đang làm TS và sau TS ở nước ngoài. Một số khá nhất đang có xu hướng xin làm việc ở nước ngoài, trong khi trong nước chúng ta chưa có chính sách gì thu hút họ. Ngành Cơ học và Viện Cơ học đang rất cần những mầm ươm đó sau khi đã để lãng phí thế hệ vàng đã được đào tạo ở Đông Âu những năm trước đây. Viện Cơ học cần đi trước một bước trong việc hướng tới nguồn trẻ này. Nguồn nội lực trẻ của Viện hiện rất yếu, nếu không nói là không có.
Cần phải có đảm bảo rằng các nhà nghiên cứu khoa học trẻ tài năng sẽ có được điều kiện làm việc, nhận đề tài, thăng tiến thuận lợi (không bị cản trở bởi các chức sắc thâm niên đặc quyền đặc lợi, hẹp hòi và đố kị); Các sinh viên trẻ giỏi phải có điều kiện thuận lợi thăng tiến nghề nghiệp, hướng tới các bằng cấp ThS, TS thông qua nghiên cứu khoa học thực sự ngay từ khi vào cơ quan, và có thu nhập thỏa đáng (chứ không phải chỉ làm đầu sai và lao công cho các chức sắc cai đầu dài – tuy có chút tiền nhưng không tiến bộ gì thực chất về chuyên môn, hoặc làm khoa học chay không có thu nhập ở mức tối thiểu). Có thực mới vực được đạo. Nếu làm giả ăn thật tiếp tục ngự trị, chức quyền lấn át chuyên môn, không ai có năng lực khoa học thật muốn vào hay ở lại Viện, và sự tàn lụi của Viện trên cái đà hiện nay là không tránh khỏi giống như nhiều xí nghiệp quốc doanh những năm qua.
Chỉ có biết đặt ra mục tiêu chung là chuẩn mực quốc tế khách quan, chúng ta mới động viên được sự hợp tác liên ngành thực thụ trong nghiên cứu và giải quyết những vấn đề cụ thể của công nghệ đáp ứng các yêu cầu nâng cao của hội nhập. Còn như hiện nay thì các cơ sở khác nhau việc ai người ấy làm theo kiểu riêng như trong lô cốt, và nếu có hợp tác chỉ là hình thức nhằm chia chác nguồn lợi bao cấp từ Nhà nước là chính.
Khi có được môi trường khoa học lành mạnh và tin cậy lẫn nhau, chúng ta sẽ có thể khuyến khích và yêu cầu – giống như quốc tế – để các CN, KS tốt nghiệp ở cơ sở này đăng ký học ThS, TS, và cả xin việc ở cơ sở khác. Điều đó giúp cho kiến thức các cá nhân liên quan được đa dạng và giúp thúc đẩy cộng tác khoa học giữa các cơ quan. Khi đó Viện Cơ học có thể phát huy vai trò là một địa điểm giúp đào tạo nâng cao các kiến thức chuyên sâu và tổng quát về Cơ học cho các nhà Cơ học kỹ thuật các lĩnh vực cụ thể.
Vì lợi ích chung của Cơ học nước nhà, chúng ta không nên e ngại chuẩn mực khách quan quốc tế: khó khăn là chung cho tất cả, chứ không phải là của riêng ai. Trên tinh thần ưu tiên các yếu tố tích cực dể những yếu tố đó được có điều kiện nhân rộng và phát triển, chúng ta phải phấn đấu nâng dần số lượng và chất lượng bài báo khoa học được phản biện nghiêm chỉnh, nhất là công bố quốc tế SCI, SCIE, số người có công bố quốc tế nội lực, số các cơ sở khoa học có công bố quốc tế, số bằng sáng chế và sản phẩm công nghệ mới hữu dụng thực thụ. Mong ước là trên cơ sở có được nhiều cá nhân và cơ sở khoa học làm việc nghiêm chỉnh trên mọi hướng và lĩnh vực, chúng ta sẽ có đủ nguồn nhân lực để dần xây dựng được các nhóm liên kết làm cả mô hình cơ học, tính toán số, thực nghiệm, và chế tác mẫu – như mô hình nhiều nhóm cơ học quốc tế hiện nay, vừa có sản phẩm hữu dụng vừa có công bố quốc tế từ chính các vấn đề ứng dụng của thực tiễn.

Hà Nội, ngày 26 tháng 10 năm 2008
Phạm Đức Chính, Viện Cơ học Hà Nội.
Originally posted 2 weeks ago. ( permalink )
Tuan Ngoc@ edited this topic 9 days ago.

view photostream

Tuan Ngoc@ says:

Đừng đi lộn đầu xuống đất

Bài viết dưới đây của Ts Nguyễn Văn Thuận bàn về những tiêu chuẩn giáo sư và tiến sĩ, rất thời sự đối với Việt Nam hiện nay. Tôi đồng ý với tất cả những gì Ts Thuận viết. Khoa học Việt Nam mình cần phải hội nhập quốc tế, chứ không thể đóng khung trong những chuẩn mực do chính mình tạo ra, và bất chấp chuẩn mực mà cộng đồng khoa học quốc tế công nhận.

Trong nhiều năm qua, tôi đúng là có nhiều góp ý (chủ yếu trên Tia Sáng) về quản lí và chuẩn mực đánh giá khoa học. Những góp ý như thế cũng làm vài người không thích, nhưng điều may mắn là tôi có nhiều người đồng tình. Tuy nhiên, có nhiều vấn đề tôi không nói ra, nhưng trong bài này Ts Thuận nói thẳng: đó là “Các nhà khoa bảng ở Việt Nam cần một lý lịch tốt: Lý lịch khoa học”. Chính xác. Nhìn qua lí lịch của nhiều [không phải tất cả] nhà khoa học Việt Nam tôi thấy còn “khiêm tốn” lắm. Người viết bài này có cơ duyên chỉnh sửa lí lịch khoa học cho nhiều đồng nghiệp trong nước, nên tôi có thể nói rằng đã thấy nhiều lí lịch mà nếu không sửa lại thì có thể dễ làm đồng nghiệp ngoại quốc ôm bụng cười. Nói ra trên báo chí thì rất khó, nên tôi nhân dịp này mách riêng cho các bạn cách trình bày sao cho “chuyên” hơn một chút. Tôi chỉ mách vài điểm chính và đặc biệt là những điều không nên làm.

Một lí lịch khoa học không bao giờ đề cập cha mẹ hay nội ngoại. Không như lí lịch đảng viên, lí lịch khoa học chỉ đề cập đến cá nhân, và chỉ cá nhân đó mà thôi. Cấu trúc thì thường là chi tiết cá nhân (tên, họ, địa chỉ liên lạc), học vấn, chức vụ và việc đã làm, chuyên ngành (professional interests), hội đoàn chuyên môn, giải thưởng chuyên môn, hoạt động cộng đồng, và sau cùng (phần quan trọng nhất) là danh sách công trình khoa học đã được công bố trên tập san quốc tế.

Có một vài điều không nên viết trong lí lịch như sau:

1. Không nên liệt kê những bài abstract trong các hội nghị khoa học trong lí lịch. Trong ngành y, những bài đó không phải là “bài báo khoa học”. Liệt kê như thế làm người ta đánh giá là ứng viên còn quá “non”. Tuy nhiên, trong ngành khoa học máy tính thì tôi nghe nói là bài báo trong những hội nghị lớn có giá trị như hay thậm chí cao hơn bài báo trên tập san, và nếu như thế thì nên liệt kê trong lí lịch.

2. Không nên liệt kê những bài báo trong các tập san địa phương mà không có peer-review. Những bài như thế không có giá trị gì cho lí lịch khoa học cả, mà còn làm cho người ta cười.

3. Không nên liệt kê bài báo theo kiểu “chỉ có ta”. Có nhiều lí lịch đồng nghiệp trong nước liệt kê bài báo theo công thức tác giả “Nguyễn Văn A và cộng sự”, nhưng không biết “cộng sự” ở đây cụ thể là ai. Đó là cách trình bày không thể chấp nhận trong khoa học.

4. Không nên liệt kê bằng cấp từ thời trung học hay tiểu học. Lí lịch khoa học không cần thiết mấy bằng cấp loại đó. Tùy theo trường hợp, tốt nhất là chỉ trình bày bằng cấp cao nhất. Nếu có bằng tiến sĩ thì chẳng cần phải trình làng mấy bằng cử nhân hay thạc sĩ làm gì (mà có thì cũng chẳng sao!) Cố nhiên, ở đây tôi chỉ nói đến trường hợp lí lịch cho tiến sĩ và giáo sư, chứ nếu là nghiên cứu sinh xin học bổng thì cần phải liệt kê nhiều bằng cấp càng tốt.

Đọc bài của Ts Thuận làm tôi nhớ đến câu chuyện cách đây gần 15 năm khi một ứng viên xin việc ở Viện Garvan. Hội đồng tuyển chọn phỏng vấn chị tiến sĩ này (từ Đại học Yale), và có một thành viên nhận xét: “Your CV seems thin, can you elaborate more …”(lí lịch của chị có vẻ mõng, chị có thể giải thích thêm …). Câu hỏi làm tôi hơi sốc. Nhưng sau này thì tôi mới biết chữ “thin” có nghĩa gì. Cái nghĩa đó chính là cái mà Ts Thuận đề cập đến trong câu “lí lịch tốt”. Phải hiểu “tốt” theo nghĩa “lí lịch nặng kí”. Nặng kí có nghĩa là có bề dày. Một tiến sĩ mà không có bài báo quốc tế nào trong lí lịch thì rất ư là khó coi (và điều này nói lên khả năng và đẳng cấp), hay một giáo sư mà lí lịch chỉ có 2,3 trang thì thật là khiêm tốn quá. (Nếu có dịp xem qua lí lịch một tiến sĩ hay giáo sư trung bình của Thái Lan thôi — chưa nói đến phương Tây hay Nhật — thì sẽ thấy lí lịch người ta có bề dày cỡ nào). Tuy nhiên, trong bối cảnh VN thì chắc cũng phải thông cảm thôi, bởi vì lo chuyện “cơm áo gạo tiền” cũng đã mệt thì nói gì đến chuyện nghiên cứu khoa học! Nhưng nói như thế cũng không đủ để biện minh cho sự yếu kém thể hiện qua lí lịch tiến sĩ với 0 bài báo khoa học.

NVT

PS. Phía cuối bài viết của Ts Thuận có ghi chú rằng những phân tích về khoa bảng và học hàm học vị của ông có thể còn thiếu sót và đề nghị bạn đọc tìm đọc những bài khác, trong đó có những bài của tôi. Thì đây, tôi liệt kê vài bài liên quan để bạn đọc tham khảo:

Tiến sĩ là gì?

Tiêu chuẩn cho học vị tiến sĩ

Bàn về “cái mới” trong luận án tiến sĩ

Về qui trình đề bạt và tiêu chuẩn GS ở Việt Nam: vài đề nghị

Bàn về tiêu chuẩn phong chức danh GS/PGS

Vài nhận xét về kết quả phong hàm giáo sư 2009

Vài kinh nghiệm về đề bạt chức danh khoa bảng

Khoa học Việt Nam qua công bố quốc tế 2005-2009

Chín lí do cho công bố quốc tế

Chỉ số H trong nghiên cứu khoa học

=====

khoahoc.baodatviet.vn/Home/KHCN/phanbien/Khoa-bang-o-Viet…

Khoa bảng ở Việt Nam: Đừng đi lộn đầu xuống đất

Các nhà khoa bảng ở Việt Nam cần một lý lịch tốt: Lý lịch khoa học…

Gần đây, đã có nhiều tranh cãi trong giới khoa học về vấn đề học hàm, học vị… Khoa học Đất Việt Online xin giới thiệu bài viết của GS Nguyễn Văn Thuận, chủ tịch Hiệp Hội Công Nghệ Sinh Học Sinh Sản Châu Á về những chuyện khác biệt trong vấn đề này ở Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam.

Tuyển chọn giáo sư trong đại học: Công bằng và công khai

Trong một khoa của một trường Đại học, nếu thiếu vị trí cho một môn học nào đó (thường là sau khi một GS đã nghĩ hưu, hoặc cần mở ra một chuyên ngành mới cho sự phát triển của khoa) thì khoa sẽ đăng một công báo thông báo rộng rãi để tuyển GS mới và cũng phải qua các giai đoạn như kể trên để trở thành một GS.

Tại Hàn Quốc, để xét tuyển một ứng viên vào ngạch GS (với chức danh khởi đầu là Assistant Professor), thông thường các ứng viên phải tốt nghiệp TS và phải có ít nhất 5 năm kinh nghiệm trong nghiên cứu sau TS, đồng thời phải có ít nhất 5 công trình nghiên cứu đã được công bố quốc tế (với chất lượng cao, SCI) với tên tác giả đầu tiên để nói nên năng lực tự nghiên cứu của ứng viên và khoảng trên 10 công trình nghiên cứu công bố quốc tế với đồng tác giả để nói lên năng lực hợp tác nghiên cứu của ứng viên. Những ứng viên đạt được những tiêu chuẩn trên thì sẽ được mời phỏng vấn trực tiếp tại khoa có sự hiện diện của sinh viên sau đại học, các NCS sau TS, các GS nghiên cứu và các GS giảng dạy và nghiên cứu tại khoa để đánh giá năng lực giảng dạy. Khi được mời các ứng viên đều được tài trợ chi phí đi lại và ăn ở trong thời gian khoảng 3 ngày (cho dù ứng viên ở bất cứ nước nào mà họ đến).

Sau buổi báo cáo, các thành viên trong hội đồng khoa (Academic members) sẽ họp và bỏ phiếu kín để chọn một ứng viên. Quá trình này cũng thường xảy ra bàn cải nảy lửa giữa các GS để chọn người tốt nhất.

Như vậy chúng ta thấy để được đứng vào hàng ngũ GS thì chỉ có những TS thật giỏi đã trãi qua thực tế nghiên cứu sau tiến sĩ tại những viện nghiên cứu và trường đại học khác nhau trên thế giới, và có tố chất truyền đạt của một giảng viên thì mới có thể đứng vào hàng ngũ GS.

Giáo sư được xã hội trọng thị

Ở Hàn Quốc, trong môi trường Đại học thì hai tiếng GS (Kyosunim) rất được trân trọng. Trong khi đó, ở Nhật Bản, sinh viên gọi GS, hoặc đồng nghiệp gọi nhau bằng từ Sensei (Tiên Sinh).

Ở Hàn Quốc, khi gặp GS trong trường học thì dù GS có chào hỏi hay không, sinh viên cũng phải nhìn về GS và cúi đầu chào rất trân trọng. Ngay cả khi đang hút thuốc lá củng phải dấu đi để chào GS, và khi được GS mời uống rượu trong tiệc tùng hoặc liên hoan thì phải cầm ly bằng hai tay và khi uống phải xoay mặt đi, không được nhìn đối diện mặt thầy. Quan hệ đối xử này giữa thầy và trò duy trì cho đến ngày nay…

Có sự khác biệt ở Hàn Quốc và Nhật Bản là NCS sau Đại học tại Hàn Quốc được GS tài trợ kinh phí học tập và sinh hoạt). Còn ở Nhật Bản, những năm gần đây hầu hết các NCSTS phải đóng học phí để học và do ảnh hưởng phương Tây nhiều nên khoảng cách giữa GS và học viên không lớn lắm như ở Hàn Quốc.

Trong xã hội, sự kính trọng của mọi người đối với GS như thế nào? Tôi kể câu chuyện của tôi để các bạn dễ hiểu hơn. Lần đầu tôi đến Hàn Quốc vào tháng 2 năm 2007 để phỏng vấn vị trí của tôi hiện nay, lúc đó visa tôi được cấp là C-2 (thăm viếng ngắn ngày). Đến phi trường Incheon, họ hỏi tôi là người Việt Nam sao lại đến từ Nhật Bản? Ai bảo lãnh và sống ở đâu, mấy ngày thì về… Xem ra, tôi thấy mình không được coi trọng lắm! Thế nhưng cũng với cuốn hộ chiếu đó (hộ chiếu Việt Nam), khi tôi ra vào Hàn Quốc với Visa dành cho GS (E1) thì các nhân viên làm thủ tục xuất nhập cảnh rất nhỏ nhẹ, họ lại còn lễ phép trả lại hộ chiếu cho tôi bằng cả hai tay (ở Hàn Quốc, chỉ có những GS chuyên ngành mới được cấp visa E1, còn với những GS dạy ngoại ngữ và lịch sử thì được cấp visa E2, và người nghiên cứu là E3).

Đừng đi lộn đầu xuống đất

Gần đây, ở Việt Nam hay nói nhiều đến trường đại học đẳng cấp quốc tế là gì… Với hệ thống khoa bảng như tôi đã phân tích ở trên thì cái gốc và cái quan trọng nhất để quyết định cho sự thành công của một trường đại học đẳng cấp quốc tế là phải có những người Thầy (GS) ở đẳng cấp quốc tế. Trình độ của đội ngũ GS trong một trường đại học là linh hồn của Đại học ấy. Xây dựng một trường Đại học cho dù rộng hàng nghìn hecta, hàng trăm tòa nhà với những giảng đường rộng lớn và phòng thí nghiệm hiện đại nhưng không có đội ngũ GS đẳng cấp quốc tế được chuẩn bị trước đó thì cũng giống như một cái xác không hồn.

Như chúng ta đã biết sự thành công của thế hệ sau, sự hưng thịnh của đất nước điều phụ thuộc vào hệ thống giáo dục. Chính vì vậy, từ “nghiên cứu và phát triển” (Research & Development, R&D) là khẩu hiệu hàng đầu trong các nước hiện nay. Đặc biệt trong giai đoạn kinh tế tri thức nóng bỏng hiện nay thì vai trò giáo dục càng có vị trí hàng đầu cho một quốc gia phát triển.

Cũng xuất phát từ câu “không thầy đố mầy làm nên”, tôi xin mạn bàn về vấn đề tuyển chọn người Thầy tại Việt Nam hiện nay… Tôi nghĩ tất cả các TS của Việt Nam hiện nay không ai phản đối ý kiến tôi cho rằng: tất cả các TS sau khi tốt nghiệp điều mong muốn được tiếp tục nghiên cứu sau TS một vài năm để khẳng định khả năng nghiên cứu của họ (Ở đây tôi chỉ hàm ý những TS là nhà nghiên cứu thực sự). Tuy nhiên, một phần không nhỏ TS của chúng ta khi học NCS TS tại nước ngoài không đạt những tiêu chuẩn quốc tế như đã nêu trên cho nên phải từ bỏ giấc mơ sau TS (nếu ở nước ngoài thì giấc mơ đứng trên bục giảng của họ coi như chấm hết). Những người này đã về sớm hơn và đã lấp vào những vị trí trống và có quyền hành, và thực tâm họ không muốn có thêm một người trong bộ môn hoặc trong khoa với một lý lịch khoa học sang chói hơn họ. Nếu như không có một người đứng đầu công minh để phân công công việc thì chuyện ra đi của những TS đúng thực chất rất dễ xẩy ra. Và tình trạng này rất phổ biến tại các trường đại học Việt Nam hiện nay.

Thử hỏi, một TS với 0 (không) công trình nghiên cứu được công bố quốc tế thì làm thế nào để đào tạo ra được một TS có một công bố nghiên cứu quốc tế như đòi hỏi hiện nay của Bộ Giáo Dục-Đào tạo. Tôi tin rằng, cuối cùng chính những người này cũng phải ra đi để trả lại môi trường nghiên cứu cho những TS có lý lịch khoa học tốt. Tôi cũng được biết quy trình xét PGS và GS của Việt Nam chúng ta thì lại đi ngược hoàn toàn những gì thế giới đang làm. Chúng ta có tên gọi khác với thế giới là phẩm hàm chức danh PGS và GS chứ không phải học hàm như các nước. Chúng ta tạo ra chức danh PGS và GS trước, bất chấp là có liên hệ với cơ sở giáo dục hay không.

Đến nay để chữa cháy cho vấn đề này, Bộ Giáo Dục lại kêu gọi các trường Đại học nêu yêu cầu thiếu vị trí nào về chức danh thì để xuất để nhà nước bổ nhiệm về. Quy trình này đúng là chân thì đi trên trời đầu lộn xuống đất. Và hiển nhiên hậu quả là nhiều người hoàn toàn không dính dáng đến giáo dục và đào tạo cũng như chuyên ngành nghiên cứu cần phát triển tại các trường đại học lại mang chức danh GS… Từ đó, phát sinh hiện tượng có những người mang danh hiệu nhà giáo nhân dân, nhưng không đi dạy học, hoặc những PGS và GS lại hoàn toàn không liên quan đến đào tạo và nghiên cứu như báo chí đã từng phản ảnh.

***

Bài viết vẫn còn nhiều thiếu sót trong phân tích về khoa bảng và học hàm học vị trong trường Đại học, do nhiều nước có những hệ thống khác biệt nhau… Nếu có thời gian, mong bạn đọc tham khảo thêm trên nhiều trang mạng về vấn đề này, hoặc các bài viết của GS Nguyễn Văn Tuấn tại Úc cũng đã có bàn đến và được đăng tải trên một số báo trong nước cũng như trên blog của ông.

TS. Nguyễn Văn Thuận, Chủ tịch Hiệp hội Công Nghệ Sinh Học Sinh Sản Châu Á

nguyenvantuan.net/science/4-science/1020-dung-di-lon-dau-…
Posted 2 weeks ago. ( permalink )

view photostream

Tuan Ngoc@ says:

Chuyện động trời: Trường “dỏm” Irvine University hợp tác với Đại học Quốc gia Hà Nội!

GS Nguyễn Văn Tuấn: “Khoa học và học thuật cũng chẳng khác gì một câu lạc bộ mà trong đó các thành viên đều biết hay nghe tiếng nhau. Người trong chuyên ngành chỉ cần nghe qua tên là biết người đó là ai và làm trong lĩnh vực nào. Chỉ cần nhìn qua bản lí lịch khoa học của một giáo sư hay tiến sĩ là biết ngay người đó thuộc đẳng cấp nào. Ấy thế mà các giáo sư của một đại học hàng đầu tại Việt Nam mà không nhận ra đâu là dỏm và đâu là thật, và để cho Irvine University gây hoen ố tên trường như thế. Không thể chấp nhận được một đại học mang tiếng là “quốc gia” mà liên kết đào tạo với một cơ sở kinh doanh bằng cấp dỏm.”

Nguồn: nguyenvantuan.net/education/3-edu/1031-chuyen-dong-troi-i…

Góp ý GS Tuấn: GS, PGS dỏm và trường dỏm không nhìn nhau, không hợp tác với nhau để “làm ăn” mới lạ. GS Tuấn không dỏm nên kêu trời là phải rồi!

Qua đây mới thấy chuyện quản lí bằng cấp của Bộ GD – ĐT thật buồn cười “nói thì như cột đình mà làm thì nhỏ thua sợi chỉ”. Chắc cũng chỉ rút kinh nghiệm lần này để rồi lần sau ta làm tiếp vậy!

Nghe đâu Bộ muốn chia tay ra các nước để quản lí du học sinh, nhưng mua bán bằng cấp xảy ra ngay trước mắt mà Bộ lại lờ đi. Hay là……?
======================================================

Phát biểu tại lễ bế giảng GS. TSKH Vũ Minh Giang chia sẻ: “Đại học Quốc gia Hà Nội là một Đại học đặc biệt tại Việt Nam…. Tôi muốn gửi tới anh chị một kỳ vọng là làm sao đó xứng đáng với tấm bằng, làm sao phát huy được tốt nhất những điều mà đã đúc kết được sau khóa học.”

Góp ý “GS. TSKH” Vũ Minh Giang: ĐHQGHN rất đặc biệt. Hoàn toàn chính xác: GĐ là GS dỏm
www.flickr.com/photos/47624590@N04/4665832149/in/set-7215…

và liên kết với trường dỏm để đào tào thạc sĩ dỏm. Quá đặc biệt! Và người như ông Giang lại kỳ vọng vào những thạc sĩ dỏm. Đúng là cực kỳ đặc biệt!

Đặc biệt đến mức dị biệt!
Originally posted 9 days ago. ( permalink )
Tuan Ngoc@ edited this topic 9 days ago.

view photostream

Tuan Ngoc@ says:

GS Nguyễn Văn Tuấn: Thứ nhất là câu hỏi IU có phải là một “diploma mill” (hãng sản xuất bằng dỏm)? Theo Tiến sĩ Mark A. Ashwill, một chuyên gia giáo dục người Mĩ đang làm việc tại Hà Nội, đã liệt kê một danh sách các hãng sản xuất bằng dỏm. Có thể xem bài phỏng vấn Ts Ashwill trên Tuổi Trẻ. Irvine University đáp ứng nhiều tiêu chuẩn của một diploma mill:

(a) Địa chỉ của Irvine University chỉ là một suite (tức một văn phòng nhỏ, có thể chỉ vài chục mét vuông). Một trường đại học chỉ là văn phòng nhỏ, mà không có campus!

(b) Irvine University không có bất cứ một giáo sư nào có công bố quốc tế, cũng chẳng có một danh sách các lecturers, assistant professor, associate professor, và professor.

(c) Irvine University chủ yếu hoạt động trực tuyến.

(d) Irvine University lấy tên giông giống với đại học danh tiếng là University of California – Irvine.

Thứ hai, thông cáo báo chí của ĐHQGHN hiểu sai sự việc hoặc cung cấp thông tin sai. Cơ quan gọi là California Bureau for Private Postsecondary Education (BPPE) là một cơ quan của Bộ Tiêu thụ Sự vụ (California Department of Consumer Affairs), không phải trực thuộc Bộ Giáo dục, nên không phải là cơ quan có thẩm quyền giám định giáo dục hay công nhận bằng cấp (accreditation). Trong trang nhà của BPPE có viết rõ ràng rằng: “If the bureau has granted an institution approval to operate, the institution may indicate that the institution is “licensed” or “licensed to operate,” but may not state or imply either of the following:
(1) The institution or its educational programs are endorsed or recommended by the state or by the bureau.
(2) The approval to operate indicates that the institution exceeds minimum state standards as set forth in this chapter.”

Tức là sự phê chuẩn của BPPE chỉ có nghĩa là doanh nghiệp được phép hoạt động, chứ không có nghĩa là chương trình giáo dục được công nhận.

Thứ ba, thông cáo báo chí của ĐHQGHN không phân biệt giữa giám định giáo dục (accreditation) và tư cách pháp nhân. Thông cáo có đoạn viết “Như vậy, trường Đại học Irvine hoàn toàn có tư cách pháp nhân với tiểu bang California để hoạt động như một trường đại học tư.” Một doanh nghiệp buôn bán bằng cấp hay phẩm hàm (như Who is Who) hoàn toàn có tư cách pháp nhân vì được phê chuẩn (và đóng thuế), nhưng những phẩm hàm của họ được ai công nhận hay không là vấn đề accreditation. BPPE viết rất rõ rằng một doanh nghiệp được phê chuẩn hoạt động không có nghĩa là bằng cấp từ doanh nghiệp đó được công nhận (“Approval is not the same as accreditation”).

Việc một nhân viên sứ quán Mĩ hiện diện trong buổi lễ tốt nghiệp tuy thú vị nhưng chẳng có ý nghĩa gì. Rất có thể vị quan chức này chỉ có mặt đơn giản nhằm ủng hộ doanh nghiệp của Mĩ ở Việt Nam. Cũng có thể vị quan chức này không biết rằng Irvine University chưa bao giờ được cơ quan giáo dục Mĩ công nhận là một đại học. Do đó, tôi nghĩ lấy sự hiện diện của quan chức đại sứ Mĩ là một viện dẫn quá yếu (nếu không muốn nói là … ngụy biện — ngụy biện dựa vào thẩm quyền!)

Nói tóm lại, Irvine University “hội đủ” nhiều tiêu chuẩn của một diploma mill. Nhưng điều đáng tiếc là một đại học mang tiếng quốc gia lại không phân biệt được trường dỏm và trường thật, và không phân biệt được approval và accreditation.

nguyenvantuan.net/education/3-edu/1041-truong-dom-truong-…

www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&News=3357&a…

Trả lời GS Tuấn:

Thưa GS! Trình độ em là GS, PGS dỏm thì làm sao em có thể phân biệt được trường dỏm, trường giả? GS đòi hỏi cao quá!

Dỏm, giả gì thì có chết ai đâu, có khi thu được nhiều tiền từ đào tạo dỏm là đằng khác! Khoa học Việt Nam be bét thì kệ. Chúng em (GS, PGS dỏm) tiền vô như nước và thăng tiến liên tục là ô kê rồi.
Originally posted 3 days ago. ( permalink )
Tạp Chí GS Dỏm Việt Nam – JIPV edited this topic 3 days ago.

view photostream

inhainha says:

Đây là bản dịch của một bài của TS Phạm Duy Hiển công bố trên tạp chí Higher Education Vol. 60, No 4, 2010

“So sánh năng lực nghiên cứu khoa học của 11 nước Đông Á dựa trên các công bố quốc tế và bài học rút ra cho Việt Nam”
www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=110&CategoryID=…

Bài báo này có thể là bài học rất tốt cho các vị chuyên ngành giáo dục học để biết viết một bài báo trong lĩnh vực giáo dục là như thế nào.
Originally posted 3 days ago. ( permalink )
inhainha edited this topic 3 days ago.

view photostream

Tuan Ngoc@ says:

Bài của bác inhainha chắc rất có ích cho những DỎM bên giáo dục. Nghề nghiệp của họ chủ yếu là ngụy biện: lúc nào học cũng phán “không thể công bố quốc tế”. Nhưng thực tế thì lại khác.
Posted 15 hours ago. ( permalink )

view photostream

Tuan Ngoc@ says:

GS Nguyễn Văn Tuấn dành cho JIPV một bài viết rất hay:

Journal of Incompetent Professors in Vietnam

Hôm nay lang thang sang talawas xem các bác bên ấy có bình luận gì về ý kiến của của tôi và anh Vọng (liên quan đến câu hỏi “Vì sao ít trí thức Việt kiều về nước làm việc?”), nhưng thấy các bác ấy giới thiệu trang web “Giáo sư dỏm” (JIPV). Ngạc nhiên! Hóa ra các bác talawas cũng thích chuyện khoa bảng đó chứ …

Điều thú vị là chẳng ai biết nhóm chủ trương JIPV là ai. Nhưng qua cách nhận xét, thảo luận về tiêu chuẩn giáo sư và tiến sĩ thì rõ ràng họ là những nghiên cứu sinh từ Việt Nam đang theo học tại các đại học bên Âu châu và Mĩ. Họ tỏ ra là những người “biết chuyện”, hiểu theo nghĩa có tiếp cận với khoa học phương Tây, và biết khá rành về chuẩn mực khoa học quốc tế. Cũng có thể đoán phần lớn các bạn trong ban biên tập là những người nghiên cứu trong ngành toán, vật lí và khoa học tự nhiên. Có lần họ gửi email mời tôi tham gia, nhưng tôi từ chối vì còn bận chuyện cơm áo gạo tiền. Tuy nhiên, họ trích dẫn nhiều ý kiến và bài viết của tôi trên các báo chí trong nước (và tôi phải cẩn thận trong những dòng sau đây vì biết họ theo dõi kĩ :-)).

Trang web này ra đời cũng khoảng 5 tháng và đã qua một lần thay tên đổi họ. Thoạt đầu họ lấy tên là “GS và PGS dỏm Việt Nam”, nghe rất … ngộ nghĩnh, mà có vẻ rất trẻ trung. Nhưng sau vài tháng làm việc, nhóm chủ trương tỏ vẻ chuyên nghiệp hơn, có bài bản hơn, và thành công hơn, nên họ nên đổi tên thành JIPV (Journal of Incompetent Professors in Vietnam). Tôi nghĩ họ lấy tên vậy cũng đúng. May phước là họ chưa lấy tên “Journal of Incompetent Professors of Vietnam” :-). Chỉ thay chữ in thành of thì phiền phức lắm. Nói như thế để thấy các bạn lập ra trang web này cũng có cân nhắc cách đặt tên tập san. Đọc cái tên Journal of Incompetent Professors in Vietnam làm tôi mỉm cười nhớ đến một tập san khoa học hẳn hoi tên là Journal of Negative Results in Biomedicine! Tập san này (JNRBM) chuyên công bố những bài báo khoa học mà kết quả “tiêu cực”, tức không phù hợp với giả thuyết của mô thức khoa học hiện hành, miễn là những công trình này phải thực hiện đúng phương pháp và nghiêm chỉnh.

Cũng giống như JNRBM, JIPV chỉ xét phong giáo sư và phó giáo sư dỏm, chứ không xét phong giáo sư và phó giáo sư thật. Họ đặt ra những tiêu chuẩn khoa bảng thật thấp, và nếu ứng viên không đáp ứng tiêu chuẩn đó, thì được tiến phong chức danh “giáo sư dỏm”. Dựa vào những tiêu chuẩn đó, họ đã tiến phong cho vài chục giáo sư ở Việt Nam. Phần lớn những giáo sư được phong đều là những người nổi tiếng, những chức sắc trong chính phủ và cơ quan công quyền. Chính vì cách làm khách quan và không nhân nhượng này, nên JIPV đã nhanh chóng trở nên nổi tiếng. JIPV lập tức trở thành đề tài bàn tán trên bàn cà phê của giới phóng viên báo chí, đề tài tranh cãi trong các diễn đàn internet. Người ủng hộ cũng nhiều, người phản đối cũng không ít, nhưng ban biên tập JIPV giữ vững lập trường của mình.

Thật vậy, JIPV mới có hiện diện vài tháng mà đã gây tác động. Có một anh bạn phóng viên ở trong nước cho biết khi mới xuất hiện, JIPV gây chấn động ngầm ở trong nước, vì tính không nhân nhượng của JIPV. Bất cứ nhân vật nổi tiếng cỡ nào JIPV cũng không “tha”. Chẳng hiểu có phải vì chiến lược gây chú ý hay không mà JIPV nhắm vào những vị quan chức cao cấp trong loạt tiến phong đầu tiên, nhưng rõ ràng động thái này gây chú ý. Nhớ lúc đầu có một anh bạn trong nước gửi email hỏi tôi giáo sư tên tuổi mà JIPV “tiến phong” như vậy có đúng như JIPV nói không, vì anh thấy hoang mang. Tôi nghĩ câu hỏi hơi … thừa, bởi vì JIPV họ làm việc minh bạch, ai cũng có thể kiểm tra dễ dàng. Những bài báo họ nêu hay những con số bài báo khoa học của “ứng viên” ai cũng có thể kiểm chứng. Dữ liệu là thế, nhưng cách diễn giải sao thì còn tùy thuộc vào từng người, tùy thuộc vào hiểu biết của từng người.

Nhưng sự có mặt của JIPV cũng gây ra nhiều tranh cãi. Thật ra, bên cạnh những người ủng hộ, cũng có không ít người chỉ trích JIPV một cách nặng nề. Người ủng hộ thường thầm lặng, ít lên tiếng, một phần do không muốn đụng chạm đến đồng nghiệp, một phần khác do cái tên “Giáo sư dỏm” nghe kì kì cho những người giáo sư thật ủng hộ. Người chỉ trích thì có đủ thứ lí do, kể cả tố cáo JIPV làm theo chuẩn phương Tây mà không xem xét đến bối cảnh Việt Nam, nói xấu thầy cô, thậm chí “phản động”. Nhưng tôi nghĩ số người ủng hộ JIPV chắc chắn nhiều hơn số người phản đối. Cứ nhìn qua danh sách ứng viên được tiến cử thì đủ biết JIPV có nhiều người hâm mộ như thế nào.

Tôi nghĩ về lâu về dài, JIPV sẽ đóng góp tích cực (nhưng có lẽ gián tiếp) vào việc cải cách giáo dục và khoa học ở Việt Nam, dù cách làm mang ý nghĩa nghiêm chỉnh của họ qua hình thức có phần … hài hước.

NVT

===

nguyenvantuan.net/education/3-edu/1044-journal-of-incompe…
======================================================

GS Tuấn có phê bình JIPV có điểm hài hước. Do đó, tôi đề nghị Editors-in-Chief, Managing Editors và Editors phải cận thận hơn trong việc phát biểu. Chúng ta phải xây dựng JIPV ngày càng chuyên nghiệp hơn. Mọi ý kiến trên JIPV phải khoa học, tránh những biểu hiện cảm xúc hài hước, buồn cười, đùa giởn, …

Thật ra trước đây tôi cũng đã phạm phải những lỗi đó, và đã bị ME đưa vào Phòng trưng bài “phản khoa học”. Tôi cũng bực ME, nhưng nằm nghĩ lại thì tôi thấy tôi phải cảm ơn ME.

GS Tuấn cũng lưu ý rằng trang web của ông đã trong “tầm ngấm” của JIPV 🙂 Nhưng ông yên tâm vì tôi chỉ theo dõi và trích dẫn những bài ông viết phù hợp với chức vụ của tui: “Trưởng phòng GDTX”. Tui không bao giờ có ý “đánh sập” trang web của ông :-).

Originally posted 15 hours ago. ( permalink )
Tuan Ngoc@ edited this topic 15 hours ago.

view photostream

inhainha says:

Bài của bác Tuấn bác phải post ở phòng giao lưu độc giả chứ sao post ở phòng GDTX thế này 🙂
Posted 14 hours ago. ( permalink )

view photostream

Tuan Ngoc@ says:

GS Tuấn viết bài: Vài nét về công trình khoa học Gs Tôn Thất Tùng

nguyenvantuan.net/health/2-health/1039-vai-net-ve-cong-tr…

Nói chung, trong hoàn cảnh Việt Nam thì Việt Nam có người như Gs Tôn Thất Tùng thì rất đáng trân trọng. Tuy nhiên, bài viết của Hàm Châu hơi lố bịch vì cá nhân ông chả hiểu nghiên cứu khoa học, bài báo ISI là gì. Ông chỉ có tài là “thường chát” với các “GS, PGS, TS”, do đó cái “tài” của ông là tài học lóm, tài nghe ngóng. Hậu quả là ông viết về ai thì toàn ca người đó nhưng thiên tài, nhưng khi kiểm tra lại thì không ít trường hợp dỏm. Xem ra, ai muốn nỗi tiếng theo kiểu rởm thì cứ gặp nhà báo Hàm Châu: ông chỉ cần dùng ngòi bút của ông là người đó trở thành thiên tài ngay.

Ngày nay, kiểu nỗi tiếng bằng những bài viết của nhà báo Hàm Châu xem ra không còn hiệu nghiệm, có khi trở thành lố lăng và bịp bượm. Thế giới phẳng đòi hỏi: giỏi thì bài ISI đâu, patents đâu, tạp chí nào, bao nhiêu non-self citations,….
Originally posted 14 hours ago. ( permalink )
Tuan Ngoc@ edited this topic 14 hours ago.

view photostream

Tuan Ngoc@ says:

@inhainha: Tôi không post vào đó được, phòng đó bị đóng cửa rồi, tôi không có chìa khóa!
Posted 14 hours ago. ( permalink )

view photostream

TCHGGD2010 says:

Từ GS dỏm đến cả ĐHGQHN gian dối và ngụy biện?

nguyenvantuan.net/education/3-edu/1045-doi-tac-lien-ket-d…
Posted 13 hours ago. ( permalink )

35 phản hồi to “Phòng giáo dục thường xuyên”

  1. Tuan Ngoc@ said

    Gian, dỏm – chẳng phải chuyện nhỏ!
    Hoàng Tụy

    Trong một nước mà bằng cấp, chức tước đều có thể mua bán và nạn đạo văn, đạo nhạc, v.v. lan tràn hầu như ở đâu cũng có thì bộ máy hành chính quan liêu tham nhũng chẳng có gì lạ.

    Gần đây rộ lên chuyện một số cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh mua bằng tiến sĩ, thạc sĩ từ các đại học dỏm ở nước ngoài. Thật ra đây không phải là chuyện mới, mà đã xảy ra ít nhất từ mươi lăm năm nay, và không phải chỉ có mua bằng thạc sĩ, tiến sĩ mà cả những chức danh cao hơn như: viện sĩ, giáo sư danh dự, chuyên gia lỗi lạc, danh nhân thế giới, v.v… Chỉ có khi lộ liễu quá và vì sự ngẫu nhiên nào đó (rủi cho đương sự) thì sự việc mới bị xới tung lên, còn thường thì chuyện mua bán này vẫn xuôi chèo mát mái.

    Ở xứ ta, bằng cấp chưa cần biết thật hay dỏm từ lâu vốn đã được ưa chuộng quá mức, bằng cấp càng cao càng danh giá và có thể là bàn đạp để thăng tiến nhanh trên quan trường. Từ thời cụ Nguyễn Khuyến đã có tiến sĩ giấy, từ thời Vũ Trọng Phụng đã có những Xuân Tóc Đỏ, huống bây giờ toàn cầu hóa, hội nhập, kinh tế tri thức.

    Đáng lo hơn là sự sản xuất hàng loạt thạc sĩ, tiến sĩ kém, dỏm, do các đại học lớn của ta liên kết đào tạo với những đại học nước ngoài chất lượng không bảo đảm, kiểu như Đại học Irvine, Đại học Southern Pacific và các đại học trong danh sách đã được công khai gần đây, có khi còn tệ hơn nữa. Có thể lãnh đạo các đại học của ta bị choáng ngợp bởi những quảng cáo lừa mị, nhưng cũng có thể vì những động cơ khác, không loại trừ chạy theo lợi nhuận bất chấp chất lượng.

    Mấy ngày qua công luận đã có những ý kiến phê phán rất xác đáng. Tuy nhiên đây chỉ mới là phần nổi của tảng băng. Cần phải đi sâu hơn, phân tích kỹ hơn để nhận dạng đầy đủ căn nguyên cái tệ nạn đáng hổ thẹn này nó là con vi rút ẩn mình đang gây ra những căn bệnh hiểm nghèo tàn phá dữ dội cơ thể xã hội ta nếu không lo chữa chạy.

    Nói cho đúng, cái bằng tiến sĩ của ông Phó Bí thư Yên Bái hay ông Giám đốc Sở Thông tin Du lịch Phú Thọ cũng là bằng thật, đâu phải bằng giả, được cấp bởi một đại học hoạt động công khai, đúng pháp luật của nước sở tại. Điều kiện trả tiền để được cấp bằng thì họ cũng chẳng giấu giếm, không thể bảo họ lừa đảo. Mà ngẫm cho kỹ, các bằng ấy có gì khác các bằng tiến sĩ thật, do một số đại học kém chất lượng của ta cấp những năm qua. Ai dám chắc trình độ các tiến sĩ giấy khá hơn các tiến sĩ “dỏm”? Đi xa hơn, hàng loạt giáo sư, phó giáo sư trong số đã được Nhà nước long trọng công nhận trước sự chứng giám của các bậc hiền tài Quốc Tử Giám đã chắc gì không phải là giáo sư “giấy”, giáo sư “dỏm”, ngay cả theo tiêu chí quốc tế thấp nhất. Ngoài ra còn mấy tá viện sĩ mua được hay chạy được từ các nước ngoài nữa. Dĩ nhiên ở đây tôi không gộp những viện sĩ thứ thiệt do các viện hàn lâm nghiêm chỉnh bầu chọn, nhưng số này rất ít, và họ thường ít xưng danh vì thừa hiểu “hữu xạ tự nhiên hương”.

    Kể ra thì ngay cả các chức danh viện sĩ mua được hay chạy được cũng đều là “thật” cả vì đều có giấy chứng nhận hẳn hoi là thành viên (member) của những tổ chức mang tên viện hàn lâm, viện tiểu sử danh nhân, hoạt động đàng hoàng ở Mỹ, Anh, Nga,… Các viện này rao bán các chức danh chẳng khác gì các đại học bán bằng cấp với giá rẻ, có khi chỉ cần vài ba trăm USD cũng đã có chức danh “thành viên” (member) của viện hàn lâm này nọ (mà thành viên viện hàn lâm thì lập tức được dịch ra là viện sĩ), hay “danh nhân thế giới” (có tên trong tập sách Who’s Who của họ), “chuyên gia quốc tế hàng đầu”, “bộ óc vĩ đại”, v.v. Cũng có khi chẳng phải trả đồng nào gặp lúc họ khuyến mãi. Một số các viện đó (kiểu như Viện Hàn lâm New York của Mỹ, hay Viện Hàn lâm Khoa học Tự nhiên của Nga) thật ra là những hiệp hội khoa học, kết nạp hội viên rất rộng rãi (có khi đến hàng mấy vạn hội viên), chỉ cần đóng một khoản tiền hay nộp niên liễm một lần là được cấp giấy chứng nhận hội viên (dịch ra tiếng Việt thành viện sĩ – thành viên của một viện hàn lâm). Ở các nước phát triển, chẳng mấy ai coi trọng các chức danh dỏm đó. Của đáng tội, thỉnh thoảng cũng có vài bạn Việt kiều về nước mang những thứ đó ra khoe, gây thêm nhiễu vào một môi trường đã rối ren.

    Trước đây mấy năm, trong một hội nghị bàn về giáo dục, tôi đã có lần thưa thật với Thủ Tướng lúc đó: nhà nước ta chưa bao giờ nghiêm với các vụ chạy chức, chạy quyền, bằng giả, học giả bằng thật. Từ đó đến nay tình hình vẫn vậy, có phần sa sút hơn vì chưa bao giờ bệnh thành tích phát triển mạnh như vài năm qua.
    Vậy xét cho cùng việc mua bằng tiến sĩ của hai ông Ngọc và Ân (Phó Bí thư tỉnh và Giám đốc Sở) cũng không sai trái gì ghê gớm hơn việc tương tự của nhiều vị viện sĩ, danh nhân thế giới, bộ óc vĩ đại, v.v. Cái sai đáng chê trách nhất là từ phía cơ quan đã khuyến khích họ mua bằng tiến sĩ hay thạc sĩ để thăng chức. Còn nếu ai đó xưng danh rõ ràng tiến sĩ Đại học Irvine, tiến sĩ Đại học Southern Pacific, hay viện sĩ Viện Hàn lâm New York, thì đó cũng là quyền tự do của mỗi người. Cái sai lớn nhất ở chỗ chỉ lập lờ “tiến sĩ, viện sĩ,” không cho ai biết là tiến sĩ viện sĩ để diện chơi hay tiến sĩ, viện sĩ danh giá thứ thiệt. Càng sai hơn nữa nếu người phụ trách công tác xét chức danh giáo sư, phó giáo sư mà lại đi tự phong một chức danh Nhà nước chưa đặt ra. Muốn chính danh, muốn hợp pháp, xin hãy ghi rõ viện sĩ viện hàn lâm nào. Dù cho là viện hàn lâm thứ thiệt thì vẫn có khoảng cách lớn giữa Viện hàn lâm Khoa học Pháp, hay Viện Hàn lâm Quốc gia Hoa Kỳ với viện hàn lâm một nước chậm phát triển. Ở các xứ văn minh người ta đều làm như vậy. Phải chăng vì chỉ số IQ ta quá cao nên mới có bấy nhiêu chuyện rắc rối cần bàn.

    Cách đây mấy năm đã từng có chuyện một người trước học ở Liên Xô cũ, chẳng có thành tích gì đặc biệt, nhưng nhờ tiền làm ra được vào thời buổi nhá nhem khi Liên Xô sụp đổ nên kiếm được chân thành viên của một số tổ chức mệnh danh học thuật nào đó, thế là được giới thiệu về nước với chức danh viện sĩ 5 viện hàn lâm ở châu Âu, rồi được đề cử vào Ủy Ban TƯ Mặt trận Tổ Quốc, và giữ những chức vụ quan trọng ở một đại học lớn (về sau cái ông 5 lần viện sĩ ấy được công nhận PGS, thành ra cái chức danh lố bịch PGS viện sĩ !).

    Có phải các cơ quan Nhà nước vì thiếu hiểu biết mà để xảy ra những chuyện bi hài như vậy không? Tôi xin được phép nghi ngờ đây không phải chỉ vấn đề năng lực, trình độ, mà còn là vấn đề đạo đức.

    Vấn đề năng lực, vì những người chưa từng có một công trình khoa học nghiêm túc nào hay chỉ có một vài công trình mà đã lâu xa rời công tác giảng dạy và nghiên cứu lại được giao trách nhiệm chủ trì các hội đồng phong các chức danh khoa học thì làm sao không phạm sai lầm ?

    Vấn đề đạo đức, vì nếu những người bản thân thiếu trung thực, thiếu công tâm được giao trách nhiệm quản lý một đơn vị hay lãnh đạo một công tác đòi hỏi cao tính trung thực, sáng tạo thì làm sao tránh được đạo đức giả ? Khi mà cấp trên (trong bộ máy công quyền) không đàng hoàng thì làm sao giáo dục được cấp dưới đàng hoàng ?

    Kinh nghiệm các nước đều cho thấy, khi thiếu trung thực bắt đầu từ những chuyện tưởng là nhỏ trong đời sống xã hội bị bỏ qua thì cuối cùng tất yếu sẽ dung túng tham nhũng, làm ăn dối trá chụp giật, không khuyến khích sáng tạo, chỉ cần bắt chước, ăn cắp, khôn ranh, như vậy sẽ chẳng có hy vọng gì cạnh tranh nổi để tồn tại, chưa nói để phát triển bình thường, càng khó trở thành con rồng, con hổ gì trong thế giới này. Thử nghĩ xem: với kiểu tăng trưởng như ta, dù có tăng trưởng đến 15% năm thì bao nhiêu năm nữa mới đuổi kịp Thái Lan, Malaysia ? Huống chi tăng trưởng 10% thì phải trừ đi ít nhất 5 – 6% do môi trường hủy hoại, do ăn vào tương lai con cháu, do làm kém chất lượng, làm hư hỏng phải làm đi làm lại (nhớ rằng mỗi lần làm lại vẫn được tính vào tăng trưởng !). Cho nên là người Việt xin đừng ai nghĩ gian, dỏm chỉ là chuyện nhỏ, chuyện vặt, không đáng lo.

    http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&CategoryID=42&News=3385

  2. giaosudom4 said

    Giáo sư Dỏm Việt Nam- Không thể tưởng tượng được!?

    LTS: Ai cũng biết tham nhũng đang là quốc nạn của Việt Nam. Nhưng khi được hỏi tại sao lại như thế thì những người có trách nhiệm lại đổ lỗi cho “thằng “tham nhũng nó tinh vi, rất khó tìm thấy bằng chứng. Rất khó tìm ra bằng chứng, nhưng khi có bằng chứng rành rành thì người ta lại nói: “thằng ” tham nhũng nó có nhân thân tốt nên xét giảm nhẹ, vân vân và vân vân. Thật ra đó là mánh khoé của những kẻ có trách nhiệm nhưng cùng một ruột với những kẻ tham nhũng. Chỉ có những kẻ nắm giữ chức quyền mới là những đối tượng dễ tham nhũng nhất. Vậy họ lại đi chống tham nhũng, thế thì Chống Ai?

    Chà, chả thế lại đành bó tay cho cái đám giặc “tham nhũng ” đó hoành hành sao?

    Xin tạm gác lại vấn đề tham nhũng ở mức độ như thế đã.

    Cũng tương tự như vậy, vấn nạn cũng không kém phần hiểm nguy đối với đất nước là nạn chạy chức, chạy quyền. Tình hình chống nó cũng đi vào ngõ cụt như việc chống tham nhũng trên. Lý do được che đậy là: “thằng” chạy chức, chạy quyền nó có báo đâu mà biết để chống.

    Ôi chao, lại một việc bất lực nữa, thôi thì cũng đành gác lại chỗ này vậy.

    Thế còn vấn nạn mua danh, bán chức, chức danh thật mà năng lực dỏm cũng là không kém hiểm nguy cho xã tắc đấy chứ? Nhưng, cũng tương tự như hai vấn nạn trên, bằng chứng đâu luôn là cái cớ để người ta thông đồng với nhau làm những chuyện tày đình và qua mặt tất cả bàn dân hơn 85 triệu thiên hạ Việt Nam. Vấn nạn này đã kéo dài mấy chục năm qua chứ chẳng phải ngắn.

    Vậy là vấn nạn thứ ba cũng đi vào ngõ cụt như hai vấn nạn trên. Và chắc chắn những người có trách nhiệm làm trong sạch các vấn nạn của nước nhà chẳng chịu làm cái việc Vạch áo cho người xem lưng bao giờ, bởi nhiều, rất nhiều trong số họ tấm lưng đang bị ghẻ lỡ, mục nát, hôi thối.

    Nói như vậy, hẳn nhiều người sẽ nhảy sổ vào, sẽ quát mắng, doạ nạt thậm chí có những trò tiểu nhân để phản bác lại và yêu cầu: Bằng chứng đâu?

    Đúng ra, những kẻ ăn lương làm công của người dân-Các quan chức (bằng tiền thuế của dân đóng vào ) phải có trách nhiệm giải trình trước người chủ của họ về những vấn đề đó. Tuy nhiên, họ đã không làm tròn trách nhiệm đày tớ của mình.

    Nhưng không hẳn đã hết hi vọng. Một nhóm những người có tâm với đất nước, có thực tài đã dày công vạch trần sự thối nát đằng sau những cái tên nghe rất kêu, rất oai phong lẫm liệt trước bàn dân thiên hạ lại ẩn chứa đằng sau đó sự Dối Trá không thể tả được. Hãy cùng điểm danh từng gương mặt một để nhìn rõ tận mắt. Hãy tượng tượng thử danh sách đó là những ai? Xin thưa: toàn những vị chức sắc, tai to mặ t lớn đương quyền! Họ được phong Danh hiệu cao quý nào vậy? Đó là danh hiệu không thể cao quý hơn được nữa: Giáo sư Dỏm!?

    Vì sao lại có chức danh đó? Bởi vì đã là Giáo sư thì anh phải là người có những đề tài nghiên cứu mới, được tối thiểu bao nhiêu đề tài mới được công nhận là Giáo sư. Ấy thế mà nhiều vị chả có lấy 01 đề tài mới lận lưng cũng mang danh Giáo sư, thật là lạ. Không những thế trong đó có cả Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân mới vừa thôi chức Bộ trưởng giáo dục và cả Bộ trưởng giáo dục đương nhiệm Phạm Thế Luận . Không những lạ mà phải nói là quá lạ, không thể tưởng tượng được.

    http://tradervn.wordpress.com/2010/08/07/giao-s%C6%B0-d%E1%BB%8Fm-vi%E1%BB%87t-nam-khong-th%E1%BB%83-t%C6%B0%E1%BB%9Fng-t%C6%B0%E1%BB%A3ng-d%C6%B0%E1%BB%A3c/

  3. giaosudom said

    From: Tạp Chí GS Dỏm Việt Nam – JIPV
    To: Những vị được JIPV phong hàm và những người liên quan (xin gọi chung các vị)
    *****************************************************************

    Kính gửi các vị,

    JIPV biết các vị không thích sự có mặt của JIPV. Tuy nhiên các vị không nên dùng “biện pháp” như đã làm. Mục đích của JIPV là góp phần thúc đẩy khoa học Việt Nam phát triển, cũng như đấu tranh cho sự công bằng trong khoa học ở Việt Nam, ngoài ra JIPV không có mục đích gì khác. JIPV chỉ ra sự yếu kém của các vị để giúp các vị biết và phấn đấu tốt hơn. Và khi các vị chứng tỏ được mình có khả năng làm khoa học nghiêm túc thì các vị sẽ được “xóa dỏm” và có thể kèm theo những lời ca ngợi khoa học như trong Phòng xoá dỏm – kém – yếu.

    Việc ra sức “đánh phá” JIPV thì chỉ làm tổn hại uy tín của các vị. “Hành động” như vừa rồi đã để lại dư âm không tốt cho các vị, làm nhiều người hiểu sai về các vị: ủng hộ và bao che khoa học dỏm. Nếu thực sự như thế thì đó sẽ làm một hiểm họa. Hy vọng điều đó không đúng.

    Như đã nói, cách tốt nhất là phải làm việc tích cực lên, cố gắng cho mọi người thấy được khả năng làm khoa học nghiêm túc của các vị thì có ngày các vị sẽ yêu mến JIPV cho xem: các vị sẽ được xóa dỏm và có khi còn được JIPV vinh danh như trong Viện vinh danh Nhà khoa học.

    Riêng các vị không có hoặc đã hết khả năng làm khoa học nghiêm túc thì vẫn có thể được JIPV xóa dỏm và vinh danh nếu các vị thể hiện được tấm lòng thực sự của các vị với sự nghiệp khoa học của đất nước. Có cách nào không? Có! Các vị có thể tuyên truyền và động viên mọi người làm khoa học nghiêm túc, không tiếp tục làm khoa học dỏm. Và điều này có thể được thể hiện qua bài viết trên báo chí như GS Hoàng Tụy, PGS Phạm Đức Chính, GS Nguyễn Văn Tuấn,…. đã và đang làm. Đối với các vị có chức quyền và đang nắm trong tay vận mệnh khoa học của đất nước thì các vị vui lòng thực hiện cải tổ khoa học Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế, phải thể hiện qua hành động cụ thể, không nói chung chung và qua loa như trước đây, và quan trọng là các vị không được tham gia các hội đồng khoa học (các vị có biết lí do tại sao không?). Thông qua kết quả khoa học, hoạt động tuyên truyền khoa học nghiêm túc, hoặc việc thực hiện cải tổ khoa học nghiêm túc, JIPV sẽ xem xét xóa dỏm và vinh danh các vị.

    Việc “phá hoại” JIPV như vừa rồi chỉ làm mất thời gian của nhau, cũng như làm xấu thêm hình ảnh của các vị, làm các vị bị hiểu lầm với những động cơ không trong sáng. Tạp Chí GS Dỏm đã thực sự có “thương hiệu”, link này bị “cắn” thì link khác mọc lên vì dữ liệu đã được Editors của JIPV lưu giữ khắp năm châu. Hơn nữa, dữ liệu ISI đã được thế giới sử dụng và Việt Nam cũng đã mua bản quyền sử dụng thì các vị không thể che giấu sự yếu kém mãi được.

    Nghe đồn có ai đó thả bọ (virus) khắp nơi để đánh cắp password của người khác và thực hiện những hành động cướp bóc bất lương như Thông Báo số 5 trong Viện thông tin & tuyên truyền. JIPV đang cố gắng không tin điều đó, vì người Việt Nam không ai lại làm thế, người Việt Nam luôn yêu sự thật và rất ghét sự giả dối, hành động “đào tường khoét vách” càng khó xảy ra đối với người có học và những người có liên quan. Do đó, JIPV hy vọng những tin đồn đó không đúng.

    JIPV kính chúc các vị khỏe và sớm được xóa dỏm để khoa học Việt Nam không còn hạng bét như hiện nay.

    Trân trọng,

    JIPV

  4. Tuan Ngoc@ said

    Ưu tiên đầu tư cho toán học hay ngành khoa học nào? In Email

    File:FieldsMedalFront.jpgCó lẽ sự kiện quan trọng nhất trong thời gian tôi còn ở bên nhà là tin Gs Ngô Bảo Châu được trao giải Fields. Nhân dịp này tôi xin có lời chân thành chúc mừng Gs Ngô Bảo Châu. Thành tựu của NBC thể xem là một điểm sáng của người Việt Nam, chứ không phải của nền khoa học Việt Nam. Nó nói lên tố chất khoa học của người Việt cũng chẳng thua kém ai. Nhưng tố chất đó phải ở trong bối cảnh và điều kiện thuận lợi thì mới phát huy được. Nếu không có được một người thầy tuyệt vời định ra hướng đi và một môi trường khoa học quá tốt thì chắc gì đã có sự kiện giải Fields đến tay một người Việt Nam. Do đó, có thể nói huy chương Fields chính là một phần thưởng cho nền khoa học Pháp, chứ không phải khoa học Việt Nam.

    Trong một buổi nói chuyện ở một đại học bên nhà sau khi nghe tin giải Fields, tôi có nói rằng ngay cả một nước Trung Quốc trên 1 tỉ người cũng từng mơ một giải Fields nhưng họ chưa có được. Không biết nhân sự kiện này Trung Quốc còn nhớ có một kiến trúc sư người Việt từng thiết kế và xây tử cấm thành cho họ hay không? Từ nay, chúng ta có thể nói rằng có một người gốc Việt Nam từng được trao tặng giải Fields. Giải Fields tuy rất danh giá, được ví von như là giải “Nobel toán học”, nhưng là giải cho người trẻ và dù phần thưởng vật chất thì còn kém xa giải Nobel. Phần thưởng cho giải Fields hình như là khoảng 15 ngàn USD, tức tương đương với giải thưởng của một chuyên ngành y. Từ nay, hi vọng rằng nghiên cứu sinh Việt Nam ta khi đi xin học bổng nước ngoài sẽ được đón nhận bằng một thái độ trân trọng hơn thời trước đây, thời mà những người thuộc thế hệ tôi bị (phải dùng chữ “bị”) xem như là một dân tộc nghèo nàn và dốt nát khi đối đầu với hệ thống đại học phương Tây. Nhìn như thế để thấy rằng giải thưởng Fields không chỉ là một phần thưởng cho cá nhân Ngô Bảo Châu mà còn có thể có tác động tích cực đến một thế hệ nghiên cứu sinh Việt Nam.

    Tuy nhiên, phản ứng của giới báo chí và chính phủ trước sự kiện giải Fields làm tôi thấy có gì lấn cấn. Bất cứ người Việt Nam nào làm khoa học cũng thấy hãnh diện trước thành tựu của Ngô Bảo Châu. Nhưng cách mà báo chí và vài quan chức chính phủ thể hiện niềm hãnh diện thật lạ lùng. Báo Tuổi Trẻ còn gửi 2 phóng viên sang Ấn Độ để tường thuật về hội nghị toán học. Hai phóng viên! Các báo khác thì tường thuật từng động thái đến bước đi trong mỗi giờ của Ngô Bảo Châu, cứ như là có gắn hệ thống định vị. Chưa thấy một sự xâm phạm cá nhân nào ghê gớm như thế. Một vài quan chức thì có những hành động rất kì cục, như rút bút trong túi áo ra tặng cho Ngô Bảo Châu. Lễ vinh danh được tổ chức hoành tráng, với hàng ngàn người tham dự, kể cả người đứng đầu chính phủ, và truyền hình trực tiếp. Đành rằng vinh danh một tài năng là cần thiết, nhưng tôi nghĩ những việc làm đó đã đi quá tầm, và phản ảnh một phần nào sự thiếu trưởng thành của một quốc gia.

    Nhìn cách làm của Việt Nam, tôi thấy ngậm ngùi cho các nhà khoa học Úc. Úc có nhiều người đoạt giải Nobel y học. Tính từ 1915 đến nay, Úc đã có 9 người được trao giải Nobel y học và 1 người chiếm giải Fields. Không biết trước đây thì sao, nhưng từ ngày tôi đến Úc đến nay (30 năm) tôi chưa thấy một nhà khoa học Úc đoạt giải Nobel được tường thuật và vinh danh như ở Việt Nam ta. Còn nhớ trước đây, khi ông Barry Marshall, hay trước đó là Peter Doherty và mới đây nhất là Elizabeth Blackburn (cả hai đều có song tịch Mĩ và Úc) được trao giải Nobel y học, báo chí Úc chỉ có khoảng 10 dòng chữ, thậm chí 5 dòng chữ (như trường hợp bà Blackburn) để đưa tin. Không có phóng viên theo dõi. Không có tặng giải thưởng quốc gia. Không có tặng bút. Không ai lên tiếng cho căn hộ. Không có tặng thẻ máy bay bạch kim. Không có lễ đón ở sân bay. Không có truyền hình trực tiếp. Không có vinh danh trong Quốc hội. Ông Peter Doherty khi về Úc vẫn phải nộp đơn xin chức danh NHMRC Fellow như bao nhiêu người khác (hoàn toàn không có đặc cách), cũng phải xin tài trợ cho nghiên cứu như các nhà khoa học khác trong nước. Trong một buổi nói chuyện tại Viện Garvan, ông còn nói rằng chỉ có khoảng 50% đơn xin tài trợ của ông là thành công, phân nửa bị bác! Thật ra, Úc là nước còn trẻ nhưng là một nước trưởng thành về mặt khoa học. Một nước trưởng thành khoa học không có những hình thức vinh danh quá tầm hay quá khôi hài để biến người được vinh danh thành nạn nhân. Cái khác giữa Úc và Việt Nam có lẽ là ở thái độ đối với nhân tài.

    Nhưng cách hành xử của Úc không có nghĩa rằng Úc xem thường khoa học. Ngược lại, Úc rất quan tâm đến phát triển khoa học. Chính phủ dành ra hàng tỉ đôla hàng năm để chi cho các chương trình nghiên cứu, để nuôi dưỡng và phát triển đội ngũ khoa học quốc gia. Họ quan tâm đến việc nâng cái mà chúng ta hay quen gọi là “critical mass”, chứ không đặt trọng tâm vào việc phát triển một vài trung tâm nghiên cứu hay vài cá nhân. Có lẽ quan điểm của họ là khi đã có critical mass thì chuyện đoạt giải thưởng quốc tế không còn là vấn đề lớn nữa. Nói cho cùng, việc huấn luyện một vài cá nhân để có giải thưởng quốc tế (như giải Olympic) dễ hơn là nâng cao mặt bằng khoa học của một quốc gia. Thay vì nhân cơ hội Ngô Bảo Châu, chính phủ Việt Nam tuyên bố một chính sách khoa học mới và tích cực hơn, thì sự việc lại được phô diễn quá hình thức chủ nghĩa và có thể nói là quá phường tuồng. Một đất nước với trên 2000 năm văn hiến cần một thái độ bình tĩnh hơn, một hành xử nghiêm chỉnh hơn, và nhất là một cách phô trương mang tính trưởng thành hơn.

    Có lẽ một trong những phản ứng tích cực nhân sự kiện Ngô Bảo Châu là tuyên bố thành lập viện toán học cấp cao. Đương nhiên, giới toán học vui mừng trước tuyên bố này, nhưng tôi thấy phân vân. Chưa biết ngành toán học Việt Nam đã đóng góp gì cho sự phát triển kinh tế, khoa học và an sinh của Việt Nam, nhưng đã có vị tuyên bố rằng Viện Toán ở Hà Nội là một viện khoa học thành công nhất ở Việt Nam. Ai cũng có thể tuyên bố như thế cho ngành của mình, nhưng vấn đề quan trọng là bằng chứng, là thước đo trong thực tế. Nếu lấy số bài báo khoa học làm thước đo thì ngành toán đóng góp khoảng 9-10% tổng số bài báo khoa học từ Việt Nam, trong khi đó ngành vật lí cũng có số bài báo tương tự (hay cao hơn chút). Riêng ngành y sinh học đóng góp ~30% tổng số bài báo khoa học. Nếu lấy chất lượng làm thước đo, khoảng 45% các công trình nghiên cứu về toán của Việt Nam chưa bao giờ được trích dẫn sau 5 năm công bố (tỉ lệ ngày trong ngành vật lí là 31% và ngành y sinh học là 18%). Ít ai trích dẫn phản ảnh một phần chất lượng nghiên cứu, nhưng cũng một phần là văn hóa ngành (ngành toán ít trích dẫn hơn ngành vật lí). Nhưng dựa vào hai chỉ số trên, khó có thể nói Viện Toán hay ngành toán là thành công nhất ở Việt Nam.

    Nhìn sang các nước láng giềng, ngành toán của Việt Nam tốt hơn nhiều nước, nhưng vẫn còn kém hơn Singapore. Chúng ta thử xem qua một vài con số thống kê xem sao:

    Nước

    Số bài báo về toán học 2000-2005

    Chỉ số trích dẫn trung bình

    Chỉ số H

    Việt Nam

    326

    2.44

    11

    Singapore

    1474

    5.43

    30

    Malaysia

    170

    1.94

    7

    Philippines

    3

    6.67

    2

    Indonesia

    17

    1.41

    3

    Thailand

    98

    1.57

    6

    Bảng trên cho thấy trong thời gian 2000-2005, Việt Nam công bố được 326 bài báo khoa học về toán, với tổng số trích dẫn 797 lần. Tính trung bình, số lần trích dẫn cho mỗi bài báo là 2.4, chỉ số H là 11. Trong cùng thời gian, Singapore công bố 1474 bài, với chỉ số trích dẫn trung bình là 5.43, chỉ số H là 30. Như vậy, ta tuy hơn Thái Lan, Nam Dương hay Mã Lai, nhưng thua xa Singapore về số lượng và chất lượng. Nhưng đó chỉ là một mặt của vấn đề. Thái Lan và Mã Lai có nền toán học kém hơn ta, nhưng kinh tế và mặt bằng khoa học của họ thì bỏ ta xa gần 30 năm.

    Bảng số liệu trên còn cho thấy chúng ta cần khiêm tốn hơn trong những tuyên bố về thành công của toán học. Số liệu trên còn gián tiếp đặt dấu hỏi về ưu tiên cho đầu tư giữa các ngành khoa học.

    Ở Việt Nam hiện nay, y tế và môi trường là hai lĩnh vực thiết yếu nhất. Chỉ cần dạo qua một vòng các bệnh viện sẽ thấy người bệnh ở Việt Nam khổ cực biết là dường nào. Đã có bệnh nhân tự tử chỉ vì không thể có khả năng tài chính để điều trị. Phần lớn thuốc men đều phụ thuộc vào các công ti nước ngoài cung cấp với giá rất cao, trong khi đó kĩ nghệ dược trong nước còn yếu kém, do thiếu nghiên cứu khoa học. Môi trường sống xuống cấp kinh khủng. Hệ thống sông ngòi đang bị ô nhiễm trầm trọng, và dẫn đến hệ quả bệnh tật ở qui mô quốc gia. Nghiên cứu môi trường ở Việt Nam cũng rất thiếu: thiếu chuyên gia, thiếu thiết bị, thiếu tài trợ. Nhưng chẳng ai nói đến dành ngân quĩ cho hai lĩnh vực khoa học thiết yếu này. Có lẽ các lãnh đạo thích trừu tượng hơn là nhìn vào thực tế.

    Tiêu ra trăm tỉ đồng để phát triển ngành toán có lẽ cần thiết, nhưng sẽ đem lại lợi ích gì thực tế cho Việt Nam? Đã là đầu tư, cho dù là đầu tư khoa học, thì câu hỏi đó cần phải được đặt ra, bởi vì nước ta vẫn còn nghèo và việc chi tiền phải “liệu cơm gấp mắm”, chứ không thể xa xỉ được. Giả dụ như Việt Nam sẽ có một viện toán học cấp cao, với nhiều bài báo khoa học trên các tập san toán hàng đầu thế giới (hiện nay thì Viện Toán chưa có những bài như thế), câu hỏi đặt ra là những bài báo đó sẽ đem lại lợi ích gì cho người bệnh, cho môi sinh? Tạo ra sản phẩm để điều trị bệnh nhân? Không. Đăng kí bằng sáng chế? Không. Đăng kí bản quyền về một phương trình đã được giải quyết? Chưa thấy ai đăng kí bản quyền phương trình. Nếu có ứng dụng thì toán, nói cho cùng, chỉ là một công cụ hỗ trợ cho nghiên cứu khoa học. Mà, không có toán thì người ta vẫn có công cụ khác. Không có được một “closed solution” bằng toán thì nhà nghiên cứu vẫn có thể dùng máy tính để mô phỏng và có một “heuristic solution”. Có toán học, nghiên cứu khoa học phát triển đẹp hơn; nhưng không có toán học thì khoa học vẫn phát triển nhanh. Nhìn qua thế mạnh của khoa học Thái Lan và Mã Lai, chúng ta dễ dàng dù ngành toán học của họ không bằng ta, nhưng họ phát triển mạnh trong các lĩnh vực khoa học thực nghiệm như công nghệ sinh học, công nghệ thực phẩm, công nghệ dược. Họ không cần viện toán cấp cao để đưa nền kinh tế của họ bỏ chúng ta 30 năm.

    Ngày xưa, tôi cũng rất thích học toán. Nhưng đến khi sang Úc và Mĩ, tôi cực kì ngạc nhiên khi thấy điểm vào ngành toán ở các đại học tại đây thấp nhất so với các ngành khác. Chẳng hạn như ở bang New South Wales, trong khi học sinh chỉ cần 70 điểm là có thể vào học ngành toán, nhưng để học các ngành khoa học thực nghiệm và kinh tế thì số điểm tối thiểu phải trên 85. Phần lớn sinh viên theo học ngành toán như là một ngành phụ, như học thêm một công cụ, để họ có thêm bằng cấp để dễ xin việc sau này. Úc không có một viện toán như Việt Nam, và cũng chưa có dự định đầu tư vào toán cao cấp như Việt Nam. Nhưng theo tôi biết số và chất lượng ấn phẩm toán của Úc hơn Việt Nam khá xa. Và, khỏi cần so sánh thành tựu khoa học của Úc với Việt Nam, vì so sánh không còn ý nghĩa. Chưa thấy ai nói toán là động lực phát triển khoa học hay kinh tế Úc.

    Một câu hỏi không thoải mái vẫn đặt ra: Chúng ta cần ưu tiên xây dựng một nền toán học để đứng vào hàng 40 trên thế giới, hay cần xây dựng một nền khoa học, một “critical mass” khoa học có khả năng đem lại an sinh và phúc lợi trực tiếp cho người dân Việt Nam?

    NVT

    http://nguyenvantuan.net/science/4-science/1059-uu-tien-dau-tu-cho-toan-hoc-hay-nganh-khoa-hoc-nao

  5. giaosudom4 said

    Một tờ báo theo lề có đăng 1 bài về tình trạng giáo sư dỏm, không biết khi viết bài này, họ có tham khảo JIPV không nữa, hehehe
    http://www.giaothongvantai.com.vn/Desktop.aspx/Noi-dung/van-hoa-the-thao/Giao_su_dom_tien_si_nhai/

    • Tuan Ngoc@ said

      Đọc là biết ngay motivation từ đâu rồi. Bài này phải lưu lại bác à! Nó sẽ bị rút xuống cho xem.

      Giáo sư dởm, tiến sĩ nhái…
      03:46′ AM – Thứ năm, 27/10/2005

      – Này bác ơi, cái cạc vi zít của bác vừa đưa cho tôi ghi danh bác là GS-TS. Xin lỗi bác nhé, tôi hỏi khí không phải: Bác là GS-TS thật hay là GS-TS dỏm đấy.

      – Ô hay, cái nhà ông này. Hỏi chi mà lỗ mãng, xấc xược thế. Tôi là GS-TS có bằng cấp hẳn hoi. Dỏm thế nào được.

      – Có bằng cấp đóng dấu đỏ chói hẳn hoi thế mà vẫn dỏm đấy bác ạ.

      – Ông có nói láo không đấy. Hoang tin hả?

      – Nói có sách, mách có chứng đây. Ông L.Q.D Viện trưởng đương chức của một Viện KHKT – bảo vệ thành công tiến sĩ năm 2001. Theo quy chế của Nhà nước thì ông L.Q.D phải có ít nhất một bài báo phù hợp với hướng nghiên cứu công bố trên tạp chí khoa học từ cấp Ngành trở lên.

      Phải học và thi khoảng 20 môn chuyên ngành trước khi bảo vệ tiến sĩ. Âý vậy mà ông L.Q.D không thèm học và thi một môn nào cả thế mà vẫn đàng hoàng ra trước hội đồng bảo vệ tiến sĩ và thế là úm ba la… hấp: tiến sĩ L.Q.D.

      – Trời đất! Làm khoa học mà lại gian lận quá mấy mụ buôn dưa lê ở ngoài chợ trời cơ à?

      – Đấy là tôi mới chỉ ra một trường hợp cụ thể. ở cái viện KHKT này còn độ chục ông GS-TS nữa. Toàn là đồ dỏm nhưng được dán bằng dấu đỏ chói hẳn hoi.

      – Cũng giống như rượu dỏm nhưng được dán mác kiểm duyệt chứng nhận thương hiệu chất lượng bên trên nút chai ông nhỉ.

      – Y chang! Nghĩ mà khôi hài quá bác ơi!

      – Họ chạy chọt, kiếm cái mác học hàm học vị dỏm như thế để làm gì?

      – Để có đủ tiêu chuẩn leo lên ghế này ghế nọ chứ.

      – Họ không sợ có ngày bị lột mặt nạ, bêu ra trước công luận à?

      – Sợ thì cũng có sợ. Nhưng mà cái lòng tham leo trèo chức vụ, quyền lực đã đè “bẹp dúm” cái sợ của họ rồi.

      – Đúng rồi. Vì tham tiền khi có tới 300% lợi nhuận thì có bị treo cổ họ vẫn dấn tới, làm tới. ấy vậy mà lòng tham tiền còn kém xa lòng tham chức vụ quyền lực.

      – Vì chức vụ quyền lực đẻ ra tiền bạc cơ mà.

      Tốc Hành

      http://www.giaothongvantai.com.vn/Desktop.aspx/Noi-dung/van-hoa-the-thao/Giao_su_dom_tien_si_nhai/

  6. Tuan Ngoc@ said

    Những thống kê công phu của GS Tuấn:

    Ấn phẩm khoa học từ Á châu và Việt Nam:

    http://nguyenvantuan.net/science/4-science/1076-an-pham-khoa-hoc-tu-a-chau-va-viet-nam

    Vài so sánh khoa học của Nhật và Trung Quốc, nhìn về Việt Nam:

    http://nguyenvantuan.net/science/4-science/1077-vai-so-sanh-khoa-hoc-cua-nhat-va-trung-quoc-nhin-ve-viet-nam

  7. Tuan Ngoc@ said

    Góp ý về qui định công nhận chức danh giáo sư

    Nguyễn Văn Tuấn

    Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ra thông tư sửa đổi, bổ sung một số quy định liên quan đến việc xét duyệt chức danh giáo sư. Qua thông tư này, Bộ muốn lấy ý kiến của các nhà khoa học và những ai quan tâm đến qui trình xét duyệt chức danh giáo sư. Trong khuôn khổ bài viết ngắn này, tôi sẽ bàn đến một vài vấn đề trong việc đánh giá chất lượng nghiên cứu khoa học và cách tính điểm cho ứng viên.

    Điều 1, khoản 2 của Thông tư viết: “Tính điểm quy đổi cho mỗi bài báo khoa học đã được công bố chủ yếu dựa vào chất lượng khoa học của chính bài báo, có tham khảo uy tín khoa học của tạp chí công bố bài báo khoa học đó. Mỗi bài báo khoa học được tính từ 0 đến 1 điểm; chỉ bài báo khoa học nào đặc biệt xuất sắc, đăng trên các tạp chí có uy tín khoa học hàng đầu ở trong nước và quốc tế mới có thể được tính đến 2 điểm. Bài báo có đồng tác giả thì điểm của bài báo được chia đều cho các đồng tác giả”.

    Có nhiều vấn đề trong điều khoản này liên quan đến cách đánh giá chất lượng và công thức tính điểm.

    1. Sự thiếu minh bạch trong đánh giá chất lượng công trình nghiên cứu. Đọc qui định “Về tính điểm quy đổi cho mỗi bài báo khoa học đã được công bố chủ yếu dựa vào chất lượng khoa học của chính bài báo, có tham khảo uy tín khoa học của tạp chí công bố bài báo khoa học đó” tôi phải hỏi lấy gì để đánh giá “uy tín khoa học của tạp chí”? Qui định này lẫn lộn giữa chất lượng một công trình nghiên cứu với chất lượng tập san khoa học. Hai khía cạnh này rất khác nhau. Mặc dù trong thực tế chỉ số ảnh hưởng (impact factor, IF) của tập san có mối tương quan cao với chất lượng bài báo khoa học, nhưng vẫn có nhiều trường hợp bài báo có chất lượng thấp trên những tập san có IF cao (và ngược lại). Không thể lấy IF để đánh giá chất lượng một bài báo khoa học.

    2. Đánh đồng tập san trong nước và ngoài nước. Theo như qui định “bài báo khoa học nào đặc biệt xuất sắc, đăng trên các tạp chí có uy tín khoa học hàng đầu ở trong nước và quốc tế mới có thể được tính 2 điểm” thì một bài đăng trên Lancet (tập san y khoa hàng đầu trên thế giới) hay Science (tập san khoa học số 1 trên thế giới) có điểm tương đương với một bài trên tập san Y học Thực hành của Bộ Y tế – một tập san không có trong danh sách ISI (tức chưa được cộng đồng khoa học quốc tế công nhận).

    3. cách tính điểm cho tác giả của những bài báo có nhiều tác giả. Bản dự thảo viết “Bài báo có đồng tác giả thì điểm của bài báo được chia đều cho các đồng tác giả”. Đây là một cách tính toán theo chủ nghĩa trung bình. Để thấy sự vô lí của qui định này, thử tưởng tượng một trường hợp sau đây: công trình khoa học do nghiên cứu sinh thực hiện dưới sự hướng dẫn của một giáo sư và hợp tác của 5 đồng nghiệp. Khi công trình công bố, người nghiên cứu sinh đứng tên tác giả đầu, 5 đồng nghiệp đứng tên tác giả theo thứ tự đóng góp từ cao đến thấp, và sau cùng là vị giáo sư. Ở đây, người nghiên cứu sinh là người chủ trì công trình, là người có ý tưởng, ứng dụng phương pháp, soạn bài báo, và công bố. Theo qui định mới thì số điểm phải chia đều cho 7 tác giả. Như vậy là bất hợp lí, vì điểm trung bình không phản ảnh sự đóng góp của nghiên cứu sinh.

    Cần phải nói thêm rằng vấn đề tác giả còn phụ thuộc vào văn hóa ngành. Trong những ngành như y sinh học, có nhiều trường hợp tác giả đứng đầu, tác giả cuối, hay tác giả liên lạc (correspondent author) chính là những tác giả chính. Nhưng có ngành khoa học, người ta sắp xếp thứ tự tác giả theo mức độ đóng góp cho công trình nghiên cứu. Lại có ngành khoa học người ta sắp xếp theo chữ cái của họ của tác giả. Nói chung, cách sắp xếp tác giả rất phong phú và khác nhau giữa các ngành, không thể nào áp dụng một công thức theo kiểu bình quân chủ nghĩa được.

    Qua hai phân tích vừa kể tôi có thể nói rằng cách tính điểm theo quân bình chủ nghĩa chẳng những vô lí, là một sự khuyến khích cho người ta thiếu thành thật và tìm cách lợi dụng hệ thống đề bạt khoa bảng. Thành tựu khoa học của một nhà khoa học không thể cân đo đong đếm bằng những “điểm”. Mỗi nhà khoa học theo đuổi một chuyên môn, có khi chuyên môn hẹp, và chỉ có thể những đồng nghiệp trong chuyên ngành mới đánh giá được một phần việc làm của họ. Các chỉ số về ấn phẩm khoa học và tập san khoa học có thể mang tính bổ sung khách quan, nhưng những chỉ số này phải được sử dụng cùng với bình duyệt của đồng nghiệp.

    Nói tóm lại, tôi thấy những sửa đổi “Qui định về tiêu chuẩn, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm chức danh GS, PGS” có nhiều vấn đề cần phải bàn lại. Theo tôi, những bất cập và vô lí vừa nêu trên cần phải chỉnh sửa lại cho hợp lí hơn.

    http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=110&CategoryID=36&News=3491

    • tvh said

      Câu trả lời cho sự ì ạch, yếu kém của HĐHH:

      “Thầy ơi, Thầy đọc bài này đi, một ông giáo sư, Tổng Thư ký Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước suốt đời suy nghỉ, nghiền ngẩm làm sao để được bắt tay với Bill Gate, Bush. Putin … được lâu và để chụp hình cho đẹp chứ không phải làm gì nói gì để mang lại hiệu quả cho đất nước. Nghe Bill Gate khen sinh viên Việt Nam một câu xã giao mà sướng rơn đến nỗi 4 năm rồi vẫn còn thấy sướng. Thầy sẽ hiểu là vì sao cái hội đồng do họ lãnh đạo không loạn cả lên.”

      http://nguyenvantuan.net/misc/9-misc/1060-khi-giao-su-thich-bat-tay

  8. Thuykieu said

    Giải Nobel và VN

    Thế là “mùa giải Nobel” đã kết thúc. Dĩ nhiên là không có người Việt nào được giải. Điều này làm cho một số báo tỏ vẻ tiếc và than dài thở ngắn hỏi: bao giờ VN sẽ có người đoạt giải Nobel. Một số người trong giới văn học hỏi “bao giờ VN có giải Nobel”, làm như là nhà văn VN đã được đề cử tranh giải Nobel văn học. Tôi thì không trông chờ VN sẽ có giải Nobel trong thế kỷ này và cho rằng câu hỏi như thế không nên đặt ra vì nó chỉ làm cho chúng ta bé nhỏ, tự ti …

    Nobel khoa học? Trình độ khoa học của ta quá kém thì không nên nhắc đến giải này. Trong một xã hội mà tự do học thuật không được tôn trọng (thậm chí không có) và đại đa số những người cầm cân nảy mực là dỏm, ngồi sai chỗ, thì làm sao hiểu được giá trị thật của sáng tạo khoa học. Trong một xã hội mà danh được mua tước được bán công khai thì làm sao có được một nền khoa học tử tế. Một “nền khoa học” mà trong đó những kẻ bất tài, nhếch nhác về trình độ, suốt ngày huênh hoang trên báo chí và tivi qua mặt nạ “giáo sư” và “nhà khoa học” thì đó là nền khoa học gì? Tôi cho rằng đó là một nền khoa học tam thói: tiểu nông, tiểu trí và tiểu xảo. Một nền khoa học như thế thì xin đừng nói đến Nobel trong khoa học.

    Nobel văn học? Chúng ta đâu có tác phẩm nào có tầm cỡ để tranh giải. Thật ra, phải nói chính xác hơn là VN chưa có môi trường tự do học thuật, tự do sáng tạo, để có tác phẩm lớn. Người tài mà ở trong môi trường bẩn thỉu thì tác phẩm của họ làm sao sạch được. Tôi nghĩ VN có vài nhà văn có tài thật sự, nhưng với môi trường ngột ngạt như hiện nay thì chúng ta không nên đặt câu hỏi giải Nobel.

    Bởi vậy, tôi nghĩ những ước vọng hay câu hỏi VN bao giờ có giải Nobel hoàn toàn không thích hợp. Có lẽ người ta nghĩ rằng VN bàn đến Nobel là VN đang ở đẳng cấp Nobel. Nhưng tôi nghĩ một ước vọng Nobel cho VN chẳng những hài hước, mà còn thể hiện một sự nhỏ bé, nhếch nhác và tự ti đến tội nghiệp.

    Bsngoc’s blog

  9. […] https://giaosudom.wordpress.com/phong-giao-d%E1%BB%A5c-th%C6%B0%E1%BB%9Dng-xuyen/ […]

  10. Tuan Ngoc@ said

    http://www.bayvut.com.au/nh%E1%BB%8Bp-s%E1%BB%91ng/v%E1%BA%A5n-%C4%91%E1%BB%81-%C4%91%C3%A0o-t%E1%BA%A1o-v%C3%A0-nu%C3%B4i-d%C6%B0%E1%BB%A1ng-nh%C3%A2n-t%C3%A0i-vi%E1%BB%87t

    G.S. Nguyễn Văn Tuấn: “Tôi nghĩ yếu tố đầu tiên là con người bởi như tôi đã nói, chúng ta còn thiếu một đội ngũ giáo sư nghiên cứu hàng đầu. Do đó, điều quan trọng là làm sao đào tạo ra được một thế hệ các nhà khoa học tiên phong để họ tiếp tục sự nghiệp đào tạo các thế hệ kế cận.”

    Gs Tuấn trả lời đúng nhưng chưa đủ. Việt Nam tuy thiếu một đội ngũ giáo sư nghiên cứu hàng đầu, nhưng đã xây dựng thành công một đội ngũ đông đảo GS, PGS dỏm. Số dỏm này đang nắm nhiều vị trí quan trọng và đang quyết định sự phát triển khoa học đất nước.

    Ngoài ra, tính nhạy bén của đội ngũ GS, PGS dỏm rất cao: khi bị phát hiện dỏm thay vì tập trung nghiên cứu để được xóa dỏm, DỎM lại cầu cứu an ninh mạng và yêu cầu đánh sập những ai công bố thông tin trung thực về các DỎM.

    Ngoài ra, Việt Nam cũng đã xây dựng thành công một đội ngũ đông đảo tiến sĩ giấy. Lực lượng này đang nắm nhiều chức trách quan trọng, sẵn sàng bóp nghẹt tiến sĩ xịn.

    Tuy nhiên, Việt Nam có một kết hoạch 10 năm: xây dựng đại học đẳng cấp quốc tế với lực lượng chính là đội ngũ GS, PGS, TS dỏm đã nêu.

  11. giaosudom said

    Một bác gửi cho Giaosudom bài thơ sau:

    VĂN TẾ THẬP LOẠI GIÁO SƯ.
    Ng. Du

    Tiết quý Thu gió mưa vuồn vuột
    Dân quê miềng lạnh buốt xương da
    Lập đàn đèn nến hương hoa
    Lạy ông tiến sĩ, lạy bà giáo sư.

    Bể học vấn hư hư thực thực
    Lối quan trường bắc bực gai chông
    Vênh vênh một lũ Hội đồng
    Phiếu bầu thì có, đầu không có gì.

    Không có gì mà gì cũng có
    Sự học hàm ngấp ngó đua tranh
    Đua tranh thì có giá thành
    Mua danh ba vạn, bán danh ba hào.

    Nào những kẻ mũ cao áo rộng
    Chốn Ba đình ngong ngóng vào ra
    Thanh binh chính thị nghiệp nhà
    Ô hô mồm giải mép loa cũng tài.

    Nào những kẻ miệt mài đèn sách
    Đạo văn người chắp nhặt nên câu
    Sách người làm mọt làm sâu
    Ô hô nhai lại kiếp trâu kiếp bò.

    Nào những kẻ tò vò nuôi nhện
    Bụng nhện tròn nó quện luôn ông
    Ô hô mông quạnh đồng không
    Có hương có khói nhưng không bàn thờ.

    Nào những kẻ lập lờ đục nước
    Hội Tâm linh mưu chước sắp bày
    Dị nhân đuổi gió hô mây
    Quái nhân múa mép, múa tay, múa tiền.

    Nào những kẻ điên điên dại dại
    Nay quốc ca mai lại quốc hoa
    Ô hô vỏ lựu mào gà
    Nước nôi man mác biết là còn không.

    Nào những kẻ lưu vong thất thổ
    Cõi Tây phương mặt rỗ kỳ khu
    Học đòi lí lẽ ba xu
    Chõ về đàn gảy tai tru mà rầu.

    Nào những kẻ Đông Âu tu luyện
    Trợ cấp còm tằn tiện từng khâu
    Gái xinh chẳng dám nhìn lâu
    Áo phông son Thái khấu đầu bán buôn.

    Nào những kẻ cúi luồn thân phận
    Tay bút gươm lòng lận bút lông
    Ô hô trời đất thấu không
    Đô Long hạ bệ, đốc Đông thượng tòa.

    Nào những kẻ ghen gà tiếng gáy
    Hám vinh danh tháu xoáy công trình
    Chưa thôi tranh luận rập rình
    Đã lôi nhau đến pháp đình… tội chưa.

    Cũng có kẻ thân lừa ưa nặng
    Cũng có cha lẵng nhẵng oán ân
    Cuốc Liên điện thoại Ma Lân
    Đánh rơi thằng nọ, xí phần đứa kia…

    Phận bèo bọt thia lia mặt nước
    Giang sơn này độc dược tràn lan
    Bán buôn sông biển non ngàn
    Hồn hề hồn hỡi hồn tan hay còn…

    Cuối thu nhặt được.

  12. Tuan Ngoc@ said

    Những hình thức đạo văn và biện pháp chống gian lận khoa học

    Thế là câu chuyện đạo văn lại rộ lên trên báo chí. Báo Thanh Niên và Sài Gòn Tiếp Thị đăng vài ý kiến của các chuyên gia, nhà khoa học chung quanh chuyện đạo văn của nhóm tác giả Lê Đức Thông, Nguyễn Mộng Giao, Nguyễn Thế Hùng và Trần Văn Hùng. Nhưng hình như người ta cũng chỉ cho ý kiến chung chung, phải đạo, chứ chẳng thấy ai rút ra những bài học từ “sự cố” này. Những tờ báo trên có trích ý kiến của tôi, nhưng họ không trích đầy đủ những bài học mà tôi đã phát biểu trên entry trước. thì đã cho ý kiến. Hôm nay, nhân lấy cảm hứng từ những ý kiến đó, tôi bàn đến những hình thức đạo văn.

    Đạo văn dĩ nhiên là khá phổ biến trong học thuật, nhưng ít ai định nghĩa cụ thể thế nào là đạo văn. Trong một cuộc thăm dò ý kiến các tổng biên tập các tập san kinh tế, hai tác giả Enders và Hoover hỏi thế nào là đạo văn, và kết quả cho thấy họ (các tổng biên tập) trả lời như sau:

    * Sử dụng những câu văn đã công bố của người khác mà không đề nguồn: 34% xem đó là đạo văn;
    * Sử dụng những câu văn và dữ liệu từ những nguồn chưa công bố: 58%
    * Sử dụng những câu văn và dữ liệu từ những nguồn đã công bố: 66%
    * Sử dụng ý tưởng mà không đề nguồn: 16%
    * Sử dụng tư liệu mà không ghi nguồn: 48%.

    Khi được hỏi về phát hiện đạo văn, các tổng biên tập tiết lộ rằng:

    * Chưa bao giờ phát hiện đạo văn: 71%
    * Phát hiện 1 trường hợp: 24%
    * Phát hiện 2 trường hợp trở lên: 4%

    Trong thực tế, đạo văn có thể xuất hiện dưới nhiều hình thức. Giáo sư Brian Martin (Đại học Wollongong, Úc) từng viết nhiều bài về vấn đề này. Trong bài viết “Plagiarism Struggles”, ông liệt kê một loạt hình thức đạo văn, mà tôi trích dịch sau đây:

    Bureaucratic plagiarism (đạo văn quan quyền) là loại đạo văn thường hay thấy trong giới chính trị gia và những người có quyền cao chức trọng, những người này có người soạn diễn văn cho mình, rồi lấy đó như là tác phẩm của mình.

    Competitive plagiarism (đạo văn cạnh tranh) thường hay thấy trong giới sinh viên hay những người không có quyền thế, những người này lấy ý tưởng người khác nhằm vào mục tiêu thăng tiến trong sự nghiệp. Những trường hợp sinh viên đạo văn để có một luận án tốt nghiệp là một ví dụ tiêu biểu.

    Hai loại đạo văn trên tôi cũng có bàn qua trong một bài trên Tuần Việt Nam và trên blog cá nhân trước đây.

    Cryptomnesia (đạo văn kí ức) là loại đạo văn mà đương sự nhớ đến câu văn hay ý tưởng của người khác nhưng không nhớ người đó là ai, rồi dùng những dữ liệu đó như là tác phẩm của chính mình. Đây là hình thức đạo văn không cố ý (unintentional plagiarism).

    Ghostwriting (tác phẩm ma). “Tác giả ma” ở đây là một thuật ngữ dùng để chỉ những người không đứng tên tác giả của các tác phẩm do chính họ tạo ra; thay vào đó, đứng tên tác giả là những người khác. Do đó, tác phẩm ma là tác phẩm của tác giả ma. Nói cách khác, người đứng tên tác giả không phải là người viết ra tác phẩm đó. Tôi có bàn qua hiện tượng này trong ngành y ở đây.

    Gift authorship hay honorary authorship: Hiện tượng gift author là trong đó các nhà khoa học cho tên của đồng nghiệp hay cấp trên của mình vào danh sách tác giả dù người này chẳng biết hay chẳng dính dáng gì đến công trình nghiên cứu. Hiện tượng gift author khá phổ biến trong khoa học, nhất là ở Việt Nam. Có thể xem thêm bài viết của tôi ở đây.

    Patchwriting là cách copy một văn bản từ nguồn khác, cắt bỏ và thêm vài chữ, thay đổi cấu trúc câu văn.

    Self-plagiarism (tự đạo văn) là cách trình bày nghiên cứu trước của mình như là một nghiên cứu mới (Bretag và Carapiet, 2007).

    Supervisory ghostwriting là những trường hợp mà người hướng dẫn nghiên cứu sử dụng dữ liệu và câu chữ của nghiên cứu sinh dưới quyền của mình mà không ghi nguồn.

    Quay lại trường hợp đạo văn đang gây ồn ào, nếu tác giả Lê Đức Thông ghi tên Gs Nguyễn Mộng Giao mà ông không hề hay biết có thể xem là một hiện tượng gift authorship. Còn những người có tên trong danh sách tác giả nhưng chẳng làm gì và xem bài báo như là công trình của mình, thì đó chính là hiện tượng tác giả ma. Gift authorship hay tác giả ma là hai hình thức vi phạm đạo đức khoa học.

    Thật ra, đạo văn không phải chỉ xảy ra ở nghiên cứu sinh, mà còn được phát hiện ở những người cao cấp (như giáo sư, khoa trưởng, thậm chí hiệu trưởng đại học). Một trường hợp “rình rang” trong y khoa gần đây có liên quan đến giáo sư y khoa Asim Kurjak (người Croatia). Ông là một chuyên gia về sản phụ, tuy không nổi tiếng trên trường quốc tế, nhưng cũng thuộc loại hàng “có tên tuổi” ở địa phương. Vào cuối thập niên 1980s, Giáo sư Iain Chalmers (người Anh, chủ trì trang web James Lind Library) chú ý đến một bài báo năm 1974 của Kurjak rất giống với một bài báo của một nhóm tác giả khác đã công bố trước đó nhiều năm, ông thông báo cho trường đại học Zagreb (nơi Kurjak làm việc) và ban biên tập của tập san BMJ. Cả hai nơi đề nghị Gs Chalmers đừng làm “lớn chuyện” và hứa sẽ giải quyết ổn thỏa trong tình đồng nghiệp. Chẳng biết sự việc được giải quyết ra sao, nhưng 14 năm sau, Gs Chalmers lại phát hiện một bài báo của Kurjak mà trong đó ông lấy dữ liệu và văn từ một luận án tiến sĩ của một nghiên cứu sinh người Na Uy. Sau vài năm điều tra, Đại học Zagreb thú nhận rằng Kurjak phạm tội đạo văn, nhưng họ cho rằng Kurjak đã xin lỗi, và sự việc nên dừng ở đó. Tháng 9 năm 2006, Kurjak xin nghỉ hưu, và thế là sự việc coi như … xong. Nhưng tập san BMJ vẫn xem đó là một trường hợp đáng quan tâm, bởi vì Đại học Zagreb đã quá chậm trễ đương đầu và giải quyết vấn đề, và hệ quả là sự việc làm ảnh hưởng đến danh dự và uy tín của Đại học Zagreb.

    Trường hợp của nhóm tác giả Lê Đức Thông, Nguyễn Mộng Giao, Nguyễn Thế Hùng và Trần Văn Hùng có lẽ cũng tương tự như trường hợp của Kurjak (nhiều lần đạo văn), nhưng có lẽ khác ở chỗ là trường mở cuộc điều tra để làm bài học, còn ở Việt Nam thì hình như chưa có cơ chế và thủ tục để xử lí vấn đề, ngoại trừ kỉ luật Lê Đức Thông như là một … Lê Lai, và như thế, theo tôi, là thiếu công bằng.

    Các trường hợp gian lận trong khoa học rất phổ biến, bất cứ ai làm nghiên cứu khoa học đều có thể nhận ra vấn đề nhưng rất ít ai dám nói lên sự thật trước quần chúng. Đã đến lúc xã hội nói chung cần phải có biện pháp với vấn đề gian lận khoa học. Trước mắt có thể áp dụng một vài biện pháp thực tế như sau:

    * Dạy cho học sinh trung học và sinh viên đại học về vấn đề vả ảnh hưởng của tình trạng bất lương và thiếu thành thật trong khoa học.
    * Các giáo sư đại học cần phải hướng dẫn cho các sinh viên tập sự nghiên cứu biết rõ các thông lệ, qui tắc đạo đức trong nghiên cứu khoa học.
    * Các nhà nghiên cứu, giáo sư cần phải làm gương sáng cho nghiên cứu sinh về sự trung thực khoa học như là một nguyên tắc bất di bất dịch.
    * Trong lớp học, giáo sư cần phải dành một thời gian để bàn về những trường hợp gian lận trong khoa học và ý nghĩa cũng như ảnh hưởng đến xã hội của các trường hợp này.
    * Tất cả các nghiên cứu sinh, trước khi bắt tay vào nghiên cứu, cần phải được cảnh cáo rằng bất cứ hình thức gian lận khoa học nào cũng có thể xem là một tội phạm và cơ quan sẽ dứt khoát không dung túng.
    * Các trường đại học, cơ quan nghiên cứu, bệnh viện cần phải có một ủy ban y đức hay ủy ban đạo đức để giám sát các nghiên cứu liên quan đến con người và thú vật sao cho đạt tiêu chuẩn của Tuyên bố Helsinki.
    * Cần phải có cơ chế bảo vệ các nhà khoa học dám công khai tố cáo các trường hợp gian lận khoa học. Cũng cần phải có cơ chế để điều tra tất cả các trường hợp gian lận sao cho công bằng cho phía bị tố cáo và phía tố cáo.
    * Quan trọng hơn hết, các cơ quan nghiên cứu cần phải tạo ra một không gian và bối cảnh mà trong đó sự liêm chính được ghi nhận và các hành động vô nguyên tắc phải bị trừng phạt.

    Trung thực và liêm chính là những đặc tính số một trong nghiên cứu khoa học, và công bố bài báo khoa học cũng như giảng dạy là raisons d’être của nhà khoa học. Nếu thế giới khoa bảng chỉ gồm những người gian trá và thiếu trung thực thì cái thế giới đó không nên tồn tại. Khoa học là một ngành nghề được xây dựng và tồn tại dựa trên tinh thần chân thực và liêm chính.

    Chú thích:

    Enders W, Hoover GA. Whose line is it? Plagiarism in economics. J Economic Lit 2004; 62:487-93.

    http://www.nguyenvantuan.net/science/4-science/1123-nhung-hinh-thuc-dao-van-va-bien-phap-chong-gian-lan-khoa-hoc-

    • Tuan Ngoc@ said

      Phản biện bài viết của GS Tuấn: Bài viết hay nhưng chưa đủ. Tác giả cần bổ sung một biện pháp cực kỳ quan trọng “Cần công khai những PGS, GS dỏm để mọi người cẩn thận”.

  13. Tuan Ngoc@ said

    Các dỏm chịu khó học thêm để tránh đạo văn làm mất uy tín của khoa học Việt Nam nha. Links dưới đây là quà tặng cho các dỏm và học trò:

    https://giaosudom.wordpress.com/trung-tam-h%E1%BB%8Fi-va-dap/comment-page-1/#comment-1987

    https://giaosudom.wordpress.com/2010/09/07/tr%C6%B0%E1%BB%9Dng/comment-page-4/#comment-2023

  14. Tuan Ngoc@ said

    Thế Giới Phẳng tổng hợp 02 bài viết được đăng trên Tạp Chi Tia Sáng và lấy tựa đề chung là : Loại suy nghĩ “vùi đầu trong cát” (head in the sand).

    Bài 1:

    Lực cản từ chính một số “cây đa, cây đề”

    Hôm họp mặt cộng tác viên Tia Sáng cuối năm tại Bộ KH&CN, sau phát biểu của GS. Hoàng Tụy đánh giá cao việc Bộ KH&CN đã lắng nghe ý kiến đúng đắn và tâm huyết của các nhà khoa học, tiến hành cải cách quản lý NCCB, là phát biểu của một nhà Sinh học, đại ý: Tia Sáng viết hơi quá nhiều về công bố quốc tế. Đành rằng công bố quốc tế của chúng ta yếu, người của chúng tôi công bố quốc tế chung với Nhật là được rồi, cần gì phải là tác giả chính như GS. Phạm Duy Hiển nói. Đề tài giống lúa mới được chuyển giao cho một cơ sở ở Nam Định với giá 10 tỷ đồng vừa rồi có giá trị thực tế rõ ràng, nhưng chẳng có tạp chí quốc tế nào đăng kết quả đó. Sau đó ông “tha thiết” mong Bộ KH&CN đặt lòng tin hơn nữa ở các nhà khoa học, mạnh dạn đầu tư cho họ… (Lập luận này lần đầu nghe cũng hay nhưng tôi đã được nghe lặp lại vài lần nên quả thực cũng hơi chối).

    Đầu năm mới, sau khi chúc tết nhau, tôi và Viện trưởng mới của Viện Cơ học có cuộc nói chuyện Tết chuyển thành tranh luận tay đôi về khoa học. Anh này hơn tôi 2 tuổi, là dân MGU, chuyên môn về dòng chảy nhiều pha, trong thành tích công bố có 1 bài đăng tạp chí quốc tế ISI – Fluid Mechanics – là tạp chí hàng đầu của Cơ học, từ năm 1995 khi đang làm luận án TSKH, đồng tác giả với ông thầy là VS của LX; sau đó anh đã được học bổng Humboldt 2 năm ở Đức. Cuộc tranh luận không đến được hồi kết vì quan điểm khác nhau. Rất khó tranh luận với người chỉ tranh nói nhiều hơn nghe và cứ nhảy từ cái này sang cái khác. Sau đây là một số luận cứ của anh ấy trong đó có những cái tôi đã phải nghe nhiều lần:

    – Tôi ủng hộ yêu cầu luận án TS phải có bài báo quốc tế. Nếu có quy định của Bộ GD&ĐT tôi sẽ yêu cầu NCS của tôi phải làm việc công bố quốc tế. Còn như hiện nay chưa có quy định này, ta cũng chẳng cần phải đòi hỏi công bố, vì sẽ rất khó và vất vả cho NCS.

    Bài báo quốc tế cũng có nhiều loại, có người có cả chục bài vẫn chưa là gì, có người chỉ cần một bài là khẳng định được đẳng cấp (có lẽ hàm ý cái bài báo quốc tế nói trên của anh ấy đủ mạnh bằng cả chục bài của những người khác).

    Tôi đi nước ngoài nhiều nên biết rõ rằng, ở phương Tây, nhất là ở Mỹ, các ĐH không hề quan tâm các GS của họ có công bố quốc tế hay không, nhiều hay ít, mà chỉ quan tâm các GS có mang được nhiều đề tài, hợp đồng, và tiền về cho ĐH hay không (ở VN đây là điểm mạnh của anh này vì liên tục chủ trì các đề tài và hợp đồng kinh phí lớn – tôi ở gần nên cũng được nghe ít nhiều chuyện từ chính những người trong cuộc về các đề tài này)

    Ngành Sinh học công bố quốc tế dễ: họ chỉ cần tìm ra cái cây cái lá gì mới là công bố quốc tế được. Viện Cơ học công bố quốc tế ít vì công bố quốc tế trong lĩnh vực Cơ học khó hơn.

    ISI chỉ là một tổ chức tư nhân, không đủ uy tín đại diện, chỉ thống kê bài tiếng Anh, trong khi có bao tạp chí có uy tín tương đương bằng tiếng Nga, tiếng Pháp thì không được tính đến.

    Hàn Quốc và TQ đòi hỏi công bố quốc tế ISI, SCI, nhưng VN ta phải khác. TQ là nước lớn, họ chịu sức ép phải làm tàu vũ trụ, còn ta đâu có phải làm mấy thứ đó. Do vậy, Bộ KH&CN không cần theo gương họ. Ta có con đường riêng của ta, chẳng có nước nào giống nước nào.

    Quy định mới về NCCB của Quỹ có một điểm tiến bộ là có quy định rõ ràng, không để các Hội đồng phân phối kinh phí tùy tiện như trước. Tuy nhiên đề tài chỉ cho thời gian quá ngắn 2 năm mà lại đòi hỏi 2 bài báo quốc tế là phi thực tế. Mà tại sao cứ phải đòi hỏi công bố quốc tế? Công bố trong nước cũng được chứ. Và nếu quốc tế được 10 điểm thì bài trong nước cũng phải được 5,6 điểm.

    Ngay ở Liên Xô người ta chỉ cần nhấn mạnh cần có bài báo trong nước là đủ. Còn việc hiện nay nhiều người Nga có viết bài cho các tạp chí tiếng Anh, chẳng qua là vì họ muốn kiếm việc ở phương Tây.

    Tại sao ta cứ phải yêu cầu công bố quốc tế. Tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc của chúng ta ở đâu. Đã là người VN ta phải công bố trên các tạp chí của VN chúng ta.

    Ở các viện khác người ta cũng nói với tôi là họ không đồng tình với các bài báo viết về khoa học VN trên báo chí thời gian qua. Một số cán bộ quản lý ở Bộ KH&CN cũng nói với tôi: chúng tôi vẫn luôn ủng hộ các anh đấy chứ, nhưng chính từ trong nội bộ giới khoa học các anh có người cứ cố tình bới chuyện làm vấn đề trở nên to ra…

    Dịp Hội thảo Cơ học vừa rồi, Viện phó Viện Cơ học ĐVM (kém tôi 4 tuổi) lập luận: bên Toán họ công bố quốc tế là đúng rồi, họ chỉ có mỗi cái việc đó. Nếu không làm được việc đó thì cái Viện Toán phải bị giải tán. Còn Viện Cơ ta làm NCCB phục vụ ứng dụng nên không cần phải công bố quốc tế. Vì nghiên cứu ứng dụng là quan trọng đối với đất nước nên phải được Nhà nước ưu tiên bao cấp và đầu tư kinh phí chứ không phải để tự trang trải kinh phí bởi thị trường (như tinh thần nghị định 115). Ngay cả ở Úc và Nhật Bản, từ cả nghìn nghiên cứu ứng dụng cũng chỉ có một nghiên cứu đem ra được sản phẩm thành công trên thị trường (hàm ý trong số hàng ngàn đề tài nghiên cứu ứng dụng của ta, Bộ KH&CN chỉ cần chỉ ra một đề tài có được kết quả trên thị trường là đạt thành công ngang như quốc tế ?)…

    Viện trưởng Viện Cơ học ứng dụng TP. HCM thì trích dẫn ý kiến “khách quan” của một nhà khoa học Việt kiều nổi tiếng có nhiều kinh nghiệm thực tiễn quốc tế (GS Vật lý Trương Văn Tân ở Úc): nghiên cứu cơ bản ở VN để công bố quốc tế các bài báo mang tính chung chung chỉ là theo đuôi nước ngoài, không có ích lợi gì cho VN mà chỉ làm lãng phí tiền thuế của nhân dân. VN ta phải tập trung nghiên cứu ứng dụng.

    Có rất nhiều kiểu ngụy biện khác nhau, phổ biến như là: nước ngoài họ công bố quốc tế vì lương tháng của họ là 5-10 ngàn USD, còn ở ta chỉ vài triệu VND, đầu tư cơ sở vật chất của họ lại còn gấp hơn nhiều lần nữa. Khi nào kinh tế và cơ sở vật chất của ta bằng được như họ ta sẽ công bố quốc tế. Nghiên cứu để công bố quôc tế và nghiên cứu ứng dụng phục vụ nhu cầu thiết thực của đất nước cái nào quan trọng hơn… Họ nói rất hăng, nhưng bảo họ viết công khai ý kiến của mình trên báo thì họ không làm.

    Thay đổi tư duy làm khoa học ở VN, đặc biệt là trong các lĩnh vực nghiên cứu ứng dụng- một lĩnh vực chiếm phần lớn ngân sách đầu tư cho KH&CN thật chẳng dễ dàng gì do nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là lực cản từ chính một số nhà quản lý khoa học được coi (hoặc tự coi) là “cây đa, cây đề”.
    PĐ Chính

    Bài 02:

    Một vài hiểu lầm tai hại

    Đọc bài Lực cản chính từ một số cây đa cây đề của TS. Phạm Đức Chính, điều khiến tôi thực sự lo ngại cho sự phát triển của khoa học và công nghệ vì một số cây đa, cây đề đó đứng đầu ngành, cầm trịch một số khoa học của nước nhà.

    Phân tích từng điểm mà tôi nghĩ là ngộ nhận của các vị này có lẽ cần một bài báo nghiêm chỉnh. Ở đây tôi chỉ muốn chỉ ra vài điều thật tai hại trong cách nghĩ của họ.

    Về ý kiến cho rằng ở các đại học phương Tây, người ta không quan tâm đến việc giáo sư họ có công bố quốc tế hay không, mà chỉ quan tâm đến thu hút tài trợ, tôi thấy thực tế không đúng như thế. Ở trường tôi, người ta đánh giá giáo sư qua nhiều tiêu chí, trong đó có 4 tiêu chí chính: nghiên cứu khoa học, đào tạo, thu hút tài trợ, và phục vụ cộng đồng khoa học. Nghiên cứu khoa học bao gồm năng suất khoa học qua những công bố quốc tế, vì đây là “đơn vị tiền tệ” của giới khoa bảng. Là giáo sư mà không có công bố quốc tế thì chắc chắn chẳng gây được uy tín nào, thậm chí không thể nào có được chức danh đó.

    Ở Mỹ hay các nước phương Tây nói chung, để duyệt xét một đề cương nghiên cứu, người ta căn cứ vào những tiêu chí cụ thể như thành quả khoa học, kinh nghiệm của những người chủ trì dự án, và tính khả thi của đề án. Thành quả khoa học ở đây chính là số lượng và chất lượng nghiên cứu khoa học (thể hiện qua những chỉ số trích dẫn hay chỉ số H). Tài trợ cho nghiên cứu khoa học là một sự đầu tư, cho nên người ta phải xem xét kĩ năng suất của nhóm chủ trì để sao cho số tiền chi ra đem lại hiệu quả cao nhất và an toàn. Thật ra, người ta đã làm phân tích trên Scientometrics cho thấy những ai có nhiều bài báo khoa học và chất lượng cao có xác suất cao nhận được tài trợ cho nghiên cứu. Hệ số tương quan giữa xác suất xin được tài trợ và số lượng và chất lượng bài báo công bố là 0.69. Do đó, công bố quốc tế là một yếu tố để thu hút tài trợ. Nói rằng ở phương Tây người ta chỉ quan tâm đến đề tài mà xem nhẹ công bố quốc tế chẳng những thể hiện sự thiếu hiểu biết về cơ chế tài trợ nghiên cứu khoa học mà còn có phần mâu thuẫn.

    Tôi thấy ý kiến hay quan điểm “ngành tôi khó, ngành anh dễ” (phản ảnh qua câu“Ngành Sinh học công bố quốc tế dễ: họ chỉ cần tìm ra cái cây cái lá gì mới là công bố quốc tế được. Viện Cơ học công bố quốc tế ít vì công bố quốc tế trong lĩnh vực Cơ học khó hơn”) hết sức “hồn nhiên”. Hình như người nói câu này không biết gì về sinh học, mà chỉ nhìn qua thực vật với một cặp mắt phiến diện như thế. Sinh học là một ngành rất rộng lớn, và tốc độ phát triển nhanh nhất hiện nay. Người ta cho rằng thế kỉ 21 là thế kỉ của sinh học, kể cả sinh học phân tử và di truyền học. Làm sao để đánh giá ngành nào khó hơn ngành nào? Một lần trước, có người làm toán cũng nói với tôi giống như thế: mấy anh làm bên y sinh học thì dễ công bố, chứ bên chúng tôi phải 2 hay 3 năm mới công bố được một bài vì làm toán khó lắm. Không biết các bạn thì sao, chứ mỗi lần tôi nghe câu nói loại này tôi cảm thấy tội nghiệp cho người nói (bất kể anh chị ta làm trong ngành nào) hơn là chấp nhất họ. Đây cũng là loại suy nghĩ “vùi đầu trong cát” (head in the sand), không nhìn chung quanh xem người ta làm ra sao. Thật ra thì trong bất cứ ngành khoa học nào, nếu làm chuyên sâu và nghiêm chỉnh, đều có cái khó của nó. Chẳng riêng gì ngành toán, vật lí, y sinh học, mà ngay cả ngành kinh tế học cũng thế. Do đó, đem so sánh chuyên ngành của mình với ngành khác là một việc làm tương đối mạo hiểm và thể hiện thiếu kém suy nghĩ trong khoa học.

    Có người biện minh rằng trong số 1000 nghiên cứu chỉ có 1 công trình là có khả năng ứng dụng, và như thế không cần công bố quốc tế, nhưng lí giải này thiếu tính logic và không thuyết phục. Trước khi một loại thuốc ra đời, các nhà khoa học phải truy tầm hàng trăm ngàn phân tử, với hàng ngàn bài báo khoa học, và cần đến hai thập niên. Nếu không công bố kết quả, người ta cũng đăng kí bằng sáng chế. Không có cơ quan nào mướn người làm mà không có kết quả. Cũng có người cho rằng làm nghiên cứu ứng dụng cũng không cần công bố quốc tế. Cả hai suy nghĩ đều có vấn đề. Nếu nhà khoa học làm trong các trung tâm nghiên cứu của các công ty kĩ nghệ, có thể nhu cầu công bố quốc tế không phải quan trọng, nhưng họ vẫn phải chứng tỏ năng suất khoa học qua những bằng sáng chế được đăng kí. Nghiên cứu cơ bản hay nghiên cứu ứng dụng đều phải có thành quả (nếu không thì không nên làm), và thành quả phải được thể hiện qua bài báo khoa học hay bằng sáng chế.

    Lấy thu nhập ra để biện minh không cần công bố quốc tế cũng là một ngụy biện thường gặp. Ngụy biện là vì công bố quốc tế chẳng có liên quan mật thiết đến thu nhập bình quân đầu người, cũng chẳng tùy thuộc vào dân số của một nước. Canada và Hà Lan là những nước nhỏ về dân số, thu nhập thấp hơn Mỹ, nhưng năng suất khoa học của họ hơn Mỹ. Malaysia có thu nhập bình quân đầu người cao hơn, nhưng về mặt năng suất khoa học thì kém hơn Thái Lan.

    Liên quan đến vấn đề tiền bạc, có một dòng suy nghĩ khá phổ biến là “thiếu tiền cho nghiên cứu”. Điều này cũng đúng một phần, nhưng tiền không phải là yếu tố ngăn cản không làm nghiên cứu khoa học. Có nhiều người đã làm nghiên cứu thực nghiệm và có công bố quốc tế với số tiền chưa đầy 5000 USD. Đối với những người này, họ làm nghiên cứu khoa học để tự học, tự khẳng định mình, và qua đó có cơ sở để đi xin tài trợ. Cái khác giữa một nhóm với tư duy “cho tiền mới làm” và một nhóm với tư duy “làm để chứng minh khả năng và xin tiền sau” là giữa thụ động và chủ động. giữa ngồi chờ và đi tìm, giữa bất biến và đột phá … Khoa học cần những người chủ động, truy tầm, và đột phá.

    Lại có người cho rằng “công bố với đồng nghiệp Nhật là được rồi, cần gì phải là tác giả chính”. Tôi nghĩ đó là một tư duy an phận, an phận với vai trò của một người “lính đánh bộ” (foot solider), mà không chịu vươn lên một hợp tác trong tinh thần bình đẳng. Phát biểu này còn cho thấy có người còn khá vô tư đối với tài sản tri thức của nước nhà. Người ta lấy dữ liệu của Việt Nam, chất liệu của Việt Nam, nhờ người Việt Nam làm và người ta đứng vai chủ nhân. Có cái gì không ổn ở đây. Chả trách với tư duy này mà trong vòng 100 năm qua những kiến thức về nước Việt và người Việt lại lọt vào tay của người nước ngoài!

    Khi không thích cái gì người ta thường gán cho nó một nhãn hiệu với hàm ý khinh khi. Tiêu biểu cho thái độ này là quan điểm cho rằng “ISI chỉ là một tổ chức tư nhân, không đủ uy tín đại diện, chỉ thống kê bài tiếng Anh, trong khi có bao tạp chí có uy tín tương đương bằng tiếng Nga, tiếng Pháp thì không được tính đến”. Tôi thấy quan điểm này rất giống thời bao cấp, xem bất cứ điều gì từ Nhà nước là chân lí. (Hình như người phát biểu quên rằng chúng ta đang theo kinh tế thị trường.) Các đại học hàng đầu của Mỹ đều là tư nhân. Các tập đoàn lớn về kinh tế và quốc phòng của Mỹ đều là tư nhân. Ở Mỹ và Úc, thậm chí còn có nhà tù do tư nhân quản lí. Theo quan điểm này thì các đại học đó, tập đoàn kinh tế và quốc phòng đó, nhà tù đó … không đủ uy tín!

    Vấn đề không phải là “tư nhân” hay “nhà nước” mà là đóng góp của họ cho xã hội. ISI đã có những đóng góp cực kì lớn cho phát triển khoa học. Dù những sản phẩm và thống kê của họ chưa hoàn hảo, nhưng những chỉ số của ISI đã và đang được các đại học trên thế giới (ngoại trừ Việt Nam?), các cơ quan tài trợ, các bộ khoa học công nghệ, v.v… dựa vào đó mà đánh giá năng lực khoa học. Không thể xem thường đóng góp của ISI chỉ vì họ là một doanh nghiệp tư nhân. Còn các tập san Anh, Pháp, Nhật, Hàn, v.v… cũng có một số nằm trong danh sách của ISI, nhưng phần lớn không được công nhận vì chưa đạt được những điều kiện mà cộng đồng khoa học quốc tế công nhận. Làm sao và lấy gì để nói rằng một tập san khoa học của Nga hay Pháp tương đương với tập san Nature (của Anh) hay Science (của Mỹ)? Người phát biểu câu này thật là can đảm!

    Thật là hài hước khi đọc ý kiến cho rằng “Hàn Quốc và Trung Quốc đòi hỏi công bố quốc tế ISI, SCI, nhưng VN ta phải khác. TQ là nước lớn, họ chịu sức ép phải làm tàu vũ trụ, còn ta đâu có phải làm mấy thứ đó”. Dùng cách lập luận đó, có lẽ Úc, Canada, Hà Lan, và Anh cũng có thể nói không cần gây áp lực cho các nhà khoa học của họ công bố quốc tế, vì 4 nước này là nước nhỏ và cũng không có làm “tàu vũ trụ”! Thật là đáng ngại khi có người đang cầm trịch khoa học mà có suy nghĩ quá đơn giản như thế.

    Quan điểm về ta là ta, ta có con đường của ta (như “KH&CN không cần theo gương họ. Ta có con đường riêng của ta, chẳng có nước nào giống nước nào”) mới nghe qua thì cũng lọt tai, nhưng không thể khái quát hóa và đơn giản hóa câu đó cho mọi vấn đề được. Có những cái chúng ta cần giữ bản sắc của mình (như văn hóa), nhưng có những cái mình phải hội nhập với cộng đồng quốc tế (như các chuẩn mực khoa học). Chúng ta vào WTO và phải tuân thủ theo luật chơi của WTO, chứ không thể nói rằng ta có con đường riêng của ta. (Có lẽ chính vì suy nghĩ này mà Vietnam Airlines đã thua trên sân chơi quốc tế, và tốn khá nhiều tiền cho một kẻ lường gạt.) Chúng ta không thể đi dự hội nghị khoa học mà mặc áo dài khăn đóng, không thể tham gia hội thảo mà trong đó mọi người nói tiếng Anh còn ta nói tiếng Việt. Tương tự, chúng ta muốn hội nhập quốc tế thì phải học và hành xử theo luật chơi mà quốc tế chấp nhận.

    Luật chơi và chuẩn mực khoa học đã được hình thành từ rất lâu, và đến nay đã được đại đa số cộng đồng khoa học thế giới chấp nhận. Nước nào không chấp nhận thì sẽ tự cô lập và bị loại ra ngoài dòng chảy của khoa học. Không thể ngụy biện theo cảm tính bằng những “Tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc” để kêu gọi “Đã là người VN ta phải công bố trên các tạp chí của VN chúng ta”. Hệ luận của câu này là công bố trên các tập san quốc tế là không yêu nước, thiếu tự hào dân tộc. Nếu thế thì Chính phủ và các đại học Úc, Hà Lan, Canada, Nhật, Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan, v.v… đều không có tinh thần yêu nước thương dân vì họ kêu gọi các nhà khoa học của họ công bố trên các tập san có impact factor cao, mà đại đa số các tập san này là ở Mĩ hay ở nước ngoài.

    Nếu các tạp chí của Việt Nam được ISI công nhận, có cơ chế làm việc minh bạch, và đã gây được uy tín trong khoa học qua những công trình có chất lượng cao, thì lời kêu gọi đó có thể chấp nhận được. Nhưng hiện nay, chúng ta biết rằng chưa một tập san khoa học nào của Việt Nam đạt được những chuẩn mực đó. Vì thế lời kêu gọi đó không thực tế. Người phương Tây có câu “Nếu bạn không thắng được họ, thì nên tham gia với họ” (if you cannot beat them, join them), và mượn câu nói đó, tôi nghĩ nếu chúng ta chưa có khả năng lập ra những “luật chơi” khoa học mang tính Việt Nam, chưa đủ “critical mass” (thực lực) thiết lập một tập san khoa học tầm cỡ quốc tế, thì cách hay nhất là học họ và tham gia họ bằng cách công bố các công trình nghiên cứu khoa học trên các tập san quốc tế.

    NguyễN Văn Tuấn

  15. Tuan Ngoc@ said

    Trong quán nhậu ở Việt Nam vẫn có thể có những khám phá khoa học và đăng bài ISI:

    Vietnamese buffet offers up a scientific discovery

    It may be an old menu standby to Vietnamese diners, but it’s turned into a smorgasbord of discovery for scientists.

    Researchers have identified a previously undocumented species of all-female lizard in the Mekong River delta that can reproduce itself by cloning, and the story of how it was discovered is almost as exotic as the animal itself.

    Leiolepis ngovantrii is a small lizard found only in southern Vietnam. A Vietnamese reptile scientist who came across tanks full of the remarkably similar looking reptiles at small diners in rural villages in Ba Ria-Vung Tau province became intrigued when he noticed that all of the lizards appeared to be female.

    http://nguyenvantuan.net/science/4-science/1140-kham-pha-than-lan-hiem-trong-quan-nhau

    http://eatocracy.cnn.com/2010/11/11/vietnamese-buffet-offers-up-a-scientific-discovery/?iref=allsearch

    Thế những nhiều người mang danh “khoa học” ở Việt Nam thích nghiên cứu nghệ thuật nguỵ biện, thay vì NCKH nghiêm túc:

    https://giaosudom.wordpress.com/2010/09/07/tr%C6%B0%E1%BB%9Dng/comment-page-2/#comment-1012

    Sắp tới ở Việt Nam nên mở thêm ngành “kỹ năng nguỵ biện dành cho tri thức yếu, kém – tạm gọi dỏm” là vừa.

  16. Tuan Ngoc@ said

    A good example for the so-called “(associate) professors” (mostly with incompetence) in Vietnam:

    German minister loses doctorate after plagiarism row: http://www.bbc.co.uk/news/world-europe-12566502

    German defence minister Guttenberg resigns: http://www.bbc.co.uk/news/world-europe-12608083

    German ‘plagiarism’ minister Guttenberg drops doctorate: http://www.bbc.co.uk/news/world-europe-12504347

    Bộ trưởng Quốc phòng của Đức bị tố cáo đạo văn http://nguyenvantuan.net/education/3-edu/1199-bo-truong-quoc-phong-cua-duc-bi-to-cao-dao-van

  17. Dongnghiep.VTPA said

    http://nguyenxuandien.blogspot.com/2011/03/thu-gian-chu-nhat-hich-khoa-hoc-cong.html

    Hịch Khoa học công nghệ
    Khoa học Đại Vương Trần Công Nghệ

    Ta cùng các ngươi

    Sinh ra phải thời bao cấp

    Lớn lên gặp buổi thị trường.

    Trông thấy:

    Mỹ phóng Con thoi lên vũ trụ chín tầng

    Nga lặn tàu ngầm xuống đại dương nghìn thước

    Nhật đưa rô bốt na nô vào thám hiểm lòng người

    Pháp [Xì cốt len] dùng công nghệ gen chế ra cừu nhân tạo.

    Thật khác nào:

    Đem cổ tích biến thành hiện thực

    Dùng đầu óc con người mà thay đổi thiên nhiên!

    Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa

    Chỉ giận chưa thể đuổi kịp nước Nga, vượt qua nước Mỹ, mà vẫn chỉ hơn Lào, hao hao Băng la đét.

    Dẫu cho trăm thân này phơi trên sao Hỏa, nghìn xác này bọc trong tàu ngầm nguyên tử, ta cũng cam lòng.

    Các ngươi ở cùng ta,

    Học vị đã cao, học hàm không thấp

    Ăn thì chọn cá nước, chim trời

    Mặc thì lựa May Mười, Việt Tiến

    Chức nhỏ thì ta… quy hoạch

    Lương ít thì có lộc nhiều.

    Đi bộ A tít, Cam ry

    Hàng không Elai, Xi pic.

    Vào hội thảo thì cùng nhau tranh luận

    Lúc tiệc tùng thì cùng nhau “dô dô”.

    Lại còn đãi sỹ chiêu hiền

    Giáo sư, tiến sỹ, thạc sỹ, cử nhân, ai cũng có phần, không nhiều thì ít.

    Lại còn chính sách khuyến khoa

    Doanh nghiệp, giáo viên, trí thức, nông dân nhận cúp, nhận bằng còn thêm tiền thưởng.

    Thật là so với:

    Thời Tam quốc bên Tàu, Lưu Bị đãi Khổng Minh,

    Buổi hiện đại bên Nga, Pu tin dùng Mét vê đép,

    Ta nào có kém gì?

    Thế mà, nay các ngươi:

    Nhìn khoa học chậm tiến mà không biết lo

    Thấy công nghệ thụt lùi mà không biết thẹn

    Giáo sư ư? Biết “Thần đèn” chuyển nhà mà chẳng chạnh lòng

    Tiến sỹ a? Nghe “Hai lúa” chế tạo máy bay sao không tự ái?

    Có người lấy nhậu nhẹt làm vui

    Có kẻ lấy bạc cờ làm thích

    Ham mát xa giống nghiện “u ét đê”

    Ghét ngoại ngữ như chán phòng thí nghiệm

    Chỉ lo kiếm dự án để mánh mánh mung mung

    Không thích chọn đề tài mà nghiên nghiên cứu cứu

    Ra nước ngoài toàn muốn đi chơi

    Vào hội thảo chỉ lo ngủ gật

    Bệnh háo danh lây tựa vi rút com pu tơ

    Dịch thành tích nhiễm như cúm gà H5N1

    Mua bằng giả để tiến sỹ, tiến sy

    Đạo văn người mà giáo sư, giáo sãi.

    Thử hỏi học hành như rứa, bằng cấp như rứa, thì mần răng hiểu được chuyện na niếc na nô?

    Lại còn nhân cách đến vậy, đạo đức đến vậy, thì có ham gì bút bút nghiên nghiên.

    Cho nên

    “Tạp chí hay” mà bán chẳng ai mua

    “Công nghệ tốt” mà không người áp dụng.

    Đề tài đóng gáy cứng, chữ vàng, mọt kêu trong tủ sắt

    Mô hình xây tường gạch, biển xanh, chó ị giữa đồng hoang.

    Hội nhập chi, mà ngoại ngữ khi điếc, khi câm?

    Toàn cầu chi, mà kiến thức khi mờ, khi tỏ?

    Hiện đại hóa ư? vẫn bám đít con trâu

    Công nghiệp hóa ư? toàn bán thô khoáng sản

    Biển bạc ở đâu, để Vi na shin nổi nổi chìm chìm

    Rừng vàng ở đâu, khi bô xít đen đen đỏ đỏ

    Thật là:

    Dân gần trăm triệu “ai người lớn

    Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con”!

    Nay nước ta:

    Đổi mới đã lâu, hội nhập đã sâu

    Nội lực cũng nhiều, đầu tư cũng mạnh

    Khu vực có hòa bình, nước ta càng ổn định

    Nhân tâm giàu nhiệt huyết, pháp luật rộng hành lang

    Thách thức không ít, nhưng cơ hội là vàng!

    Chỉ e:

    Bệnh háo danh không mua nổi trí khôn

    Dịch thành tích chẳng làm nên thương hiệu.

    Giỏi mánh mung không lừa nổi đối tác nước ngoài

    Tài cờ bạc không địch nổi hắc cơ quốc tế.

    Cặp chân dài mà nghiêng ngả giáo sư

    Phong bì mỏng cũng đảo điên tiến sỹ.

    Hỡi ôi,

    Biển bạc rừng vàng, mà nghìn năm vẫn mang ách đói nghèo

    Tài giỏi thông minh, mà vạn kiếp chưa thoát vòng lạc hậu.

    Nay ta bảo thật các ngươi:

    Nên lấy việc đặt mồi lửa dưới ngòi pháo làm nguy;

    Nên lấy điều để nghìn cân treo sợi tóc làm sợ

    Phải xem đói nghèo là nỗi nhục quốc gia

    Phải lấy lạc hậu là nỗi đau thời đại

    Mà lo học tập chuyên môn

    Mà lo luyện rèn nhân cách

    Xê mi na khách đến như mưa

    Vào thư viện người đông như hội

    Già mẫu mực phanh thây Gan ruột, Tôn Thất Tùng chẳng phải là to

    Trẻ xông pha mổ thịt Bổ đề, Ngô Bảo Châu chỉ là chuyện nhỏ

    Được thế thì:

    Kiếm giải thưởng “Phiu” cũng chẳng khó gì

    Đoạt Nô ben không là chuyện lạ

    Không chỉ các ngươi mở mặt mở mày, lên Lơ xút, xuống Rôn roi

    Mà dân ta cũng hưng sản, hưng tâm, vào Vi la, ra Rì sọt.

    Chẳng những tông miếu ta được hương khói nghìn thu

    Mà tổ tiên các ngươi cũng được bốn mùa thờ cúng,

    Chẳng những thân ta kiếp này thỏa chí,

    Mà đến các ngươi, trăm đời sau còn để tiếng thơm.

    Chẳng những tên tuổi ta không hề mai một,

    Mà thương hiệu các ngươi cũng sử sách lưu truyền.

    Trí tuệ Việt Nam thành danh, thành tiếng

    Đất nước Việt Nam hóa hổ, hóa rồng

    Lúc bấy giờ các ngươi không muốn nhận huân chương, phỏng có được không?

    Nay ta chọn lọc tinh hoa bốn biển năm châu hợp thành một tuyển, gọi là Chiến lược

    Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này theo lời ta dạy bảo thì suốt đời là nhà khoa học chính danh.

    Nhược bằng không tu thân tích trí, trái lời ta khuyên răn thì muôn kiếp là phường phàm phu tục tử.

    Vì:

    Lạc hậu, đói nghèo với ta là kẻ thù không đội trời chung

    Mà các ngươi cứ điềm nhiên không muốn trừ hung, không lo rửa nhục

    Chẳng khác nào quay mũi giáo mà đầu hàng, giơ tay không mà thua giặc.

    Nếu vậy rồi đây khi nước Việt hóa hổ, hóa rồng, ta cùng các ngươi há còn mặt mũi nào đứng trong trời đất này nữa?

    Cho nên mới thảo Hịch này

    Xa gần nghiên cứu

    Trên dưới đều theo!

  18. Tuan Ngoc@ said

    Các tiến sĩ (chắc dỏm) nên cẩn thận, để lộ cái ngu thế này thì thật là đau cho nền giáo dục của Việt Nam:

    “Trong nghiên cứu khoa học, ai cũng biết một luật bất thành văn là luận án TS không thể nào trích dẫn, tham khảo tài liệu ở những công trình có học vị thấp hơn.” một chuyên gia (dỏm hay ngu?) về giáo dục sau ĐH nhận định.

    “Nguyên tắc nghiên cứu khoa học, khi đã sử dụng dù chỉ một từ vẫn phải có trích dẫn chữ dùng của ai.” Tiến sĩ (dỏm hay ngu?) Trần Thị Mai Nhân, giảng viên Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn TPHCM

    http://nguyenvantuan.net/english/1249-trich-dan-va-dao-van

    Trình độ dỏm thì nổ đến đâu là hỏng đến đó. Dỏm mà nếu có đức thì cũng đở khổ, nhưng đa số dỏm thì kèm theo là thất đức, TS dỏm Vũ Thị Phương Anh của ĐHQG TPHCM là một ví dụ điển hình, https://giaosudom.wordpress.com/2010/09/07/tr%C6%B0%E1%BB%9Dng/comment-page-5/#comment-2182.

    • Onlooker said

      Tôi phát hiện một giáo sư dỏm về khảo cổ học. Ông tên là Nguyễn Lân Cường.

      http://www.vtc.vn/2-284185/xa-hoi/giai-ma-ky-tu-bi-hiem-trong-mo-co-nghin-nam-o-ha-noi.htm

      Trong bài, ông viết “Dẫu sao, ý kiến của tôi vẫn chỉ là giả thiết, mong sao được các nhà nghiên cứu cùng thảo luận, chỉ giáo”.

      Ông “giáo sư” này không phân biệt được giả thiết (assumption) và giả thuyết (hypothesis). Ông ta muốn nói đến giả thuyết chứ không phải giả thiết. Một “giáo sư” mà sai lầm cơ bản như vậy thì rõ ràng là giáo sư dỏm rồi. Sao mấy giáo sư lên báo toàn là dỏm không vậy trời?

    • vuhuy said

      Bác Onlooker ơi! Bác kêu trời nghe thãm thế! Không hẳn là dỏm hết đâu bác ơi. Chừng 10 thì có khoảng 8 – 9 dỏm “thôi”. Đó là dấu hiệu “xế chiều” của khoa học và giáo dục nước “lạ”.

      Ấy thế mà có một em cử nhơn lên đây kiêu gọi JIPV hãy lo hưởng thụ đi! https://giaosudom.wordpress.com/2010/09/07/tr%C6%B0%E1%BB%9Dng/comment-page-6/#comment-3112 Sự xuống cấp trầm trọng về đạo dức, trách nhiệm xã hội của những con gối mang danh trí thức (phải là tri ngũ, tri ngu, tri muội)

      Đây là Phòng giáo dục thường xuyên dành cho các dỏm và học trò. Hy vọng ngày mai trời lại sáng 😉

  19. Tuan Ngoc@ said

    Một kẻ phản quốc đang ngầm hoạt động phá hoại khoa học Việt Nam tại Đại Học Ngoại Thương Hà Nội, mượn danh là một sinh viên. Đề nghị mọi người cảnh giác.

    https://giaosudom.wordpress.com/2010/08/11/pgs-r%E1%BA%A5t-d%E1%BB%8Fm-nguy%E1%BB%85n-dinh-th%E1%BB%8D/comment-page-1/#comment-3321

  20. Tuan Ngoc@ said

    Đại dịch PGS-TS-BS

    Entry này có một tựa đề hơi bí hiểm. Nhưng những ai làm trong nghề y đều biết đó là viết tắt của Phó giáo sư – Tiến sĩ – Bác sĩ. Chỉ có ở nước Nam. Chỉ có ở nước Nam dưới thời XHCN. Nó là biểu hiện của căn bệnh mới phát sinh trong ngành y. Đó là bệnh hám danh. Bệnh hám danh đang làm tan nát hệ thống y khoa và đang biến hóa thành một đại dịch nguy hiểm cho người bệnh.

    Có mấy ai còn nhớ đến thầy Phạm Biểu Tâm, thầy Trần Ngọc Ninh? Thầy Phạm Biểu Tâm có sống lại bây giờ không thể là hiệu trưởng trường y. Thầy Trần Ngọc Ninh có ở Việt Nam giờ này cũng không bao giờ thành khoa trưởng, chứ nói gì đến chức danh giáo sư. Cả hai thầy đều không có bằng tiến sĩ. Cái bằng tiến sĩ ngày nay ở đất nước này là một cái bùa hộ mệnh. Nó cũng là cái vé xe cho những chuyến xe đò thăng quan tiến chức. Nó là cái boarding pass cho những phi vụ làm trưởng khoa, làm hiệu trưởng trường y. Đó là luật chơi mới do những người cách mạng đặt ra. Người cách mạng không nhất thiết phải là người trong y giới, cũng chẳng cần làm khoa học. Ở đất nước này, chính trị thống lĩnh tất cả. Làm cách mạng là làm chính trị. Bởi vậy, người cách mạng chẳng cần phải có tấm bằng bác sĩ để đặt ra luật chơi mới cho ngành y. Họ đang hủy hoại nền y học.

    Tuần rồi đi dự một hội thảo chuyên đề và gặp một anh bạn đồng môn trên bàn cà phê. “Ủa, ông chưa tiến sĩ hả? Sao không làm một cái”? Anh bạn tôi hỏi. Tôi ngạc nhiên về chuyện làm một cái. Tiến sĩ là một cái gì như đồ chơi. Tôi lắc đầu. Mình đã già. Mình không có khả năng làm nghiên cứu. Cũng chẳng có thầy đỡ đầu. Anh bạn tôi cười lớn nói: Ông mà già gì, đâu cần khả năng làm nghiên cứu, cũng không cần thầy hướng dẫn, chỉ cần bỏ tiền ra mua thôi. Tôi cám ơn tấm lòng của bạn cũ và vẫn thấy mình vui với việc giúp người mà không có những râu ria trước tên mình. Bạn cũ tôi bây giờ là một PGS-TS-BS.

    TS-BS bây giờ nhan nhản trong các bệnh viện. Thử dạo một vòng các phòng trong bệnh viện ngoài Hà Nội, sẽ thấy trước cửa phòng ai cũng có danh xưng TS-BS in ngay chính giữa cửa phòng. Bảng hiệu đó cho chúng ta biết người đang ngự trị hoặc chiếm lĩnh căn phòng là một bác sĩ và có bằng tiến sĩ. Bằng tiến sĩ là học vị cao nhất trong thế giới khoa bảng. Tôi không có con số thống kê để nói, nhưng tôi cảm thấy số bác sĩ có danh hiệu TS-BS nhiều hơn bác sĩ trong các bệnh viện Hà Nội. Sài Gòn đang đuổi theo Hà Nội, sắp đến đích nay mai. Với đà này, một ngày không xa bệnh nhân sẽ không còn gặp bác sĩ nữa, họ chỉ gặp TS-BS.

    PGS-TS-BS xuất hiện ngày càng dày đặt trong các hội thảo. Nhìn lên bàn chủ tọa chúng ta thấy gì? Có hoa tươi. Có chai nước lọc. Có laptop. Có microphone. Và, có tấm bảng nền trắng chữ đen in những từ viết tắt như PGS-TS-BS. Hoa tươi để làm màu mè. Chai nước lọc vì trí thức không quen uống nước máy sợ nhiễm khuẩn. Laptop để nói rằng ta đây có trình độ IT. Microphone để truyền bá lời vàng ý ngọc. Danh hiệu PGS-TS-BS để khoe thành tựu miệt mài làm khoa học. Một bức tranh đầy hoa sắc, màu mè. Có phần phần cứng (IT, microphone) lẫn phần mềm (hoa, trí lực, bằng cấp).

    Danh và thực lúc nào cũng là hai khía cạnh nhức nhối trong y giới. Bao nhiêu tiến sĩ của nước ta là do thực tài, bao nhiêu là giả, dỏm. Không ai biết được, nhưng xã hội biết. Xã hội đã từ lâu phong danh tước “tiến sĩ giấy” cho những kẻ bất tài, hám danh, mua quan bán tước. Cụm từ “Tiến sĩ giấy” ngày càng xuất hiện nhiều trên báo chí, trong những câu chuyện thường ngày. Tức là xã hội biết rằng ngày nay chúng ta có nhiều tiến sĩ dỏm hơn là tiến sĩ thực.

    Dỏm có nghĩa là những bằng cấp được mua bán, tiền trao cháo múc. Anh bạn tôi vừa đề cập trên đây không ngần ngại nói rằng để có cái bằng tiến sĩ, anh phải chi ra nhiều tiền. Hỏi bao nhiêu, anh chỉ cười. Nhưng xã hội biết. Những cái giá 5.000 USD, 10.000 USD, 20.000 USD đã được đề cập đến. 100 triệu đồng. 200 trăm triệu đồng. 400 triệu đồng. Có khi 500 triệu. Có nhiều lò sản xuất văn bằng tiến sĩ và mỗi lò có biểu giá riêng. Quân y nổi tiếng là một trong những lò đào tạo đắt tiền. Các trường y thì rẻ hơn nhưng không rẻ bao nhiêu. Nhiều đồng nghiệp tôi mua bằng như thế. Đó là những con số chóng mặt cho bệnh nhân nghèo. Ai trả tiền? Xin thưa không phải bác sĩ, mà là bệnh nhân. Họ sẽ ăn tiền các hãng dược. Hãng dược nâng giá thuốc. Bệnh nhân là người cuối cùng trong vòng tròn này. Bệnh nhân lãnh đủ. Vì thế, mua bán bằng cấp là một trong những yếu tố làm cho giá thuốc cao đến mức “cắt cổ” như ở nước ta.

    Những kẻ hám danh và bất tài xem chuyện mua bằng tiến sĩ là một đầu tư. Họ có thể chi ra vài trăm triệu hôm nay, nhưng nay mai thì sẽ được chức quyền. Trường khoa. Giám đốc bệnh viện. Hiệu trưởng. Tất cả đều mua, đều chạy. Một khi đã ngồi vào vị trí quyền lực, họ ra sức vơ vét tiền của người dân để trả lại chi phí mua bằng, mua chức vụ. Người dân cũng chính là đối tượng sau cùng trong đường dây này. Đừng trách tại sao dân mình nghèo vẫn hoàn nghèo. Cái cơ chế này làm cho họ nghèo. Đã nghèo thì thường chịu phận hèn. Cái cơ chế này làm cho người dân vừa nghèo và vừa hèn.

    Dỏm có nghĩa là làm nghiên cứu ma, giả tạo số liệu. Báo chí đã nêu nhiều vấn đề đạo văn. Nhưng báo chí không hề biết những chuyện động trời hơn đạo văn. Đó là chuyện giả tạo số liệu. Những tiến sĩ dỏm chẳng bao giờ làm nghiên cứu cho tốn công. Họ chỉ ngồi đâu đó giả tạo ra số liệu. Có người làm nghiên cứu nghiêm túc, nhưng khi kết quả không đúng ý, họ sửa số liệu. Chẳng ai hay biết. Thầy cô hướng dẫn chỉ là những người mù vì bất tài, hoặc giả mù vì họ đã ăn tiền. Giả tạo số liệu xong, họ mướn một người nào đó làm phân tích thống kê. Giá phân tích cũng không rẻ chút nào, từ 500 USD đến 2000 USD. Có cậu nọ nay làm chức cao trong trường y từng làm phân tích mướn như thế. Chẳng cần biết đúng sai vì chính người làm mướn cũng mù mờ mà cũng chẳng quan tâm. Phân tích xong, họ mướn người viết luận án. Giá viết cũng từ 500 USD đến 2000 USD. Người viết chỉ cần có bằng cử nhân cũng viết được. “Viết” ở đây có nghĩa là cắt và dán. Hỏi google, dịch, cắt, dán. Vâng, luận án là dịch-cắt-dán. Thế là xong luận án. Thầy dỏm thì làm sao biết được đó là luận án thật hay dỏm. Có thể nói rằng đại đa số những nghiên cứu khoa học ở nước ta hiện nay đều làm theo quy trình như thế. Không có đạo đức khoa học. Không có tinh thần khoa học. Đừng nói đến văn hóa khoa học. Đọc những lời tâm huyết có khi mang tính hô hào của Gs Tuấn về nghiên cứu khoa học mà tôi thấy tội nghiệp cho ông. Ông đâu biết rằng ở trong nước người ta đâu có quan tâm đến nghiên cứu, những lời ông nói ra chỉ là nước đổ đầu vị mà thôi, chẳng ai nghe đâu.

    Dỏm có nghĩa là làm nghiên cứu chất lượng còn thấp hơn luận văn cử nhân của các thầy trước 1975. Nếu có dịp đọc những luận án tiến sĩ của các bác sĩ, người có kiến thức không biết nên cười hay nên khóc. Cười vì những đề tài nghiên cứu như là đề tài của sinh viên học làm nghiên cứu. Khóc vì trình độ thấp đến mức thê thảm. Những đề tài nghiên cứu kinh điển mà thế giới đã làm từ ngày tôi còn ngồi trong trường y cũng được biến hóa thành đề tài tiến sĩ. Có đề tài đánh giá phẫu thuật nội soi mà người đánh giá cũng chính là người thực hiện. Không có cái gì là mới. Không có cái gì để gọi là khoa học. Số liệu đã giả thì làm sao có kết quả thật được.

    Còn luận án thì thế nào? Cũng công thức nhập đề – thân bài – kết luận như ai. Nhưng đọc kỹ thì không khỏi phì cười. Phần nhập đề thí sinh hay nói đúng hơn là người viết mướn tha hồ dịch-cắt-dán từ các nguồn trên internet, có khi đem cả kiến thức từ sách giáo khoa thế kỷ 19, những mớ thông tin chẳng liên quan gì đến đề tài. Dân gia có câu “nói dai, nói dài, nói dở” thật là thích hợp cho luận án tiến sĩ. Phần phương pháp thì chẳng có gì để đọc, vì họ chủ yếu là ngụy tạo. Ngụy tạo số liệu thì làm sao dám viết chi tiết phương pháp được. Vả lại, người viết mướn cũng đâu có trình độ chuyên môn để đi chuyên sâu vào phương pháp. Đến phần kết quả là khôi hài nhất. Một chuỗi bảng số liệu. Một chuỗi đồ thị. Điều khôi hài là đồ thị làm từ bảng số liệu. Hai cách trình bày một thông tin! Chưa hết, thí sinh còn bồi thêm câu diễn giải dưới bảng số hay đồ thị. Tức là 3 cách trình bày chỉ nói lên một thông tin. Người ta cần số trang sao cho đủ nên phải làm như thế. Thừa thải? Không thành vấn đề. Vấn đề là làm cho đủ số trang theo quy định của Bộ. Sai sót? Đây đâu phải là công trình khoa học mà quan tâm đến sai sót. Đến phần bàn luận là một tràng từ ngữ bay múa, những ý tưởng hỗn độn, chẳng đâu vào đâu. Những gì Gs Tuấn chỉ cách viết bài báo khoa học không áp dụng ở đây. Không cần đến logic luận. Nó y như là cái thùng lẩu thập cẩm. Có lẽ vài bạn đọc chưa quen sẽ nói tôi cường điệu hóa vấn đề. Các bạn hãy vào thư viện trường y mà đọc xem các luận án tiến sĩ có xứng đáng cái danh xưng cao quý đó hay không. Người ta xem đó là những “luận án tiến sĩ” có mã số, có bìa đỏ, được lưu giữ cẩn thận. Nhưng tôi xem đó là những chứng cứ hùng hồn nhất cho một thời đại nhiễu nhương trong học thuật. Những kẻ đã, đang và sẽ có bằng tiến sĩ từ những cách học dỏm đó sẽ đi vào lịch sử nước nhà như là những tiến sĩ giấy, những con vi khuẩn làm ô uế nền học thuật nước nhà.

    Dỏm có nghĩa là người thầy hướng dẫn cũng dỏm. Sự suy thoái của giáo dục y khoa là một chu kỳ bắt đầu từ người thầy. Sự suy đồi của người thầy bắt đầu từ những ông quan cách mạng. Dưới mắt của quan cách mạng, hồng quan trọng hơn chuyên, đảng viên quan trọng hơn người ngoài đảng. Vì thế chúng ta không ngạc nhiên sau 1975 có những vị mang danh “giáo sư” mà kiến thức còn thua cả bác sĩ gia đình, chúng ta không ngạc nhiên khi thấy có “giáo sư” đi tuyên truyền cho xuyên tâm liên trị bá bệnh, bo bo bổ dưỡng hơn gạo. Ngày nay, kẻ bất tài nhưng có đảng tịch thì vẫn được cất nhắc làm thầy, được “tạo điều kiện” làm tiến sĩ. Có người được “cơ cấu” (một danh từ mới) chức trưởng khoa, giám đốc bệnh viện rồi, “tổ chức” (cũng là một từ mới) sẽ tìm cho họ cái bằng tiến sĩ. Bằn tiếng sĩ vừa là phương tiện, vừa là cứu cánh trong cái nền học thuật nhếch nhác hiện nay. Bằng tiến sĩ nó tầm thường đến nỗi người ta nhạo báng ra đường gặp tiến sĩ. Nó rẻ tiền vì chúng ta biết rằng bằng tiến sĩ của Việt Nam chỉ là bằng dỏm, không bao giờ xứng đáng với danh vị đó. Thế là chúng ta có thầy dỏm. Thầy dỏm đào tạo ra trò dỏm. Trò dỏm đào tạo tiếp trò dỏm. Sẽ không lâu chúng ta sẽ có nhiều thế hệ tiến sĩ dỏm, giáo sư dỏm. Và chúng ta sẽ phải trả giá cho những cái dỏm đó. Thực ra, bệnh nhâm đang trả giá cho cái dỏm.

    Cái giá mà bệnh nhân phải trả cho hệ thống y khoa hám danh này là cái chết. Nhiệm vụ của người bác sĩ lâm sàng trước hết là chữa trị bệnh nhân. Nhiệm vụ đó đòi hỏi kỹ năng lâm sàng tốt. Ngoài ra, còn có sự cảm thông, chia sẻ với bệnh nhân. Nhưng bác sĩ hám danh ngày nay chỉ chạy theo bằng cấp dỏm, làm nghiên cứu dỏm, gây tác hại cho bệnh nhân. Họ không trao dồi kỹ năng lâm sàng. Họ không có thì giờ để đọc sách. Họ thừa thì giờ đi nhậu để làm “ngoại giao”. Thiếu kiến thức lâm sàng. Chẩn đoán sai. Làm xét nghiệm không cần thiết. Đối diện với bệnh nhân thì chỉ hách dịch ra lệnh chứ không biết nói. Hậu quả là chẩn đoán sai, điều trị sai, bệnh nhân chết. Nếu còn sống thì gặp biến chứng, hoặc thương tật suốt đời. Dỏm trong các ngành khác như khoa học xã hội thì có thể không gây tác hại nguy hiểm, nhưng dỏm trong y khoa thì hậu quả khôn lường. Rất tiếc là các quan cách mạng không nhìn thấy hay không nhìn thấy điều hiển nhiên đó để cho sự hám danh và dỏm lên ngôi. Họ phải chịu trách nhiệm trước lịch sử nước nhà.

    Bệnh hám danh trong y giới ngày nay đã trở thành đại dịch. Có lần trong một hội thảo chuyên môn, một anh kia tên là D, học y trước 1975 nhưng ra trường sau 1975, thuộc thành phần răng đen mã tấu – “cách mạng 75″ như người Sài Gòn vẫn nói, được người ta giới thiệu anh ta là TS, nhưng khi anh ta lên bục giảng câu đầu tiên anh ta nói là chỉnh người giới thiệu, rằng chức danh của anh ta bây giờ là PGS. Chính xác hơn là PGS-TS-BS. Cả hội trường có phần sững sờ trước sự khoe khoang hợm hĩnh. Tôi cũng ngạc nhiên khi biết anh ta có bằng tiến sĩ và càng sững sờ khi biết anh ta là PGS. Hỏi đồng nghiệp làm cùng bệnh viện với anh ta, ai cũng cười. Đã có nhiều bệnh nhân thành nạn nhân của anh ta. Thế là biết. Tất cả chỉ là mua bán. Thế mới biết cái cơ chế có khả năng nhào nặn một con người có tư cách thành một kẻ háu danh hợm hĩnh. Và chỉ trong một thời gian ngắn. Nhưng trường hợp của anh D chỉ là một hạt cát trong sa mạc y giới. Ngày nay có hàng chục ngàn người như thế. Nó đã thành một đại dịch. Dịch hám danh. Dịch hám bằng cấp. Đại dịch hám danh và hám bằng cấp còn nguy hiểm đến bệnh nhân hơn các đại dịch H1N1 nhiều.

    Đại dịch hám danh không chỉ trong y giới mà còn lan tràn ra các địa hạt khác ngoài xã hội. Ai cũng cố gắng tạo cho mình một cái danh xưng trước tên. Ngày nào xã hội biết đến bác sĩ, kỹ sư, tiến sĩ, thạc sĩ, giáo sư … nhưng ngày nay người ta còn gắn CN và Master trước tên mình. CN là cử nhân. Master là cao học. Chưa bao giờ tôi thấy một sự háu danh quái đản như hiện nay. Trong y giới, người ta còn gắn thêm TS-BS, hoặc PGS-TS-BS. Nếu có danh xưng gì khác như thầy thuốc nhân dân, thầy thuốc ưu tú, người ta cũng gắn vào luôn. Nếu một người nông dân không có bằng cử nhân thì họ được gọi là gì. Không là gì cả. Do đó, đại dịch dịch hám danh nó phân chia xã hội thành những người có và những người không có. Nó dẫn đến nạn kỳ thị. Kẻ có danh xem thường người không có danh. Vì thế người ta phải chạy theo danh, phải mua danh bán tước. Đại dịch hám danh tạo ra một thị trường mua bán tước danh, bằng cấp. Từ cấp trung ương đến địa phương, hiện tượng mua bán bằng cấp xảy ra hàng ngày. Mua bán tước danh và bằng cấp là hành động xem thường kỷ cương phép tắt trong học thuật. Vì thế dịch hám danh không chỉ làm phân hóa, kỳ thị xã hội, mà còn làm hủy hoại nền học thuật quốc gia.

    Sau khi gặp bạn tôi gặp trong hội thảo tuần qua làm tôi có cảm hứng viết entry này tôi lên taxi về nhà. Trên đường về nhà bị kẹt xe, anh tài xế phải vất vả nhích từng cm. Mưa càng lúc càng nặng hạt. Đường xá ngập nước như trong cơn bão lụt. Ngay giữa thành phố có thời mang danh Hòn ngọc viễn đông. Anh tài xế cùng độ tuổi tôi lắc đầu ngao ngán. Anh nhìn tôi ái ngại vì quá trễ giờ. Chúng tôi nói chuyện đời. Anh chỉ vào con đường ngập nước và nói họ đang phá nát thành phố này. Tôi đồng ý. Nhưng tôi muốn thêm rằng họ cũng đang hủy hoại nền học thuật nước nhà bằng cách tạo ra một đại dịch PGS-TS-BS.

    http://bsngoc.wordpress.com/2011/05/22/d%E1%BA%A1i-d%E1%BB%8Bch-pgs-ts-bs/
    =========================================

    Dịch PGS-TS-BS là xưa rồi bác Ngọc! Đã và đang là dịch huân & huy chưởng, cũng như dịch chụp hình lên béo.

    http://nguyenxuandien.blogspot.com/2011/05/tin-vui-ve-ong-nguyen-thien-nhan.html

  21. longtong said

    BÚT KÝ CỦA GS NGUYỄN ĐĂNG HƯNG – Phần 1: Bút ký viết về sự lãng phí chất xám tại Việt Nam đã hơn 20 năm mà vẫn còn là thời sự.

    http://www.ndanghung.com/bai-viet/2010/09/06/but-ky-viet-ve-su-lang-phi-chat-xam-tai-viet-nam-da-hon-20-nam-ma-van-con-la-thoi-su.html/#more-1265
    ———————-
    JIPV@: For each memoir, posting a link to it and its title should be enough. Thanks 🙂

  22. longtong said

    BÚT KÝ CỦA GS NGUYỄN ĐĂNG HƯNG – Phần 4

    http://www.ndanghung.com/bai-viet/2011/06/02/but-ky-cua-gs-nguyen-dang-hung-phan-4.html/

  23. Tuan Ngoc@ said

    Bằng “thạc sĩ” giá 18 triệu đồng

    TT – Nhiều người rao bán: “Nhận làm bằng tiến sĩ, thạc sĩ giống thật 100%, có bảng điểm trường ĐH, nhận bằng xong giao đủ tiền, bao công chứng…”. PV Tuổi Trẻ đã lần theo nhiều đường dây mua bán bằng giả này.

    http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Phong-su-Ky-su/444086/Bang-%E2%80%9Cthac-si%E2%80%9D-gia-18-trieu-dong.html

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: