Tạp Chí GS Dỏm Việt Nam

Journal of Incompetent Professors in Vietnam – JIPV

Viện nghiên cứu tiêu chuẩn Dỏm

Saola Pseudoryx nghetinhensis Thể loại:Sách đỏ...

Image via Wikipedia

* Viện Trưởng: Third Managing Editor.

* Mục đích: “Viện nghiên cứu tiêu chuẩn Dỏm – Kém – Yếu cho PGS – GS” là cơ sở nghiên cứu cao cấp của JIPV nhằm tìm ra những tiêu chuẩn phù hợp nhất cho các chức danh GS(PGS) Dỏm – Kém – Yếu ở Việt Nam.

************************************************************************************************************************
Trước ngày 13 tháng 5 năm 2010:

Tiêu chuẩn cho một:

– (Phó) giáo sư có năng lực nghiên cứu khoa học rất dỏm: số lượng công bố ISI = 0.

– (Phó) giáo sư có năng lực nghiên cứu khoa học dỏm: số lượng công bố ISI <= (3) 5.

– (Phó) giáo sư có năng lực nghiên cứu khoa học kém: số lượng công bố ISI <= (5) 7.

– (Phó) giáo sư có năng lực nghiên cứu khoa học yếu: số lượng công bố ISI <= (7) 9.

Tham khảo: tiêu chuẩn một luận án tiến sĩ chất lượng (một tiến sĩ khá có ít nhất 3 bài ISI sau 5 năm nghiên cứu, sau khi bảo vệ luận án), tiêu chuẩn của một sau tiến sĩ chất lượng (một sau tiến sĩ khá có ít nhất 5 bài ISI sau 7 năm nghiên cứu, sau khi bảo vệ luận án), tiêu chuẩn GS, PGS của các nước trong khu vực. Như vậy chúng tôi muốn so sánh cả cuộc đời (ít nhất là ngay thời điểm so sánh) làm khoa học của GS, PGS nước ta với các tiến sĩ, sau tiến sĩ có chất lượng làm việc trong 5-7 năm, khi chúng tôi xét một ứng viên cho các chức danh rất dỏm, dỏm, kém, yếu.

Những GS, PGS sau không thuộc diện xét danh hiệu có năng lực nghiên cứu khoa học rất dỏm, dỏm, kém, yếu:

1.1. có bài ISI thuộc top 10 trong chuyên ngành, không kể số lượng,

1.2. có những kết quả (không phân biệt: articles, proceedings, technical reports,…) có tiếng vang trong chuyên ngành, thể hiện trên wiki tiếng anh, chỉ số trích dẫn, đánh giá tích cực của các chuyên gia trên thế giới.

===============================================================

Sau ngày 13 tháng 5 năm 2010:

Tiêu chuẩn phong:

(Phó) giáo sư có năng lực nghiên cứu khoa học rất dỏm: số lượng công bố ISI = 0.

(Phó) giáo sư có năng lực nghiên cứu khoa học dỏm: số lượng công bố ISI <= (3) 5.

(Phó) giáo sư có năng lực nghiên cứu khoa học kém: số lượng công bố ISI <= (4) 7.

(Phó) giáo sư có năng lực nghiên cứu khoa học yếu: số lượng công bố ISI <= (5) 9.

Đối với KHXH: PGS, GS có 0 bài ISI ghi địa chỉ Việt Nam = có năng lực nghiên cứu khoa học rất dỏm (việc xem xét cũng ưu tiên cho các trường hợp thật “hot” = đang phá hoại nền giáo dục của đất nước = lợi dụng báo chí để chống đối khoa học chân chính).

Thông tin tham khảo:

* Tiêu chuẩn một tiến sĩ chất lượng: một tiến sĩ khá có ít nhất 3 bài ISI sau 5 năm nghiên cứu

*Tiêu chuẩn của một sau tiến sĩ chất lượng: một sau tiến sĩ khá có ít nhất 5 bài ISI sau 7 năm nghiên cứu

*Tiêu chuẩn GS, PGS của các nước trong khu vực.

*Điều kiện lịch sử, đặc thù xã hội ở Việt Nam

Journal of Incompetent Professors in Vietnam (JIPV) đưa ra một tiêu chuẩn riêng để xét năng lực làm khoa học cả cuộc đời (hoặc ít nhất là ngay thời điểm so sánh) của các GS, PGS nước ta.

Theo JIPV, một PGS không thuộc diện xét nếu chỉ cần có năng lực tương đương với một anh sau tiến sĩ sau 7 năm nghiên cứu. Và để “bị loại” khỏi việc phong hàm GS của JIPV, một anh GS phải có năng lực khoa học gấp đôi một anh sau tiến sĩ sau 7 năm nghiên cứu (vì thời gian làm khoa học dài hơn rất nhiều, và thường được nhà nước trợ cấp không ít qua các đề tài nghiên cứu).

Tất cả những anh PGS và GS dưới chuẩn này sẽ thuộc diện phong hàm của JIPV với chất lượng từ năng lực nghiên cứu khoa học RẤT DỎM đến DỎM, KÉM và YẾU theo tiêu chuẩn đã công bố như trên.

Những GS, PGS sau không thuộc diện xét danh hiệu rất dỏm, dỏm, kém, yếu:

1.1. Là main authors của bài ISI thuộc top 10 trong chuyên ngành hẹp (theo xếp hạng mới nhất của Web of Science), không kể số lượng,

1.2. Có những kết quả (không phân biệt: articles, proceedings, technical reports,…) có tiếng vang trong chuyên ngành, thể hiện trên wiki tiếng anh, chỉ số trích dẫn, đánh giá tích cực của các chuyên gia trên thế giới.

1.3. Đối với KHXH, là main author của ít nhất 01 ISI paper ghi địa chỉ Việt Nam.

Lưu ý:

1/ Nhằm thuận tiện, danh hiệu “GS, PGS có năng lực nghiên cứu khoa học RẤT DỎM, DỎM, KÉM, YẾU” được viêt ngắn gọn “GS, PGS RẤT DỎM, DỎM, KÉM, YẾU”.

2/ Mặc dù Phó Thủ Tướng đề nghị xét GS, PGS phải phù hợp với thông lệ quốc tế nhưng JIPV quyết định chưa áp dụng thông lệ quốc tế khi xét dỏm.

3/ Điểm mới: Tiêu chuẩn cho PGS có giảm, các ngành Khoa Học Xã Hội bắt đầu được xét. JIPV có tính đến cấp của GS, PGS có năng lực nghiên cứu khoa học dỏm (tương ứng số bài ISI).

Quy trình đánh giá dỏm:

  1. Bước 1: Xét 1.1, 1.2, 1.3.  Nếu ứng viên không đạt thì sang bước 2.
  2. Bước 2: Dùng số bài ISI để đánh giá như đã nêu.

===============================

Theo tiêu chuẩn trên thì JIPV

1/ KHÔNG so sánh GS, PGS Việt Nam với GS, PGS quốc tế; chỉ so sánh họ với TS, posdoc;

2/ KHÔNG xem ISI là thông tin đầu tiên để xét dỏm, kém, yếu;

3/ KHÔNG tố GS, PGS dỏm chạy học hàm (danh hiệu) GS, PGS.

24 phản hồi to “Viện nghiên cứu tiêu chuẩn Dỏm”

  1. […] https://giaosudom.wordpress.com/vi%E1%BB%87n-nghien-c%E1%BB%A9u-tieu-chu%E1%BA%A9n-d%E1%BB%8Fm-kem-y%… Trả lời […]

  2. […] * Ứng viên đã được JIPV mời tham gia public review. Quy trình phản biện: Đúng quy định của JIPV, có thể tham khảo một ví dụ, và xem tiêu chuẩn dỏm. […]

  3. […] * Ứng viên đã được JIPV mời tham gia public review. Quy trình phản biện: Đúng quy định của JIPV, có thể tham khảo một ví dụ, và xem tiêu chuẩn dỏm. […]

  4. […] * Ứng viên đã được JIPV mời tham gia public review. Quy trình phản biện: Đúng quy định của JIPV, có thể tham khảo một ví dụ, và xem tiêu chuẩn dỏm. […]

  5. giaosudom said

    Đang xem xét:

    https://giaosudom.wordpress.com/2010/09/07/tr%C6%B0%E1%BB%9Dng/comment-page-4/#comment-1764

  6. […] * Ứng viên đã được JIPV mời tham gia public review. Quy trình phản biện: Đúng quy định của JIPV, có thể tham khảo một ví dụ, và xem tiêu chuẩn dỏm. […]

  7. Ly Cao Hoc said

    https://giaosudom.wordpress.com/2010/10/15/l%C6%B0u-tr%E1%BB%AF-comments-posted-khong-dung-ch%E1%BB%95/

  8. Lam Son said

    đề xuất Giáo sư dỏm Ngô Bảo Châu, chỉ có 4 bài trên ISI

  9. nguyen thanh cong said

    Xin cho biết GSTS Nguyễn Minh Hiển – nguyên BT bộ GDĐT có được phong GS Dỏm không ? vì nghe đâu vị này cũng có tai tiếng sau khi rời chức vụ BT ! ?
    Mong các Bác cho biết cụ thể .

  10. Đồ Gàn said

    Nguyên bộ trưởng Giáo dục Nguyễn Minh Hiển cũng là một GSTS rất dỏm. Chính vì thế cho nên Việt Nam mới có một nền giáo dục tuột dốc không phanh (rơi thẳng đứng) như hiện nay.

  11. Chuyên Cần said

    đại GS TS Nguyễn Thiện Nhân thì sao nhể

  12. Fillzu said

    Tôi cũng là một trong những người làm công tác nghiên cứu khoa học, khi đọc những dòng chữ của ISI với những “trăn trở quằn qoại” về thực trạng nền khoa học nướcnhà, không khỏi khiến tim tôi nhức nhối. Quả thực tôi không dám phủ nhận đó không phải là hiện thực. Đó là một góc nhìn trực diện, nó không sai, nhưng khi nhìn nhận vấn đề nào đó và để đi đến một kết luận chính xác thì cần phải đứng ra xa hơn một chút để bạn không chỉ phán xét cái bản chất thực tại chỉ trong một góc nhìn.

    Chúng ta vẫn biết rằng người Việt chúng ta có cách tư duy khoa học không hề kém bất kỳ một công dân của một quốc gia nào. Những trí thức của chúng ta cũng như các nhà khoa học mà ISI coi là “rất dỏm, dỏm…” và cả tôi nữa đang bước những bước chập chững trên con đường khoa học đầy trông gai dưới một chế độ XHCN ViệtNam chưa rõ hình hài. Chúng tôi không thể đứng ngoài những định chế, những khuôn khổ và guồng quay của chế độ… chúng tôi không thể không bị ảnh hưởng bởi điều kiện và môi trường xã hội mà chúng tôi đang hoạt động… Chúng tôi cũng rất khao khát đi tìm tòi chân lý – cái hiện thực, nhưng những điều trái ngược với hiện thực – chân lý lại ngày càng trở nên phổ biến và bao quát hơn… Chúng tôi thật khó mà đứng vững bằng đôi chân của một nhà khoa học chân chính… Nhưng chúng tôi luôn không ngừng gắng gượng trên đôi chân của mình trước những bối cảnh của thực tại… Tôi tin ISI là một trong những công cụ giúp đỡ, hỗ trợ chúng tôi không chỉ bằng cái gậy một hướng chỉ trực vào thẳng mạng sườn của chúng tôi, mà là bằng một cái gậy biết biến hóa đa chiều…

  13. T L said

    Sao k xét luôn danh hiệu Tiến sĩ dỏm, tôi thấy có rất nhiều tại các trường đại học, bộ máy nhà nước…..???

  14. VNS said

    Theo tôi trong ngành Khoa học máy tính và các lĩnh vực liên quan đến máy tính và CNTT (Computer Science and Engineer, CSE) thì dùng ISI Web of Science để đánh giá một researcher sẽ không cho kết quả chính xác.
    Bởi vì trong ngành CSE một số lượng lớn công trình nghiên cứu được xuất bản ở các kỷ yếu hội thảo (conference proceedings).
    Trong ngành CSE, các hội thảo đỉnh cao thường khó hơn là các journal đỉnh cao, có nhiều bằng chứng cho việc này, ví dụ :
    http://www.cs.washington.edu/homes/mernst/advice/conferences-vs-journals.html :
    Conferences have higher quality. Acceptance rates to good conferences are often around 10% (at least in software engineering, which is my field), whereas even the best journals are less selective.

    http://www.cra.org/resources/bp-view/evaluating_computer_scientists_and_engineers_for_promotion_and_tenure/
    Relying on journal publications as the sole demonstration of scholarly achievement, especially counting such publications to determine whether they exceed a prescribed threshold, ignores significant evidence of accomplishment in computer science and engineering. For example, conference publication is preferred in the field, and computational artifacts —software, chips, etc. —are a tangible means of conveying ideas and insight. Obligating faculty to be evaluated by this traditional standard handicaps their careers, and indirectly harms the field.

    http://cacm.acm.org/magazines/2009/5/24632-conferences-vs-journals-in-computing-research/fulltext
    What I’m referring to is the way we go about publishing our research results. As far as I know, we are the only scientific community that considers conference publication as the primary means of publishing our research results. In contrast, the prevailing academic standard of “publish” is “publish in archival journals.”

    Trong ISI Web of Science thường chỉ các journal articles được index và tính vào H-index. Các conference proceeding papers thường không được index trong ISI. Vì vậy dùng ISI để đánh giá một Tiến sỹ hay Giáo sư trong ngành Khoa học máy tính là không công bằng.
    Muốn đánh giá chính xác một researcher trong ngành CSE, cần phải dựa vào DBLP (Digital Bibliography & Library Project, xem thêm thông tin ở Wikipedia) ể lấy danh sách các bài báo (kể cả bài hội thảo).
    Sau đó cần dùng các danh sách xếp hạng hội thảo để đánh giá, chỉ cần search “computer science conference ranking” trên Google sẽ ra rất nhiều trang cho phép xếp hạng các hội thảo, ví dụ :
    http://perso.crans.org/~genest/conf.html (có chấm điểm từ 0.0 đến 1.0, hội thảo được điểm từ 0.9 trở lên sẽ rất khó).
    http://www.cs.wm.edu/~srgian/tier-conf-final2007.html (có chấm điểm theo hạng A, B, C và L, tức là hạng thấp).
    http://core.edu.au/index.php/categories/conference%20rankings (trang Web chính thức của CORE).
    http://academic.research.microsoft.com/RankList?entitytype=3&topDomainID=2&subDomainID=0&last=0&start=1&end=100 (xếp hạng của Microsoft).

    Nên xem một bài báo khoa học ở các hội thảo xếp hạng từ C trở lên (trong Computing Research and Education Association of Australasia – CORE, xem ở trên) trong ngành CSE tương đương với một journal article được index trong ISI.
    Vì vậy, tôi đề nghị nên sửa tiêu chuẩn GS Dỏm cho một researcher trong lĩnh vực khoa học máy tính và CNTT (CSE) như sau :

    Tiêu chuẩn cho một:

    – (Phó) giáo sư có năng lực nghiên cứu Khoa học máy tính rất dỏm: số lượng công bố CORE C trở lên = 0.

    – (Phó) giáo sư có năng lực nghiên cứu Khoa học máy tính dỏm: số lượng công bố CORE C trở lên <= (3) 5.

    – (Phó) giáo sư có năng lực nghiên cứu Khoa học máy tính kém: số lượng công bố CORE C trở lên <= (5) 7.

    – (Phó) giáo sư có năng lực nghiên cứu Khoa học máy tính yếu: số lượng công bố CORE C trở lên <= (7) 9.

    Trong đó "CORE C trở lên" có nghĩa là CORE A, B, C và được list ở đây :
    http://www.cs.wm.edu/~srgian/tier-conf-final2007.html
    hoặc đây : http://core.edu.au/cms/images/downloads/conference/08sortrankacronymERA2010_conference_list.pdf
    (hàng năm đều có xếp hạng, được đăng ở đây : http://core.edu.au/index.php/categories/conference%20rankings/1 )

    Để lấy danh sách (gần như) tất cả các bài báo của một người làm trong ngành Khoa học máy tính, chỉ cần search tên người đó cộng với cụm "DBLP" trên Google, ví dụ :
    Ho Tu Bao DBLP
    sẽ cho ra :
    http://www.informatik.uni-trier.de/~ley/db/indices/a-tree/h/Ho:Tu_Bao.html
    là danh sách các công trình của GS Hồ Tú Bảo, đối chiếu vào với danh sách CORE sẽ thấy GS Hồ Tú Bảo có rất nhiều bài rank 1 ví dụ như năm 2011 có IJCAI, năm 2005 có KDD, … Vì vậy có thể kết luận GS Hồ Tú Bảo có thành tích nghiên cứu tốt.
    Như vậy để đánh giá chính xác một người làm trong ngành CSE, hoàn toàn không cần đăng ký account để truy cập ISI Web of Science!. Ngược lại, dùng ISI Web of Science để đánh giá có thể dẫn đến kết quả không chính xác.

    • Minh Tri said

      Tôi không đồng ý với bác bời đề xuất này vì:
      1. Khoa học máy tính và các lĩnh vực liên quan đến máy tính và CNTT hay các ngành khác cũng vậy thôi, các bài ISI mới thể hiện là một nghiên cứu hoàn chỉnh. Không như mấy bài hội nghị chỉ dăm ba trang, vài ba cái mô phỏng, thực nghiệm, vv… rồi lên báo cáo. Nhiều khi kết quả sai (ngoài dự kiến của tác giả) mà cũng không phát hiện ra. Hơn nữa, bây giờ hội nghị nhiều vô kể, tôi có cảm tưởng đây là sân chơi cho các bác đi du lịch thăm thú bạn bè vv…

      2. Ý kiến của bác dự vào ý kiến của Michael Ernst. Theo tôi đây chỉ nên coi là ý kiến của một cá nhân. Hội nghị có hội nghị khó, ISI cũng có tờ khó mà có người có lẽ cả đời mơ được đăng cũng không được. Thế nên chỉ nói khó hơn e rằng rất chủ quan.

      3. Bác phê phán ISI vì được index và tính vào H-index, trong khi conference thì không. Cái này tại sao bác không hỏi ngược lại, tại sao lại thế? Nên nhớ “hữu xạ tự nhiên hương”, không phải tự dưng người ta nói đến cái chẳng ra gì, cái không tốt bác ạ.

      4. Bác còn nói nên dựa vào DBLP và http://academic.research.microsoft.com. Cả 2 cái này đều có vấn đề! Cái đầu tôi không biết họ dựa vào tiêu chí gì để liệt kê publications lên đây. Nhiều hội nghị phải nói là rất lởm khởm cũng có ở đây, trong đó nhiều ISI tốt lại không được. Còn http://academic.research.microsoft.com thì mới nên thiếu và liệt kê sai thảm hại, nhiều khi râu ông nọ cắm cằm bà kia. Thêm nữa, ISI bác muốn tra cứu phải trả tiền, chính vì “no free lunch” nên nó tốt, nó chính xác, mà gần như bác không bao giờ phát hiện thấy có sai sót nào về tra cứu nào cả, trong khi các đồ free kia thì sai be bét.

      Tôi hy vọng ý kiến của bác là ý kiến thực tâm đóng góp cho JIPV chứ không định lobby xoá dỏm cho một số bác có nhiều bài hội nghị. Vì thực tế tôi đã biết rất nhiều vị “trộn” hết các bài hội nghị và journals lên cho … nhiều, làm cho nhiều người không biết hoa mắt, chóng mặt tưởng là đỉnh, hàng đầu, dẫn đầu ngành!

      • KKL said

        (Nhờ quản trị xóa bản trước, vì có một số lỗi chính tả đọc khó hiểu)
        Hello, một số ý kiến:
        1). Theo tiêu chuẩn của JIPV thì JIPV không xem ISI là thông tin đầu tiên để xét dỏm => Có vẻ mâu thuẫn vì:
        -Xét 1.1: “Là main authors của bài ISI thuộc top 10 trong chuyên ngành hẹp” => cái này không là “thông tin ISI” sao?
        – Xét 1.2: “Có những kết quả (không phân biệt: articles, proceedings, technical reports,…) có tiếng vang trong chuyên ngành, thể hiện trên wiki tiếng anh, chỉ số trích dẫn, đánh giá tích cực của các chuyên gia trên thế giới” => nếu có một bài như thế thì dường như chắc chắn bài đó cũng sẽ được accepted trong một cái journal ISI nào đó nếu tác giả submit chúng (ví dụ chọn đại một cái journal chuyên ngành có IF = 0.000000000000000000000001 thì cũng đã có mác ISI).
        – Xét 1.3: “Đối với KHXH, là main author của ít nhất 01 ISI paper ghi địa chỉ Việt Nam” => cái này cũng phông khải là dựa trên ISI sao?
        2). Xem xét thông tin của IJPV trong mục “Tiêu chuẩn”:
        “…Tham khảo: tiêu chuẩn một luận án tiến sĩ chất lượng (một tiến sĩ khá có ít nhất 3 bài ISI sau 5 năm nghiên cứu, sau khi bảo vệ luận án), tiêu chuẩn của một sau tiến sĩ chất lượng (một sau tiến sĩ khá có ít nhất 5 bài ISI sau 7 năm nghiên cứu, sau khi bảo vệ luận án)…”
        Với đoạn thông tin trên, IJPV muốn mọi người tham khảo thông tin về một (sau) tiến sỹ có chất lượng. Tuy nhiên, một người có thể hỏi lại IJPV là IJPV “tham khảo” thông tin đó ở đâu? Đó là tiêu chuẩn của một (sau) tiến sỹ có chất lượng tầm thế giới hay tầm khu vực hay tầm Việt Nam? IJPV có thể cung cấp bằng chứng cho thấy số lượng ISI trung bình của một (sau) tiến sỹ trên thế giới? Và nếu đó là tiêu chuẩn của một (sau) tiến sỹ tầm thế giới, thì quan điểm sau của IJPV là mâu thuẩn:
        “[*] Hỏi: Có phải JIPV dùng tiêu chuẩn quốc tế để đánh giá GS, PGS Việt Nam hay không?
        Trả lời: Không phải. JIPV dựa vào hoàn cảnh ở Việt Nam và yêu cầu khoa học của một tiến sĩ, sau tiến sĩ có chất lượng. Vui lòng xem tiêu chuẩn

        3). Bác Minh Trí nói: “1. Khoa học máy tính và các lĩnh vực liên quan đến máy tính và CNTT hay các ngành khác cũng vậy thôi, các bài ISI mới thể hiện là một nghiên cứu hoàn chỉnh. Không như mấy bài hội nghị chỉ dăm ba trang, vài ba cái mô phỏng, thực nghiệm, vv… rồi lên báo cáo…” => Không phải các bài ISI mới thể hiện là một nghiên cứu hoàn chỉnh. Một nghiên cứu có thể đăng vài bài đến vài chục bài ISI trong đó mỗi bài ISI có thể là giải quyết một vấn đề nhỏ hoặc là một cải tiến của một vấn đề trước đó. Ngược lại, không phải các bài conf là những nghiên cứu dở dang. Các bài conf cũng phải trải qua peer-reviewed, cũng phải có những luận điểm khoa học rõ ràng và có giá trị, được validated qua các thử nghiệm với kết quả khả quan thì mới được đưa vào báo cáo ở hội nghị. Điều này đặc biệt đúng với những conf có tỉ lệ accept thấp (10-20%). Hơn nữa, những bài tốt nhất của những hội nghị đó thường được selected để publish ở những ISI jounals. Cái conf mà bác nói đến có lẽ chỉ thấy ở các địa phương Việt Nam, nơi mà người báo cáo lấy tiền của nhà nước để đi du lịch.
        4). Bác Minh Trí nói “2. Ý kiến của bác dự vào ý kiến của Michael Ernst. Theo tôi đây chỉ nên coi là ý kiến của một cá nhân. Hội nghị có hội nghị khó, ISI cũng có tờ khó mà có người có lẽ cả đời mơ được đăng cũng không được. Thế nên chỉ nói khó hơn e rằng rất chủ quan.” => chính bác cũng dùng từ mập mờ “khó” để diễn tả quan điểm “ISI cũng có tờ khó mà có người có lẽ cả đời mơ được đăng cũng không được” => điều đó có nghĩa là cũng có những ISI “dễ” mà mọi người không thèm gửi bài. Sở dĩ các journal ISI có thể phân loại thành các cấp độ dễ-khó một cách minh bạch chính là nhờ vào chỉ số Impact Factor. Tuy nhiên, các hội thảo cũng được phân loại một cách tường minh mức độ “khó-dễ” đấy, tất nhiên dựa vào nhiều yếu tố khác cái gọi là IF.
        5). Tôi ủng hộ quan điểm cần dựa vào một chuẩn nào đó để đánh giá nghiêm túc hoạt động NCKH của mọi người. Và ISI papers dựa trên Impact Factor là một tiêu chuẩn tốt. Tuy nhiên, để làm tốt hơn nữa, tôi có một số ý kiến như sau :
        + IJPV coi trọng và tôn vinh những nhà khoa học thực sự, tẩy chay sự dối trá trong khoa học. Tuy nhiên, các tiêu chí của IJPV vẫn bỏ sót nhiều kẻ hở trong việc phát hiện và tôn vinh đúng các nhà khoa học thực sự. Ví dụ, IJPV đang đánh đồng một phó giáo sư dởm có tên xuất hiện cuối trong 3 bài ISI với IF 2.0. Theo « thuyền thống» của Việt Nam, nếu các thành viên trong một nhóm nghiên cứu nào đó có mối quan hệ thân thiết với nhau thì một người có bài ISI cũng sẽ đưa tên những người khác vào paper của mình để ủng hộ nhau mặc dù người được đưa tên có thể chả liên quan và thậm chí chẳng hiểu gì về nghiên cứu đó. Vì vậy, nếu chỉ đếm xem một người nào đó có tên trong một bài ISI nào đó hay không thì không thể đánh giá chính xác hoạt động NCKH của người đó. Hơn nữa, IJPV xem xét các bài ISI mà không quan tâm đến tầm quan trọng của paper ISI đó (chính là chỉ số Impact factor). IJPV đang đánh đồng một paper ISI có chỉ số cao với một ISI paper có chỉ số rất thấp và đang đánh đồng công sức của mọi tác giả trong cùng một paper (có người làm việc thực sự, ví dụ main authors, nhưng cũng có người chẳng làm gì, ví dụ người xuất hiện cuối).
        + Theo tôi, IJPV cần đưa chỉ số IF vào tiêu chuẩn đánh giá và vai trò của các main authors cũng cần được đánh giá khác với các non-main authors. Một số giải pháp: Giả sử một ISI paper có IF = x, và có M main authors và N non-main authors.
        Solution 1). Các main authors chiếm M/(M+1) công sức của một paper, giá trị IF còn lại (1/(M+1)) chia đều cho các non-main authors. Ví dụ, một ISI paper có IF = 1 và có 1 main author và 3 non-main authors thì main author nhận 0.5 “giá trị IF”, các non-main authors còn lại nhận 0.1667 “giá trị IF”.
        Solution 2). Các main authors đóng góp gấp đôi công sức so với các non-main authors. Gọi y là “giá trị đóng góp” của một non-main author => N*y + M*2y = x => tính ra “giá trị đóng góp” dựa trên impact factor cho mỗi thành viên.

        Sau đó, phân loại các chức danh “dởm” cho một người dựa vào tổng giá trị tích lũy “impact factor” của người đó.
        + Các bài conf có chất lượng cao cũng cần được tính vào tiêu chí phân loại, tuy nhiên, khó để tổng hợp hai loại công trình: conf và ISI paper.

      • KKL said

        (Nhờ quản trị xóa bản trước, vì có một số lỗi chính tả đọc khó hiểu, có vẻ Editor Module lỗi vì đây là lần gửi lại thứ 3 vẫn thấy ko hiển thị chính xác như ý người gửi)
        Hello, một số ý kiến:
        1). Theo tiêu chuẩn của JIPV thì JIPV không xem ISI là thông tin đầu tiên để xét dỏm => Có vẻ mâu thuẫn vì:
        – Xét 1.1: “Là main authors của bài ISI thuộc top 10 trong chuyên ngành hẹp” => cái này không là “thông tin ISI” sao?
        – Xét 1.2: “Có những kết quả (không phân biệt: articles, proceedings, technical reports,…) có tiếng vang trong chuyên ngành, thể hiện trên wiki tiếng anh, chỉ số trích dẫn, đánh giá tích cực của các chuyên gia trên thế giới” => nếu có một bài như thế thì dường như chắc chắn bài đó cũng sẽ được accepted trong một cái journal ISI nào đó nếu tác giả submit chúng (ví dụ chọn đại một cái journal chuyên ngành có IF = 0.000000000000000000000001 thì cũng đã có mác ISI). Và “chỉ số trích dẫn “ là bao nhiêu là đủ thế ?
        – Xét 1.3: “Đối với KHXH, là main author của ít nhất 01 ISI paper ghi địa chỉ Việt Nam” => cái này cũng phông khải là dựa trên ISI sao?
        2). Xem xét thông tin của IJPV trong mục “Tiêu chuẩn”:
        “…Tham khảo: tiêu chuẩn một luận án tiến sĩ chất lượng (một tiến sĩ khá có ít nhất 3 bài ISI sau 5 năm nghiên cứu, sau khi bảo vệ luận án), tiêu chuẩn của một sau tiến sĩ chất lượng (một sau tiến sĩ khá có ít nhất 5 bài ISI sau 7 năm nghiên cứu, sau khi bảo vệ luận án)…”
        Với đoạn thông tin trên, IJPV muốn mọi người tham khảo thông tin về một (sau) tiến sỹ có chất lượng. Tuy nhiên, một người có thể hỏi lại IJPV là IJPV “tham khảo” thông tin đó ở đâu? Đó là tiêu chuẩn của một (sau) tiến sỹ có chất lượng tầm thế giới hay tầm khu vực hay tầm Việt Nam? IJPV có thể cung cấp bằng chứng cho thấy số lượng ISI trung bình của một (sau) tiến sỹ trên thế giới? Và nếu đó là tiêu chuẩn của một (sau) tiến sỹ tầm thế giới, thì quan điểm sau của IJPV là mâu thuẩn:
        “[*] Hỏi: Có phải JIPV dùng tiêu chuẩn quốc tế để đánh giá GS, PGS Việt Nam hay không?
        Trả lời: Không phải. JIPV dựa vào hoàn cảnh ở Việt Nam và yêu cầu khoa học của một tiến sĩ, sau tiến sĩ có chất lượng. Vui lòng xem tiêu chuẩn

        3). Bác Minh Trí nói: “1. Khoa học máy tính và các lĩnh vực liên quan đến máy tính và CNTT hay các ngành khác cũng vậy thôi, các bài ISI mới thể hiện là một nghiên cứu hoàn chỉnh. Không như mấy bài hội nghị chỉ dăm ba trang, vài ba cái mô phỏng, thực nghiệm, vv… rồi lên báo cáo…” => Không phải các bài ISI mới thể hiện là một nghiên cứu hoàn chỉnh. Một nghiên cứu có thể đăng vài bài đến vài chục bài ISI trong đó mỗi bài ISI có thể là giải quyết một vấn đề nhỏ hoặc là một cải tiến của một vấn đề trước đó. Ngược lại, không phải các bài conf là những nghiên cứu dở dang. Các bài conf cũng phải trải qua peer-reviewed, cũng phải có những luận điểm khoa học rõ ràng và có giá trị, được validated qua các thử nghiệm với kết quả khả quan thì mới được đưa vào báo cáo ở hội nghị. Điều này đặc biệt đúng với những conf có tỉ lệ accept thấp (10-20%). Hơn nữa, những bài tốt nhất của những hội nghị đó thường được selected để publish ở những ISI jounals. Cái conf mà bác nói đến có lẽ chỉ thấy ở các địa phương Việt Nam, nơi mà người báo cáo lấy tiền của nhà nước để đi du lịch.
        4). Bác Minh Trí nói “2. Ý kiến của bác dự vào ý kiến của Michael Ernst. Theo tôi đây chỉ nên coi là ý kiến của một cá nhân. Hội nghị có hội nghị khó, ISI cũng có tờ khó mà có người có lẽ cả đời mơ được đăng cũng không được. Thế nên chỉ nói khó hơn e rằng rất chủ quan.” => chính bác cũng dùng từ mập mờ “khó” để diễn tả quan điểm “ISI cũng có tờ khó mà có người có lẽ cả đời mơ được đăng cũng không được” => điều đó có nghĩa là cũng có những ISI “dễ” mà mọi người không thèm gửi bài. Sở dĩ các journal ISI có thể phân loại thành các cấp độ dễ-khó một cách minh bạch chính là nhờ vào chỉ số Impact Factor. Tuy nhiên, các hội thảo cũng được phân loại một cách tường minh mức độ “khó-dễ” đấy, tất nhiên dựa vào nhiều yếu tố khác cái gọi là IF.
        5). Tôi ủng hộ quan điểm cần dựa vào một chuẩn nào đó để đánh giá nghiêm túc hoạt động NCKH của mọi người. Và ISI papers dựa trên Impact Factor là một tiêu chuẩn tốt. Tuy nhiên, để làm tốt hơn nữa, tôi có một số ý kiến như sau :
        + IJPV coi trọng và tôn vinh những nhà khoa học thực sự, tẩy chay sự dối trá trong khoa học. Tuy nhiên, các tiêu chí của IJPV vẫn bỏ sót nhiều kẻ hở trong việc phát hiện và tôn vinh đúng các nhà khoa học thực sự. Ví dụ, IJPV đang đánh đồng một phó giáo sư dởm có tên xuất hiện cuối trong 3 bài ISI với IF 2.0. Theo “thuyền thống“ của Việt Nam, nếu các thành viên trong một nhóm nghiên cứu nào đó có mối quan hệ thân thiết với nhau thì một người có bài ISI cũng sẽ đưa tên những người khác vào paper của mình để ủng hộ nhau mặc dù người được đưa tên có thể chả liên quan và thậm chí chẳng hiểu gì về nghiên cứu đó. Vì vậy, nếu chỉ đếm xem một người nào đó có tên trong một bài ISI nào đó hay không thì không thể đánh giá chính xác hoạt động NCKH của người đó. Hơn nữa, IJPV xem xét các bài ISI mà không quan tâm đến tầm quan trọng của paper ISI đó (chính là chỉ số Impact factor). IJPV đang đánh đồng một paper ISI có chỉ số cao với một ISI paper có chỉ số rất thấp và đang đánh đồng công sức của mọi tác giả trong cùng một paper (có người làm việc thực sự, ví dụ main authors, nhưng cũng có người chẳng làm gì, ví dụ người xuất hiện cuối).
        + Theo tôi, IJPV cần đưa chỉ số IF vào tiêu chuẩn đánh giá và vai trò của các main authors cũng cần được đánh giá khác với các non-main authors. Một số giải pháp: Giả sử một ISI paper có IF = x, và có M main authors và N non-main authors.
        Solution 1). Các main authors chiếm M/(M+1) công sức của một paper, giá trị IF còn lại (1/(M+1)) chia đều cho các non-main authors. Ví dụ, một ISI paper có IF = 1 và có 1 main author và 3 non-main authors thì main author nhận 0.5 “giá trị IF”, các non-main authors còn lại nhận 0.1667 “giá trị IF”.
        Solution 2). Các main authors đóng góp gấp đôi công sức so với các non-main authors. Gọi y là “giá trị đóng góp” của một non-main author => N*y + M*2y = x => tính ra “giá trị đóng góp” dựa trên impact factor cho mỗi thành viên.
        Sau đó, phân loại các chức danh “dởm” cho một người dựa vào tổng giá trị tích lũy “impact factor” của người đó.
        + Các bài conf có chất lượng cao cũng cần được tính vào tiêu chí phân loại, tuy nhiên, khó để tổng hợp hai loại công trình: conf và ISI paper.

        • Minh Tri said

          Trước hết, tôi phê bình bác KKL đã đánh lái chủ đề tranh luận vào ngõ cụt hoặc ra đại dương, kết quả sẽ hoà cả làng. Dăm bữa nữa bác xuất hiện với một nick khác và thắc mắc với câu hỏi tương tự. Nhưng thôi, chiều bác tôi xin trả lời vắn tắt.

          1&2. Đã được nhắc đến ở đây: https://giaosudom.wordpress.com/2010/08/10/gs-d%E1%BB%8Fm-c%E1%BA%A5p-2-nguy%E1%BB%85n-van-m%E1%BA%ADu-nguyen-hi%E1%BB%87u-tr%C6%B0%E1%BB%9Fng-dhkhtn-ha-n%E1%BB%99i-nha-toan-h%E1%BB%8Dc-d%E1%BA%A7u-nganh-pho-ch%E1%BB%A7-t%E1%BB%8Bch-h/

          3. Tôi không nói conf. là những nghiên cứu dở dang. Điều tôi nhấn mạnh ở đây là sự công phu của một ISI. Cái này bác dễ dàng nhận thấy để có được một acceptance ISI bác phải chờ review tối thiểu 4-6 tháng, trong đó conf thông thường là ngắn hơn dứt nhiều. Tôi chẳng biết thế nào nhưng thực tế rõ ràng tôi thấy rất nhiều bác bao giờ cũng “thử” conf. trước, sau đó nếu khả quan thì phát triển tiếp thành ISI. Điều này nói lên 2 điểm: a) Viêc đếm conf. 1 lần nữa như bác VNS proposed là thừa, chắc chắn những nghiên cứu tốt đã có công bố ISI. Ngược lại nghiên cứu dở có thể có conf. mà không có ISI. b) ISI vẫn là đích cuối cùng mà mọi người muốn vươn tới (tôi rất ít thấy original research chỉ có conf. mà không có ISI đấy!)

          4. Bác chưa đọc kỹ comment của tôi mà đã phê tôi dùng tờ “khó” mập mờ. Bác VNS bảu rằng thì là mà: “Trong ngành CSE, các hội thảo đỉnh cao thường khó hơn là các journal đỉnh cao” . Chính vì thế tôi mới bảu rằng phát biểu này là chủ quan!

          5. Tôi thấy các trí thức của ta cứ lập lờ giữa dòng, nói thật đấy. Nếu bác chọn ISI thì hãy theo ISI, còn không thì thôi, theo cái khác. Khi ISI chưa thoả mãn tối thiểu yêu cầu khu vực và thế giới, trung bình 7-8 GS/PGS/TS VN mới viết được 1 bài ISI/năm (cái này bác tự tìm nguồn nhé) thì việc lập lờ 2 tiêu chuẩn là rất mất thời gian và sức lực con người. Tôi mong rằng bác KKL và bác VNS không là những nhà quản lý giáo dục của VN thì tốt biết mấy (nói thật bác đừng giận nhé), chứ cứ lập lờ thế này thì 50 năm nữa chắc VN không thể survive bằng nghiên cứu mất.

          Cuối cùng, bác đưa ra model rất hay và công phu. Nhưng tôi e rằng các bác JIPV còn phải kiếm cơm nữa, nên chắc việc này để Đảng và Nhà Nước VN lo ạ.

          Cuối cùng chúc các bác đón năm mới âm lịch vui vẻ, mạnh khoẻ. Hy vọng năm tới JIPV không phải phong thêm bất kỳ GS/PGS dỏm nữa. Chào thân ái và hẹn gặp lại vào năm sau!

    • Tuan Ngoc@ said

      Khó tìm sơ hở trong ý kiến của bác Minh Tri.

    • Minh Tri said

      ôi trời ơi:

      Nên xem một bài báo khoa học ở các hội thảo xếp hạng từ C trở lên (trong Computing Research and Education Association of Australasia – CORE, xem ở trên) trong ngành CSE tương đương với một journal article được index trong ISI.

      và đây nữa:

      Tiêu chuẩn cho một:

      – (Phó) giáo sư có năng lực nghiên cứu Khoa học máy tính rất dỏm: số lượng công bố CORE C trở lên = 0.

      – (Phó) giáo sư có năng lực nghiên cứu Khoa học máy tính dỏm: số lượng công bố CORE C trở lên <= (3) 5.

      – (Phó) giáo sư có năng lực nghiên cứu Khoa học máy tính kém: số lượng công bố CORE C trở lên <= (5) 7.

      – (Phó) giáo sư có năng lực nghiên cứu Khoa học máy tính yếu: số lượng công bố CORE C trở lên <= (7) 9.

      Tôi xin nhấn mạnh với các bác ở đây là loại C so với ISI các bác nhé.

      Thử tưởng tượng ra đây không phải là tiêu chuẩn xét giáo sư dỏm mà xét giáo sư (không cần xuất sắc) thì tương lai con cháu chúng ta sẽ như thế nào? Đáp án của tôi là con cháu chúng ta sẽ đi hốt rác của các cụ GS/PGS đi trước để lại.

      Thử tưởng tượng nếu đây là chỉ tiêu xét NAFOSTED thì những đề tài có kết quả thế nào? Đáp án của tôi là rác!

      Các bác cứ tiếp tục tưởng tượng nhé …

  15. nonam said

    Minh Tri nên thận trong khi nhận xét về các conferences, đặc biệt là những conf. bên ngành CSE. Bản thân Thomson Reuters cũng đã bổ xung thêm phần CONFERENCE PROCEEDINGS CITATION INDEX. Một bài được accepted trong những conf. tử tế (ví dụ những conf. trong danh sách của Thomson) cũng là một công có thể nói là hoàn chỉnh chứ không phải là 3-5 trang linh tinh. Accepted rates của những hội nghị lớn bên CSE cũng chỉ ở mức 10 – 15%.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: